LTS : Trong chuyến nghỉ hè mấy năm trước, tôi và gia đình có dịp ghé đến Ban Mê Thuột, hiện nay thường được gọi là Daklak, một thành phố thủ phủ của cao nguyên miền trung Việt Nam ...Xin ghi lại vài dòng để kỷ niệm chuyến đi...

Nhắc đến cao nguyên thì người ta lại nghĩ ngay đến Đà Lạt, đến đồi, núi, thung lũng hoa vàng cùng hồ Xuân Hương thơ mộng ... chứ ít ai nói đến Ban Mê Thuột. Khi đến Ban Mê, tôi cũng chẳng hiểu tại sao nơi đây lại được đặt tên là "Buồn muôn thuở ", chẳng lẽ vì những con đường đất đỏ ngoằn ngòeo dẫn đến nhưng trang trại cao su bạt ngàn chạy dài im vắng ven đường, hay đơn giản chỉ là đọc trại ra từ chữ viết tắt BMT?
Cái không khí man mát dễ chịu thường có ở những khu vực nhiều cây xanh ôm bọc cả không gian thoáng đãng ... Thành phố được xây dựng, mở rộng với những con đường nhựa rộng rãi, nhưng không bon chen đan xen xe cộ lẫn nhau như Sài Gòn ... Đây đó, bên cạnh những con đường khang trang vẫn còn những di tích cũ xưa ......

Ở độ cao vào khoảng 536 m, thành phố Ban Mê Thuột được xem là một cao nguyên khá bằng phẳng, nơi tập trung đông dân nhất của tỉnh Đaklak. Đã đặt chân đến nơi đây, bạn sẽ không thể quên được ấn tượng về một xứ sở bạt ngàn đất đỏ và trắng khiết hoa cà phê. Người ta kể rằng thủ phủ của vùng đất cao nguyên ngày xưa được đặt tại bản Đôn. Vào Năm 1890, Bourgeois - một tên thực dân nổi tiếng nham hiểm, sau khi thu phục được Khumjunop, một tù trưởng, một vua săn voi nổi tiếng ở bản Đôn đã tiếp tục tìm mọi cách để mua chuộc tù trưởng Ama Y Thuột nhằm xây dựng một thủ phủ mới ở đây.

Bourgeois đã nhìn thấy tương lai của vùng đất rộng, bằng phẳng và rất màu mỡ này. Năm 1904, thực dân Pháp cho dời thủ phủ từ bản Đôn về Buôn Mê Thuột . Ngày 02-11-1904 toàn quyền Đông Dương thành lập tỉnh Đaklak, đặt tỉnh lỵ tại Buôn Mê Thuột , dưới sự bảo hộ của Khâm sứ Trung Kỳ. Các công sứ người Pháp, đặc biệt là Sabatier muốn duy trì việc biệt lập Tây Nguyên. Nhưng do nhu cầu thiết lập cơ sở chính trị, hành chính xã hội đòi hỏi sự có mặt của các công chức, vì thế bên cạnh người Pháp, người Ê-đê, người Kinh đã dần có mặt ngày càng đông, nhất là sau khi có Nghị định ngày 02-07-1923 của toàn quyền Đông Dương về việc thành lập tỉnh Đaklak.

Năm 1928, làng Lạc Giao - một làng người Kinh đầu tiên ở Buôn Mê Thuột được thành lập. Đây là cái mốc đánh dấu giai đoạn phát triển mới của Buôn Mê Thuột. Nhờ sự phát triển đó nên ngày 05.06.1930, Khâm sứ Trung Kỳ đã ra Nghị định thành lập thị xã Buôn Mê Thuột.
Buôn Mê Thuột vẫn còn giữ nét đặc trưng bởi những kiến trúc cổ, thường mô phỏng theo kiểu nhà dài của người Ê-đê như Biệt điện Đảo Đại, hay như Tòa Giám mục Buôn Mê Thuột với kiến trúc độc đáo, cũng theo kiểu nhà dài Ê-đê, vật liệu xây dựng hoàn toàn bằng gỗ và ngói vảy tạo nên phong cách độc đáo Tây Nguyên. Công trình cổ xưa còn lưu giữ được là chùa Khải Đoan (Sắc Tứ Khải Đoan Tự - là từ ghép của 2 tên Khải Định Đoan Huy) được xây dựng từ  thời Khải Định.

