Trang thông tin liên lạc của cựu Giáo Sư và học sinh Trung Học Cường Để Qui Nhơn

Trang Facebook của cuongde.org

  • DaiThinhDuong1200
  • hinhCu 1200
  • CD4 1200
  • NhaGiuXe1200

Tài Liệu

Quy Nhơn nhìn từ trên cao, 1966

Dear Mr Williams,

Great thanks from all of us to you for your kind permission to use some of your photos of Qui Nhơn 1966 on our website.
They are great photos, all of them, specially dated back that far, taken from that high and in color!
We wish you all the best to your endeavor.

cuongde.org

Ông Thomas Williams, một cựu chiến binh của Mỹ, đã có nhã ý cho phép cuongde.org post lên mấy tấm không ảnh của Qui Nhơn do ông chụp hồi 1966. Tấm nào cũng đẹp, đặc biết là hình cũ, chụp từ trên cao mà lại màu mè nữa. Xin thành thật cám ơn Ông Williams và chúc Ông được vạn sự như ý trong công việc làm ăn.

Xin cám ơn bạn Khổng Xuân Hiền đã bỏ công scan, tải lên và chú thích.
Xin mời các bạn vô coi (xin bấm vô đây)

Về cuongde.org

Cuongde.org là trang web sinh hoạt văn nghệ của cựu học sinh Cường Để Qui Nhơn (tiền thân của trang web này là diễn đàn Tạp Ghi của anh em khóa 1967-1974 ở betac.com.au từ 2005 tới cuối năm 2008).

Phần lớn anh em học suốt bảy năm ở trường.
Một số chỉ học một hai năm hay vài ba tháng.
Một số anh em chỉ học có đệ thất và đệ lục rồi thi qua trường Trung Học Kỹ Thuật Qui Nhơn.
Một vài anh em phải xa trường bỏ dở chuyện học hành để đi lính.
Một số các bạn từ các trường quận lỵ khăn gói cơm gạo xuống trọ học từ năm lớp 10.
Một số bạn nữ từ Nữ Trung Học bước qua năm lớp 12,
cũng như một số bạn từ các trường tư như La San, Bồ Đề, Nhân Thảo.
Vân vân và vân vân.
Trang web này là cho tất cả các bạn,
để nhớ lại những Thầy và Cô kính yêu,
để hồi tưởng lại và chia xẻ những kỷ niệm vui buồn trong những năm tháng ở dưới mái trường thân yêu,
hay trên những dặm đường dài kể từ ngày xa trường, xa lớp.

Các bạn có thể gởi bài vở hay hình ảnh lên hoặc đóng góp ý kiến
(trong mục Diễn Đàn, hay phần bình luận ở cuối mỗi bài viết hay photo trong Gallery).
Thêm vào đó trang web cũng xin hân hạnh được đón tiếp các bạn cựu học sinh ở các trường khác,
từ Nữ Trung Học, Trinh Vương cho tới Sư Phạm, Kỷ Thuật, Lan San, Bồ Đề, Nhân Thảo, Vi Nhân...
Nếu các bạn muốn đóng góp ý kiến, bài vở hay hình ảnh thì xin liên lạc với This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it..
Xin thành thật cám ơn các bạn.

Cuongde.org
   

Về một thành phố tôi đã xa

LTS. Bài này là bài viết duy nhất về Quy Nhơn của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Bài viết cho báo của Hội Văn Nghệ Nghĩa Bình năm 1988 và đăng lại trên tuoitre.com.vn mới đây. Bài viết không dài, nhưng may mắn thay đã góp phần lý giải sự ra đời của những bài hát nổi tiếng nhất củaTrịnh Công Sơn như: Biển nhớ, Diễm xưa, Nhìn những mùa thu đi… Xin được đăng lại đây nhân kỉ niệm ngày giỗ của tác giả.

Gần ba mươi năm tôi chưa trở lại với Quy Nhơn. Cái ý niệm về thời gian bao giờ cũng gây cho tôi một nỗi buồn. Dạo ở đó tôi còn trẻ và tôi yêu biển vô cùng. Biển nhớ là bài hát tôi viết cho những đường phố Quy Nhơn. Những đường phố và biển và một người bạn gái hằng đêm cùng tôi ngồi nhìn biển. Điều ấy bây giờ đã trở thành quá khứ nhưng trong tôi Quy Nhơn vẫn còn rõ như một tấm gương. Một tấm gương mà tôi có thể nhìn thấy tôi trong ấy.

