Trang thông tin liên lạc của cựu Giáo Sư và học sinh Trung Học Cường Để Qui Nhơn

Trang Facebook của cuongde.org

  • hinhCu 1200
  • NhaGiuXe1200
  • DaiThinhDuong1200
  • CD4 1200

Trích từ Ca Dao Nẻo Vào Lịch Sử
Phần I, Đoạn 2.

Năm 931 (Tân Mão), Dương Diên Nghệ người xã Dương Xá huyện Thiệu Hóa [nay là Thiệu Yên vì có Yên Định sáp nhập), tỉnh Thanh Hóa, khởi binh đánh đuổi quân Nam Hán. Từ ấy, nước ta độc lập suốt 476 năm, trải qua các triều Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Hồ; đánh dấu một thời đại tự chủ oai hùng (931- 1407).

I - NHÀ NGÔ (939 – 965)

Ngô Quyền (898- 944) người xã Đường Lâm, nay thuộc thành phố Sơn Tây tỉnh Hà Tây; được Dương Diên Nghệ cho làm nha tướng và gả con gái là Dương Thị Như Ngọc.

Tháng 4 năm 937 (tức tháng 3- Đinh Dậu), Dương Diên Nghệ bị bộ tướng Kiều Công Tiễn giết. Ngô Quyền đang làm Thứ sử Ái Châu (Thanh Hóa), đem quân ra hỏi tội. Kiều Công Tiễn cho sứ sang Nam Hán cầu cứu. Vua Hán là Lưu Cung (Liu Gong) muốn nhân cơ hội này chiếm lấy nước ta, bèn sai Thái tử Hoằng Tháo [1] đem binh thuyền đi trước, còn vua tự cầm quân đóng ở Hải Môn để tiếp ứng. Nghe tin chiến thuyền của giặc theo sông Bạch Đằng vào nước ta, Ngô Quyền sai quân đem cọc đầu bịt sắt nhọn đóng ngầm ở hai bên cửa sông. Thủy triều lên, quân ta dùng thuyền nhẹ khiêu chiến, rồi giả thua, dụ giặc đuổi theo. Khi cả binh thuyền của chúng tiến vào vùng có cắm cọc, quân ta đổ ra đánh rất hăng đúng lúc thủy triều rút nhanh, thuyền giặc vướng vào cọc, thủng vỡ lật úp. Ngô Quyền, trong thì giết được Kiều Công Tiễn, ngoài đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938 [2], Hoằng Tháo (Hong Cao) bị bắt sống và bị giết, ca dao đã tường thuật chiến công oanh liệt này:

Đánh giặc thì đánh giữa sông,
Chớ đánh trong cạn, phải chông mà chìm [3].


Cửa sông Bạch Đằng
H 1: Cửa sông Bạch Đằng lúc chiều tà, ảnh Minh Nguyệt,
trích từ Trần Độ, Văn Hóa Việt Nam, trang 48.

Năm 939 (Kỷ Hợi) Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa (nay thuộc huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội), truyền ngôi được 4 đời (kể cả Dương Tam Kha), nhưng đến đời Ngô Xương Xí chỉ còn giữ đất Bình Kiều (thuộc phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam Thượng; nay thuộc tỉnh Hưng Yên), như các sứ quân khác. Đất nước lâm vào thời kỳ hỗn chiến (966- 968), sử gọi là Thập Nhị Sứ Quân [4].

Lăng Ngô Quyền ở Đường Lâm, tp Sơn Tây,
H 2: Lăng Ngô Quyền ở Đường Lâm, tp Sơn Tây,
ảnh Vân Yến, trích từ Văn Hóa Việt Nam, trang 155.

II - NHÀ ĐINH (968- 980)

Đinh bộ Lĩnh quê ở động Hoa Lư, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, con ông Đinh Công Trứ làm Thứ sử Hoan Châu dưới thời Dương Diên Nghệ và Ngô Quyền. Cha mất sớm, theo mẹ về quê sinh sống, lớn lên gia nhập sứ quân Trần Minh Công. Trần sứ quân chết, Đinh Bộ Lĩnh thay thế, đem quân về giữ Hoa Lư, hùng cứ một phương. Đinh Bộ Lĩnh lần lượt diệt các sứ quân khác, thống nhất đất nước, dân chúng tôn là Vạn Thắng Vương. Trong văn chương bình dân, có câu ca dao thích hợp với sự kiện lịch sử này:

Ở đời muôn sự của chung,
Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi.

Toàn cảnh vùng cố đô Hoa Lư, ảnh Đỗ Huân,
H 3: Toàn cảnh vùng cố đô Hoa Lư, ảnh Đỗ Huân,
trích từ Văn Hóa Việt Nam, sau trang 144.