Loanh quanh trong thành phố yên tĩnh này, ta có thể mua sắm đầy đủ các tiện nghi như những thành phố lớn khác, nhưng muốn khám phá những nét hoang sơ, thiên nhiên hoang dã thì ta phải ra khỏi thành phố vài chục cây số ...

Tôi đến  bản Đôn trước tiên khi ra khỏi thành phố. Cái dáng dấp tiều tụy của căn nhà sàn trăm tuổi tương phản cái quán ăn tuềnh toàng qua sân đất trống phía trước. Khoảng sân khá rộng, nơi thường thấy tổ chức các buổi văn nghệ kỷ niệm lễ hội rồi chiếu trên TV. Bước vào quán ăn, các món đặc sản được trưng bày bằng hình ảnh lòe loẹt trên thực đơn.


Cơm lam là một món khá nổi tiếng ở đây. Bắt nguồn từ những chuyến đi rừng dài ngày của người đàn ông với túi gạo mang theo, dao quắm và đá đánh lửa cùng ống nứa sẵn có trong rừng, nay đã trở thành món đặc sản. Những ống nứa non thon nhỏ dài  như tấm mía ở chợ đã nướng sém lớp vỏ ngoài, được người làm cơm lam khéo léo róc đi lớp vỏ cật khét lửa, để lộ ra lớp vỏ giữa trắng trẻo thơm tho. Tước nhẹ từng dải như người bóc chuối chín lớp vỏ giữa đó, là đến phần lõi cơm. Lõi cơm được bao bọc bởi một lớp vỏ lụa mịn màng, mỏng manh, có màu trắng ngà - thứ vỏ lụa chỉ có trong ruột ống nứa non, khiến cho cơm lam có một nhan sắc rất đỗi thuần hậu mà ta muốn được nâng niu mãi. Một món ăn giản dị của núi rừng, gắn với những con suối, những nương lúa chín vàng, những vạt rừng tre nứa xanh ngát bên bếp lửa đơn sơ nhưng chất chứa nghệ thuật ẩm thực của mối giao tình với nước, lửa và những ống nứa cao nguyên...

Bày hàng chồng trước mặt quán ăn là những ché rượu cần. Đây là loại rượu không thể thiếu trong các lễ hội của người Ê-đê và là một tập tục lâu đời truyền qua nhiếu thế hệ người dân tộc Ê-đê , nên rượu cần Tây Nguyên còn được gọi là rượu cần Ê-đê. Cách thức nấu rượu cũng giống như của người Kinh.
Tôi còn nhớ, thuở mẹ tôi còn trẻ, cả nhà thường được uống rượu cẩm do chính tay mẹ tôi làm, ngoài quán nhậu gọi là rượu nếp than. Mẹ tôi dùng nếp cẩm nấu thành xôi, khi xôi chín hương thơm bay ngào ngạt lên tận nhà trên ! Xôi được trải đều rồi phơi trên nong, lúc nguội mẹ tôi trộn men rồi dùng khăn (đã giặt sạch phơi nắng khô ran trước đó) bọc chặt lại. Sau mấy ngày, hương rượu tỏa ra ngào ngạt, mẹ tôi vắt lấy nước cốt, lược lại bằng miếng bông gòn nút chặt trong cái phễu. Từng giọt rượu đỏ sánh rớt xuống chai thủy tinh, màu hổ phách đẹp tuyệt ! Mẹ tôi trịnh trọng mang chai rượu biếu hàng xóm có người mới sinh nở, ai cũng xuýt xoa cái món rượu thơm nồng nguyên chất này. Thông thường, mấy quán bán rượu pha thêm 50/50 rượu trắng vào để bán cho khách, nên mùi gắt và mau..xỉn !!

Ngoài cách ủ men, nấu xôi, nước cất ... bí quyết tạo nên nét đặc trưng là ... men rượu. Mỗi nơi làm men mỗi khác, nên rượu thường có nhiều hương vị khác nhau. Người dân tộc Tây Nguyên làm men rượu bằng củ riềng, rễ cam thảo và củ cây chít (một loại cây ở Tây Nguyên) rồi phơi khô. Đến khi khô rốc, đem giã nhuyễn thành bột rồi trộn với gạo. Rót một ít nước cho ướt rồi vo lại thành từng nắm tay, sau đó đem ủ kín cho đến khi ... lên men trắng.
Một số người dân tộc Tây Nguyên khác lại không dùng xôi cẩm mà dùng gạo rang, hoặc bắp, sắn ủ men với nhiều riềng nên khi thành rượu uống vào thường có vị chua và... dễ nhức đầu hơn !