Xem tiếp...

Album đặc biệt

Hình ảnh của Thầy và Cô Họp mặt Cường Để & NTH, Houston 2007 Họp mặt Cường Để & NTH 2009
Hình ảnh của Thầy và Cô Họp mặt CĐ & NTH 2007 Họp mặt CĐ & NTH 2009


Trường Cường Để Qui Nhơn Bình Định ngày nay
Trường Cường Để Qui Nhơn từ trên cao, 1966 Bình Định ngày nay
Đêm văn nghệ cứu trợ bão lụt 5/11/2009 Cứu trợ bão lụt miền Trung 08.11.2009 Họp mặt CĐ & NTH Qui Nhơn ở quán Thu Sa, đêm 13/11/2009 Cứu trợ Trường tiểu học Diêu Trì 2, sáng ngày 14.11.2009
Đêm văn nghệ cứu trợ bão lụt 5/11/2009 Cứu trợ bão lụt miền Trung 08.11.2009 Họp mặt CĐ & NTH Qui Nhơn, đêm 13/11/2009 Cứu trợ Trường tiểu học Diêu Trì 2, 14.11.2009

100 Bài Mới Nhứt

100 Bài Được Đọc Nhiều Nhứt Trong 365 Ngày Qua

Kubik-Rubik Joomla! Extensions

Lãm tước vĩ (kéo đuôi chim)

Lý thức

Tư thế trước đó

 

 

 

 

 

 

 

Động tác thứ nhất: Trọng tâm từ từ đi qua chân trái, thân thể đồng thời từ từ chuyển qua bên trái; đồng thời cánh tay trái "ngoại tuyền", cánh tay phải "nội tuyền", làm cho lòng bàn tay phải xoay xuống dưới, bàn tay trái xoay lên trên, hai bàn tay vừa xoay vừa kéo qua bên trái

 

 

 

 

 

 

Động tác thứ hai: Thân thể tiếp tục hơi chuyển qua bên trái; trọng tâm kế tiếp đi qua chân trái, chân trái "tọa thực" (chìm xuống), thành "hữu hư bộ"; hai cánh tay hơi chìm cùi chỏ xuống, theo thân thể tiếp tục kéo qua bên trái, bàn tay trái đi đến trước ngực bên trái, bàn tay phải đi đến trước ngực bên phải; lúc mới đầu kéo, nhãn thần trước tiên thoáng tới tay phải kéo qua trái, đến lúc kéo hết tận đầu rồi, nhãn thần hơi nhìn qua tay trái rồi từ từ hướng về phía trước

 

 

 

 

Yếu điểm:

1. Hai cánh tay phải tùy theo eo mà kéo qua bên trái, lúc kéo hai bàn tay không được dang xa ở ngoài, nhưng hai bắp tay cũng không được sát dính vào với ngực; chìm cùi chỏ xuống có tác dụng phòng vệ ở nách, nhưng hai nách cũng phải để hở một khoảng trống chừng đầu nắm taỵ Nguyên cả bài quyền cũng phải như vậy, thì mới khỏi làm thân thể bị bó buộc

 

2. Lúc kéo qua bên trái, thân thể chuyển động cần phải thẳng đứng, không được bổ về trước hoặc ngửa về sau, hoặc là nghiêng qua nghiêng lạị Chủ ý là tại "thượng hạ tương tùy" (trên dưới đi với nhau), "bất tiên bất hậu" (không trước không sau). Nếu phần phía dưới chìm xuống nhanh một chút thì sẽ bị bổ về trước, nếu chậm thì sẽ bị ngửa về phía sau

 

3. Trong lúc đang kéo, bởi vì bàn tay xoay, cùi chỏ chìm xuống, cùng với chân trái rún xuống, xem ra hai bàn tay có vẻ hơi kéo xuống dướị Thực ra, hai bàn tay không phải có ý kéo xuống. Trên điểm này, ở những lúc luyện tập "thôi thủ" (đẩy bằng tay) bốn chiêu bằng, lý, tê, án cũng quy định như vậy: trong đó chiêu "lý" cũng đồng dạng kéo qua bên trái hoặc bên phải, chứ không được kéo xuống dướị Do đó, nếu mà kéo xuống dưới bên trái hoặc bên phải, hoặc kéo xuống dưới, đều không phải chính xác, bởi không phù hợp với quy tắc của "thôi thủ"