Năm 968 (Mậu Thìn), Vạn Thắng Vương lên ngôi hoàng đế, xưng là Đinh Tiên Hoàng, đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư [5], dân chúng sống trong thanh bình an lạc, đúng nghĩa với niên hiệu Thái Bình mà Nhà Vua đã chọn:

Xem lên trăng bạch trời hồng,
Dạo miền sơn thủy bẻ bông thái bình.

Cổng vào đền Đinh Tiên Hoàng ở Hoa Lư, Ninh Bình
H 4: Cổng vào đền Đinh Tiên Hoàng ở Hoa Lư, Ninh Bình.
Nhiếp ảnh gia Nguyễn Huy Trực [6] chụp năm 1993.

Nhưng đến năm 979 (Kỷ Mão) có biến cố lớn, Đỗ Thích làm chức lại ở Đồng Quan, nằm mộng thấy sao rơi vào miệng, tin là điềm báo được làm vua. Thừa lúc Đinh Tiên Hoàng say rượu nằm ở sân cung, bèn lén vào giết vua và Đinh Liễn (con trưởng vua). Dân chúng chê trách hành động điên rồ của Đỗ Thích:

Con cóc nằm ở bờ ao,
Lăm le lại muốn nuốt sao trên trời [7].

Lăng Đinh Tiên Hoàng ở Hoa Lư
H 5: Lăng Đinh Tiên Hoàng ở Hoa Lư,
ảnh của Nguyễn Huy Trực, 1993.

III - NHÀ TIỀN LÊ (980- 1009)

Thừa lúc vận nước rối ren, năm 980, vua Tống Thái Tông (Song Tai Zong) sai Hầu Nhân Bảo (Hou Ren Bao) đem quân đến biên giới định xâm chiếm nước ta. Tướng Phạm Cự Lượng yêu sách phải tôn Lê Hoàn lên ngôi vua, mới chịu xuất quân. Trước tình thế khẩn trương, trước vận mệnh sống còn của đất nước, Thái hậu Dương Vân Nga sai lấy áo long cổn khoác lên mình Lê Hoàn, tôn lên ngôi là vua Lê Đại Hành, để yên lòng binh sĩ.

Tháng 4 năm 981 (tức tháng 3- Tân Tỵ), quân Tống sang chiếm nước ta. Hầu Nhân Bảo (Hou Ren Bao) và Tôn Hoàn Hưng (Sun Huan Xing) dẫn đại binh đi đường bộ đánh Lạng Sơn, Trần Khâm Tộ (Chen Qing Zu) theo đường thủy vào sông Nhị Hà tấn công Tây Kết, Lưu Trừng (Liu Cheng) tiến vào sông Bạch Đằng. Lê Đại Hành tự nguyện làm tướng chống giặc. Nhà vua phá tan đạo quân đường bộ, đánh đuổi cánh quân đường thủy; giết tướng Hầu Nhân Bảo [8], bắt tướng Quách Quân Biện (Guo Jun Bian) và Triệu Phụng Hưng (Zhao Feng Xing), giặc chết quá nửa; khiến nhà Tống dẹp mộng xâm lăng nước ta:

Ải Chi Lăng, ta dùng kế trá hàng,
Giặc chết nhiều, Hầu Nhân Bảo máu loang.
Ta bắt sống địch hai người bộ tướng,
Chết phân nửa, quân trang nhiều vô lượng.
Bọn Lưu Trừng đóng giữ mặt Bạch Đằng,
Thấy quân ta thừa khí thế đánh hăng,
Quân nhà Tống, bên bộ binh tháo chạy,
Lưu Trừng sợ ta hỏa công thiêu cháy
Bọn thủy quân của giặc Tống rút êm.
Ta liên hoan mừng chiến thắng liên miên
Đại Cồ Việt, rừng cờ vàng hoa nở [9].

Lê Đại Hành ở ngôi 25 năm (980- 1005), lần lượt đặt các niên hiệu Thiên Phúc, Hưng Thống, Ứng Thiên; kinh đô vẫn ở Hoa Lư.

Con cò bay lả bay la,
Bay qua Yên Thế bay về Hoa Lư.
Trăm ngàn cờ Việt có dư,
Màu vàng sáng chói, muôn thu anh hùng [10].

Đền vua Lê Đại Hành ở Hoa Lư
H 6: Đền vua Lê Đại Hành ở Hoa Lư, ảnh từ
Phạm Ngô Minh, Nhân Vật Họ Lê Trong Lịch Sử VN, sau tr 4.