Với rượu cần, khi nguyên liệu đã thành men, người ta trộn thêm trấu để sau này thọc cái cần vào ché rượu dễ hút hơn !
Xôi cẩm được cho vào ché, cứ một lớp nguyên liệu là một lớp trấu, sau đó lấy lá chuối khô bịt miệng ché lại. Ủ càng lâu, nồng độ rượu càng cao. Khi bạn hút rượu cần, thấy nước vàng sánh như mật, vị ngòn ngọt lẫn cay nồng là đã ...đạt.

Không phải chỉ hút bằng cần, người dân tộc Tây Nguyên còn dùng rượu bằng chén ! Mỗi dân tộc lại có nhiều kiểu chén khác nhau, người H' Mông thường dùng chén thấp, toàn thân đen bóng lộn. Người Ê-đê lại có nhiều kiểu chén, to nhỏ khác nhau, chỉ có chén Tuk và chén Tang thường có màu trắng, xanh là quý nhất.
Người dân tộc trong các lễ hội, thường ca hát, khua chiêng, trống rồi tụ lại nút rượu cần, khi sinh hoạt bình thường thì... cứ từng chén rượu mà cụng với nhau, chén càng to càng trọng vọng ...


Bước ra khỏi khu vực "nhà sàn trăm tuổi" ở bản Đôn, bên cạnh con đường nhựa độc nhất ở giữa, hai bên chỉ còn lèo tèo quán xá bên đường bán hàng lưu niệm. Hầu như 99% các kỷ vật đều làm từ người ... Kinh. Từ khúc thổ cẩm, hoa văn đầy màu sắc... dân tộc cũng do người Kinh làm và bỏ mối, các gùi lớn, nhỏ với  nước sơn còn bóng và màu nứa tươi rói chỏng chơ trước quán. Du khách xum xoe bên chiếc váy thổ cẩm, ngắm nghía các vòng đeo cổ, chuỗi hạt mà tôi chắc họ nghĩ rằng một vật kỷ niệm phải mua đúng nơi thăm quan mới có ý nghĩa. Và tôi thấy được một kỷ vật "made in bản Đôn chính hiệu": sợi lông voi ! Chẳng biết "cò mồi" nào tung ra câu chuyện, sợi lông voi của con voi bản Đôn có thể quét đi vận xui, tà ma của thân chủ ... hậu qủa là nhiều con voi buôn Đôn bị nhổ trộm lông, trơ trọi trông đến tội. Khi tôi hỏi, giá đến 50.000 đ/sợi !!

Cả nhà tôi leo lên cái bành voi làm bằng mây, đằng trước là người dân tộc làm quản tượng. Ngồi trên lưng voi cao khoảng hơn 2 m. Từng bước khập khiểng, voi lội xuống dòng sông Serepok... Dòng sông còn hoang sơ, đục ngầu màu phù sa xám xịt. Bên kia sông là Vườn quốc Gia Yok Don xanh um bao phủ. Bước chân voi dũng mãnh, làm tung tóe nước lên ướt cả người quản tượng, từng nhát roi chát chúa ngăn chú voi khi mải mê ghé ăn dọc bờ. Người quản tượng chỉ cho tôi thấy những bụi cây "lộc vừng" xanh um dọc đường đi. Trước đây, cây này là loại cây dại trên triền núi, bờ sông... Một nhà kinh doanh cây kiểng, thấy lá non mọc đều xanh um nho nhỏ, tùng chùm hạt lt ti màu xanh rủ xuống rất đẹp mắt  bèn đổi tên là "cây phát lộc ", "lộc vừng" ... nên giờ đây, cây này đã được ưa chuộng, có giá cao ở các căn biệt thự, quán xá Sài Gòn... mà người đi săn cây "lộc vừng" trên miệt tỉnh cũng đã nhiều ... Người quản tượng dân tộc rất thích... giới thiệu các loại cây, loại lá dọc đường đi . Ngồi trên cao, mỗi lần voi đi ngang qua một loài cây lạ, chàng ta lại níu cành hái một ít lá, hoa rồi giới thiệu dược tính, tên cây lạ hoắc... nghe xong là tôi quên bén luôn !