 

4. Lúc kéo, cánh tay trái thì tung tung đở lấy, trong lúc kéo, hai bàn tay cần bảo trì khoảng cách như trong thôi thủ, đó cũng là cần dùng một bàn tay chạm lấy cổ tay đối phương, bàn tay kia chạm vào gần cùi chỏ phía trên bắp tay của đối phương, mà kéo qua, làm cho thế "lý" lúc biến hóa khoảng cách tương đẳng, không được kéo xa, đấy gọi là "thượng vu lưỡng bác tương hệ" (phía trên thì hai bắp tay đi với nhau)

 

Lãm tước vĩ (kéo đuôi chim)

Tả Hữu Bằng thế

Tư thế trước đó

 

 

 

 

 

 

 

Động tác thứ nhất: Mủi chân phải xoay qua bên phải 45 độ, thân thể đồng thời chuyển qua bên phải 45 độ; Tùy theo chuyển thể, trọng tâm từ từ di qua chân phải, chân phải cong đầu gối lại hơi hạ mình xuống; chân trái nhấc lên hướng mắt cá của chân phải đi qua, đồng thời, bàn tay phải tùy theo thân chuyển đi xuống tới trước bụng rồi đi lên, tại trước ngực bên phải chuyển một vòng nhỏ qua bên phải, vào trong, qua bên trái, lòng bàn tay hướng xuống dưới; bàn tay trái cũng đồng thời đi qua trước bụng qua bên phải làm một vòng cung tới phía dưới của bàn tay phải, vừa đi vừa theo tay "chuyển ra ngoài", làm cho lòng bàn tay hướng về phía trên mé phải; hai lòng bàn tay tương đối nhau như ôm trái banh, cùi chỏ bên phải hơi chìm, thấp hơn cổ tay một chút, hai cánh tay thành hình cung. Mắt tùy theo thân thể chuyển động mà đi theo, nhãn thần hơi nhìn đến chỗ tay phải sẽ đi đến, và cũng cần nhìn tới tay phải

 

 

Động tác thứ hai: Chân phải tiếp tục từ từ hạ xuống, chân trái bước tới trước bên trái một bước, gót chân đụng mặt đất trước, tùy theo trọng tâm từ từ di chuyển qua chân trái mà toàn chân đạp xuống thực, mủi chân hướng về tây nam (dự bị thức, mặt hướng về nam), chân trái cong, chân phải duổi, thành "tả cung bộ".
Đương lúc chân trái bước tới trước, thân thể hơi chuyển qua bên trái, đương lúc gót chân trái chạm đất, thân thể từ từ quay qua bên phảị Đồng thời, cùi chỏ trái hơi co lại, dùng cánh tay trái kéo thành hình cung về bên trái đi lên đở, bàn tay trái ngang với vai, cổ tay hơi cong vào trong, lòng bàn tay hướng về bên phải phía trên; Bàn tay phải vẻ một hình cung về phía trước bẻ xuống tới ngang hông, lòng bàn tay hướng xuống dưới, ngón tay hướng về trước, và "tọa uyển", đốt ngón tay hơi bật lên trên. Mắt nhìn ngang về phía trước, nhãn thần cần phải để ý đến hai bàn tay chia ra hai bên. Động tác thứ nhất và thứ hai là tả bằng (đở bên trái), động tác thứ ba và thứ tư là hữu bằng (đở bên phải)

 

Động tác thứ ba: Trọng tâm từ từ toàn bộ chuyển qua chân trái, thân thể hơi chuyển qua trái, chân phải nhấc lên theo hình cong đi qua mắt cá chân trái, tùy theo thân chuyển, cùi chỏ bên trái héo lui về bên trái phía sau, tự nhiên đem theo bàn tay trái xuống tới trước ngực bên trái, vừa đi xuống cánh tay vừa xoay vào (nội tuyền) làm lòng bàn tay hướng về bên phải phía dưới; tay phải đồng thời vẻ hình cong về bên trái trước bụng, vừa đi cánh tay xoay ra (ngoại tuyền) làm lòng bàn tay hướng về phía bên trái phía trên, cùng tay trái làm thành hình ôm trái banh, hai tay hiện hình cong, nhãn thần thoáng qua tay trái đi xuống rồi từ từ nhìn qua tay phải, mắt nhìn ngang về phía trước

 

 

 

Động tác thứ tư: Chân phải bước về trước bên phải (hướng tây), gót chân chạm đất trước, tùy theo trọng tâm từ từ đi qua chân phải mà toàn bộ đạp thực xuống, cong chân phải, duổi chân trái, thành hữu cung bộ; Đồng thời, thân thể hơi chuyển về bên phảị Tùy theo thân chuyển, tay phải hướng về bên phải đở lên, bàn tay phải cao bằng vai, cùi chỏ thấp hơn bàn tay; bàn tay trái tùy theo tay phải đẩy ra về trước. Mắt nhìn ngang về phía trước, nhãn thần cần thoáng qua tay phải đở lên

 

 

 

 

Bản đồ chính diện của thế bằng

 

 

 

 

 

 

 

Chú Thích:

 

Những động tác trên, có nói về cánh tay xoay ra ("ngoại tuyền"), và xoay vào ("nội tuyền"), xin nói rõ ràng ở đây, về sau, sẽ không được giải thích nữạ

 

Cánh tay ngoại tuyền: nếu lấy lòng bàn tay hướng vào trong làm tỷ dụ, tức là xoay cánh tay làm cho ngón cái đi về mu bàn tay, làm cho lòng bàn tay hướng ra ngoài, cũng như là nói, làm xương "nhiêu" ly khai khỏi xương "xích", mà chuyển ra ngoài (từ hình bên cạnh sang hình dưới)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cánh tay nội tuyền: nếu lấy lòng bàn tay hướng ra ngoài làm tỷ dụ, tức là xoay cánh tay làm cho ngón cái đi về lòng bàn tay, làm cho lòng bàn tay hướng vào trong, cũng như là nói, làm xương "nhiêu" uốn vào với xương "xích", thành ra xoắn vào nhau (như từ hình bên cạnh sang hình trên)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Yếu điểm:

1. Lúc chuyển động thân thể phải dùng eo để làm trục, thân thể vẫn phải cần thẳng, những động tác của các chiêu sau đều như vậy cả

 

2. Động tác của thân, tay, chân đều cần nhẹ nhàng và chậm, tốc độ đều

 

3. Các động tác của thân, tay và chân tuy được diễn tả trước sau, nhưng phải cần bắt đầu và chấm dứt đồng thời, cần phải hiệp điệu nhất trí. Do đó mà "mười ba thế hành công tâm giải" có nói: "Thiết ký nhất động vô hữu bất động, nhất tĩnh vô hữu bất tĩnh" (Nhớ rõ là đã động là tất cả đều động, đã tĩnh à tất cả đều tĩnh)

 

4. "mười ba thế hành công tâm giải" yêu cầu "Tấn bộ như miêu hành" (bước như mèo đi). Do đó mà bước chân cần nhẹ nhàng. Tỷ như thế này, chân phải bước tới trước bên phải, cần phải dùng chân trái chìm hạ xuống vững vàng rồi chân phải mới hướng về phía trước duổi tới, mới không bị nặng nề. Đó chính là về bộ pháp biểu hiện sự "phân thanh hư thực" (phân biện rõ hư và thực)

 

5. Nếu là "cung bộ" thì đầu gối của chân cong không thể đi quá mủi chân; bàn chân của chân duổi phải hoàn toàn chạm mặt đất, chân cũng không được duổi thẳng hoàn toàn. Cung bộ, lấy chân cong làm thực, chân duổi làm hư; nhất thiết chân cong đảm nhiệm 7 phần trọng lượng, chân duổi ba phần. Đầu gối cùng mủi chân phải cùng một hướng.

 

6. Tay phải đở ra phải ngang bằng vai, không được cao hơn hay thấp hơn. Lúc đở xương vai không được đẩy ra trước, không thể đở ra trước quá, phải cần dùng thân thể phía trên di chuyển về phía trước, mà đầu gối chân phải cũng không được quá mủi chân, đồng thời thân thể không được chồm về trước

 

7. Lúc trọng tâm di chuyển về phía trước, chân, bụng, ngực, tay phải nhất trí không trước không sau tiến tới, tự nhiên "thượng hạ tương tùy" (trên dưới theo nhau), lúc biến chuyển động tác cũng cần duy trì "lập thân trung chính" (giữ thân hình thẳng)

 

Khởi thế

Tư thế trước đó

 