Khi lên bờ, chú voi chở chúng tôi đi ngang qua khu nhà mồ người dân tộc, lơ thơ trong nắng chiều, vẻ hoang vắng tiêu điều bên những tượng gỗ chơ vơ trước mộ làm tôi cũng cảm thây ghê ghê. Các hình nhân tai dài, mắt lớn với đôi tay khẳng khiu được thân nhân người chết đẽo thô sơ đặt trước mộ, lăn lóc các vật dụng xung quanh được phân cách bằng các cành cây đã trở nên khô mục ...Về lại điểm xuất phát, các chú voi được người quản tượng thưởng cho một chầu mía và chuối đã đời !

Cách "nhà sàn trăm tuổi" khoảng 300m là đến cầu mây treo bắt qua một nhánh sông nhỏ. Cầu hoàn toàn làm bằng mây, tre, nứa. Sau này được treo lên các cây cổ thụ bằng dây sắt. Qua ngã 3 cầu, một nhánh dẫn lên nhà hàng " nổi" cũng được tạo dựng bằng cây gỗ, với các món đặc sản địa phương. Một nhánh dẫn về lại bờ xuất phát, nhánh còn lại dẫn qua khu bờ sông Serepok hoang sơ ... Daklak có cảnh quan thiên nhiên, nhưng ở đây tôn tạo, thiết kế như thế nào để thu hút du khách, quả thực vấn đề vẫn còn bỏ ngỏ ...Tôi chẳng tìm thấy gì, ngoài những gì đã kể và một nhà hàng nhỏ bán thức ăn bên những chú voi nhỏ ... bốc mùi hôi nồng từ xa !


Về lại thành phố Ban Mê, đèn đường sáng rực, quán xá ồn ào thực khách. Các cửa hiệu bán buôn hàng điện máy, xe cộ bầy biện đầy ắp trong các giai điệu nhạc thịnh hành...Tuy vậy, thành phố Ban Mê vẫn còn nhiều không gian cây xanh, đường xá rộng rãi sạch sẽ. Sau khi vòng quanh vài con phố chính, gia đình tôi về lại Khách sạn Công Đoàn, thoáng mát và rộng rãi, ngủ vùi sau một ngày chu du cật lực ...

Buổi sáng ở Ban Mê Thuột khí trời mát lạnh, trên phố vẫn còn người đi tập thể dục. Tôi ghé vào một quán café. Thật không hỗ danh "Xứ café Ban Mê " , mùi hương thơm phức tỏa ra ngào ngạt khi những giọt đen đậm cafe sóng sánh rơi xuống ly-café Moka. Có lẽ ở đây, các quán café không dám pha hạt cau, bột gạo rang vào vì... giá café gốc ở đây rẻ, pha vào là ... mất khách ngay. Thêm vài ngày ở Daklak, tôi quyết định chọn dòng sông Serepok làm mục tiêu thăm thú ...

Serepok có lẽ là một trong những dòng sông hiếm hoi ở Việt Nam không đổ ra biển Đông - có lẽ do địa thế vùng trũng trên Tây nguyên, nên các sông này chảy về hướng ... Tây. Sông Dakbla ở Kon-tum cũng chảy ngược về phía Tây, Pleiku lại cao hơn Kon-tum. Ở đây, sông Serepok chảy ngược về phía Tây, đổ vào biển Hồ rồi hòa vào dòng sông Mêkong . Ban Mê Thuột đúng ra là thủ phủ của vùng cao nguyên Việt Nam, ở đây có những cánh rừng già bạt ngàn phủ kín những ngọn núi hoang sơ, bao trùm cả vườn Quốc Gia Yok Don, bên con sông Serepok cuồn cuộn ... Vùng thượng nguồn sông Serepok là nơi có các con thác thơ mộng mới được khai phá: thác Trinh Nữ và cụm 3 thác: Gia Long, Draynu và Draysap.