 

 

 

 

 

 

 

Động tác thứ nhất: Hai tay từ từ hướng về trước đưa lên bằng, cao tới hai vai, hai tay cách nhau bằng hai vai, lòng bàn tay hướng xuống dưới

 

 

 

 

 

 

Động tác thứ hai: Hai cùi chỏ chìm xuống, tự nhiên kéo theo hai bàn tay từ từ xuống dưới, đến ngang hông, ngón tay vẫn hướng về phía trước, lòng bàn tay vẫn hướng xuống dưới; mắt nhìn ngang về phía trước

 

 

 

 

 

 

 

Yếu điểm:

1. Lúc trước khi hai tay đưa lên, cần kiểm tra xem những yêu cầu của dựbị thức đã được thích hợp, sau đó mới làm thế nàỵ Lúc này, tư tưởng cần phải đi trước, tập trung vào mỗi động tác đưa lên, đấy chính là "tiên tại tâm, hậu tại thân" trong "mười ba thế hàng công tâm giải". Tỷ như, lúc đưa hai tay lên, cần phải có ý thức làm sao đưa lên, sau đó mới từ từ đưa lên; Dù là làm lại hoặc tập luyện rất thuần thục rồi, cũng phải như vậy mà làm, nếu không, động tác giữa trong và ngoài rất dễ bị tán loạn

 

2. Lúc tập Thái Cực quyền, từ Khởi thế đến Thu thế, mỗi động tác đều phải cần "trầm kiên đọa trửu (vai chìm xuống, cùi chỏ nặng xuống). Như trong chiêu này, lúc hai tay đi lên và hai bàn tay hạ xuống, hai vai không được nhô lên, khẩn trương hoặc dùng sức, tất phải tung khai và hạ trầm. Lúc hai tay đưa lên, hai cùi chỏ không được thẳng băng, mà phải có ý khúc hạ xuống. Lúc hai cùi chỏ chìm xuống kéo theo hai tay hạ xuống, "đọa trửu" cố nhiên là rõ ràng, mà đến lúc hai tay đã xuống đến trước hông, vẫn cần phải "đọa trửu". Tại điểm này, người mới học sẽ khó hiểu: cho rằng cùi chỏ đã hạ xuống đến phía dưới, chẳng làm sao mà còn "đọa" được cùi chỏ xuống phía dưới hai bàn taỵ Thực ra, lúc ở tư thế ấy (phía sau còn có những chiêu thuộc loại như vậy, như Lâu tất ảo bộ lúc tay phất qua đầu gối), phải lý giải "đọa trửu" là: cùi chỏ phải hơi cong lại, làm cho cánh tay hơi cong về phía trước. Như vậy, đầu cùi chỏ sẽ lộ ra, thẳng góc với mặt đất, như vậy cũng là dạt được yêu cầu "đọa trửu", còn nếu cánh tay cũng thẳng góc với mặt đất thì đã mất cái ý "đọa trửu" rồi

 

3. Cần làm đến chữ "tọa uyển" (tay ngồi). "Toạ Uyển" nghĩa là đem giữa bàn tay chìm xuống, đốt ngón tay hơi hơi rướng lên, nhưNg không được dùng sức bật lên, phải là tự nhiên, như vậy mới có thể đem "kình" thông tới bàn tay, ngón tay cũng có cảm giác tớị Làm được "tọa uyển" mới đạt đến "hình vu thủ chỉ" (hình đạt ra đến ngón tay)

 

4. Thái cực quyền từ khởi thế cho đến Thu thế, trong giữa những động tác, phải cần liên tiếp, không được ngưng đoạn, tốc độ phải đều, liên miên không ngừng, "nhất khí kha thành (một hơi là xong). Tỷ như, trong chiêu thức này, hai bàn tay lên cao tới vai rồi hạ xuống, giữa hai động tác lên xuống, không được có hiện tượng ngừng nghỉ, mà ngay cả tất cả các chiêu khác, làm xong mỗi động tác đến chỗ định điểm, vẫn phải làm sao cho được gọi là "tựa đình phi đình" (giống là ngừng mà không phải ngừng)

 

5. Luyện tập bài quyền, lúc dùng bàn tay, phải không được dùng sức trương ngón tay ra, cũng không được mở tung, cong lại, lòng bàn tay cần hiện vẻ hơi lõm vào

Đăng Nhập / Đăng Xuất