Một vài khách Tây mang ba lô cao quá đầu, theo hướng dẫn viên du lịch đi vào khu thác Draysap, giày bata cổ cao, vớ dày, mũ lưỡi trai ôm sát đầu, tóc quấn gọn ...trông họ "chuyên nghiệp" cách xa "trang bị " của gia đình tôi: hai đứa nhỏ tung tăng cầm hộp "cá viên chiên" và chai nước suối, tôi đội mủ vải, lưng đeo ba lô cỏn con có vài hộp cơm chiên, bánh ngọt... với vài chai nước ! Đây quả là một khu rừng thiên nhiên lý tưởng để thanh niên đi cắm trại ... Rừng già, đong đưa những sợi dây leo to bằng cườm tay lơ lửng từ trên cao sà xuống tận mặt đất. Không khí tĩnh mịch vang vọng tiếng vượn hú, chim kêu ...Thỉnh thoảng len lõi bên lạch nước, vài con rắn thản nhiên trường trên những cành cây, im lặng bên tiếng kêu chí chóe của vài chú khỉ trên cao...

Hai nhánh sông Krông Knô, Krông Ana mà người Ê-đê, M'nông gọi là sông Chồng và sông Vợ giao nhau và tạo ra thác Draysap. Len lõi qua những vạt rừng thưa, tôi qua cầu Krông Knô để đến thác Draysap. Từ xa đã nghe tiếng nước dội ì ầm xuống bãi đá, chui qua những khóm cây phủ kín con đường mòn cát mịn, cảnh thác nước hoang sơ hiên ngang hiện rõ trên nền rừng núi hoang dã. Nước mát lạnh, bên kia vũng, ai đó đặt vài cái đáy cá. Khung cảnh vắng lặng nên phải một lúc sau 2 con tôi mới mất đi vẻ sợ hãi ban đầu. Lúc này, đã sang  buổi chiều, một vài cặp khách Tây ba lô vội vã chụp vài tấm hình rồi ra về, cười ngạc nhiên khi thấy 2 đứa con tôi  giờ này còn thơ thẩn trong rừng ! Thác Draynu và Gia Long, Trinh Nữ  ở gần đầu nguồn, ở bên kia bờ nhánh sông, thấy thì tưởng gần,nhưng đến thì phải đi một quãng đường vòng khá xa. Hiện rõ ở những thác này là vực rất sâu, nước chảy mạnh quậy đỏ màu đỏ đất bazan, cuồn cuộn nước túng tóe lên cao... và khó xuống tiếp cận chân thác. Thác Gia Long,  đường xuống chân thác lởm chởm dốc đá giống như thác Phú Cường ở Phú Bổn - trên con đường máu lửa chôn vùi bao nhiêu xe cộ khi quân lính triệt thoái từ Pleiku xuống Phú yên năm 1975. Buổi chiều trong rừng già, bạn sẽ có một cảm giác nhỏ nhoi và hơi khiếp sợ trước khung cảnh bao la, im vắng nhưng hoang dã của thiên nhiên. Mất đi cái vị thế xung quanh là tiện nghi đời sống, là cộng đồng, là phương tiện giao tiếp tức thời, bạn có thể cảm thấy "mất đi cái tự tin quen thuộc thường ngày trong môi trường cố hữu", cũng là một cảm giác thú vị với tôi . . .

Thường khách theo tour đến Ban Mê sẽ được "thiết kế" đi thăm những địa điểm văn hóa trong thành phố như Bảo tàng Cách mạng, Bảo tàng Dân tộc, Đình Lạc Giao hoặc các buôn của đồng bào dân tộc Ê-đê  như (AKo D'hong, Kôsia), và dự lửa  trại, thưởng thức văn nghệ cồng chiêng và uống rượu cần với người dân ở đây. Sau đó nhà hàng sẽ đãi bạn cơm lam chấm muối vừng, canh lá giang nấu với cá lăng, gà nướng và thịt rừng ... Nhưng các bạn yên tâm, các món này các nhà hàng trong thành phố đều có sẵn, hãy dành thời gian thăm thú nhiều  hơn ..

Ra khỏi thành phố Ban Mê, tôi  đến thị trấn lạc Thiện. Hồ Lak ở dây. Vòng quanh bờ hồ, bạn sẽ thấy biệt thự của vua Bảo Đại, không quy mô, hoành tráng như ở Nha Trang, nhưng cũng đủ để bạn ao ước dừng chân nghỉ ngơi ở thị trấn bé nhỏ này. Cảnh hồ về chiều thật êm đềm, rực rỡ nắng vàng, lóng lánh trên mặt nước...

Chuyến đi của tôi còn tiếp tục đến Kontum, Pleiku ...nhưng có lẽ sẽ gặp lại trong một bài dọc đường gió bụi khác ....


Nguyễn Trí Mẫn