Tháng 4 năm 1005 (tức tháng 3- Ất Tỵ) Đại Hành Hoàng Đế băng ở điện Trường Xuân. Con thứ ba là Long Việt lên ngôi tức Lê Trung Tông (1005) làm vua được 3 ngày, bị em là Long Đỉnh sai người giết, rồi tự xưng làm vua (1005- 1009) vẫn dùng niên hiệu Ứng Thiên, đến năm 1008 đổi là Cảnh Thụy. Lê Long Đỉnh rất bạo ngược, hiếu sát, thường lấy sự giết người làm trò chơi, thích xem hề ngay lúc lâm triều, lại còn say đắm tửu sắc nên phát bệnh trĩ đến nỗi không ngồi được, thị triều phải nằm, sử gọi là Vua Ngọa Triều.

Giữa lúc lòng dân oán ghét Long Đỉnh, trong dân chúng lan truyền một bài sấm thi bằng chữ Hán:

Thụ căn diểu diểu,
Mộc biểu thanh thanh.
Hoà đao mộc lạc,
Thập bát tử thành.
Đông a nhập địa,
Dị mộc tái sinh [11].
Chấn cung kiến nhật,
Đoài cung ẩn tinh.
Lục thất niên gian,
Thiên hạ thái bình.

Cao Huy Giu (Thơ Văn Lý Trần) dịch:

Gốc cây thăm thẳm,
Ngọn cây xanh xanh.
Cây hòa đao rụng,
Mười tám hạt thành.
Cành đông xuống đất,
Cây khác lại sinh.
Đông, mặt trời mọc
Tây, sao náu hình
Khoảng sáu, bảy năm
Thiên hạ thái bình.

- Hai câu giáo đầu nói bóng gió vua thì yểu mệnh, bề tôi cường thịnh.
- Câu 3, hợp các chữ hòa ( 禾 ), đao ( 刀 ), mộc ( 木 ), thành chữ lê ( 棃 ) nhưng lại lạc (rơi rụng), ý nói Nhà Lê  mất ngôi.
- Câu 4, hợp các chữ thập ( 十 ), bát ( 八 ), tử ( 子 ), là chữ lý ( 李 ), ý nói người họ Lý thành thiên tử.
- Câu 5,hợp hai chữ  đông ( 東 ), a ( 阿 ) thành chữ trần ( 陳 ) nhập địa, ý nói Nhà Trần làm vua nước ta.
- Câu 6, cây khác sống lại, ý nói một họ Lê khác làm vua lần nữa, tức nhà Hậu Lê.
- Câu 7 và 8: cung đằng Đông (chấn) mặt trời mọc, cung đằng Tây (đoài) ngôi sao mờ.

Một hôm Lê Long Đỉnh ăn trái khế lại thấy hột mận [12] chữ Hán gọi là Lý, càng tin lời sấm thi, ngầm sai tìm người họ Lý giết đi, nhưng lại quên mất Lý Công Uẩn ở bên cạnh vua và đang giữ chức Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ, nên ca dao có câu:

Ta trong cây khế ta ra,
Mình còn cạnh khế, chi ta hỡi mình!

IV - NHÀ LÝ (1010 – 1225)

Khi vua Long Đỉnh băng thì Lý Công Uẩn ngoài 35 tuổi; bấy giờ thần dân chán ngán nhà Tiền Lê nên trong triều có nhóm Đào Cam Mộc, nhà chùa có Thiền sư  Vạn Hạnh vận động đưa Công Uẩn lên ngôi vua, xưng là Lý Thái Tổ, đặt niên hiệu Thuận Thiên (1010- 1028).

Nhà Lý để lại cho lịch sử những dấu ấn sâu sắc đáng ghi nhớ: Năm 1010, Lý Thái Tổ dời kinh đô từ Hoa Lư về thành Đại La và đổi tên là Thăng Long. Năm 1054, Lý Thánh Tông đổi quốc hiệu là Đại Việt [13]. Năm 1075, Lý Nhân Tông sáng lập khoa thi Tuyển Minh Kinh Bác Học Cập Nho Học Tam Trường, mở đầu cho nền khoa cử nước ta. Và những năm 1044, 1069, 1075, 1076, 1078, 1084, 1104 triều Lý không những đuổi được giặc ngoại xâm, bảo vệ non sông, mà còn đem quân ra nước ngoài đánh Nam phạt Bắc, mở mang bờ cõi, và vẻ vang nhất là đòi lại được những phần đất đã mất.

Đền Đô tức Lý Bát Đế [14] ở Đình Bảng,
H 7: Đền Đô tức Lý Bát Đế [14] ở Đình Bảng,
Nguyễn Huy Trực chụp, 1993.

* Bấy giờ người Chăm thường quấy nhiễu ở vùng biên giới, tháng 3 năm 1069 (tức tháng 2- Kỷ Dậu), Lý Thánh Tông (1054-1072) thân chinh đi đánh Champa [15]. Từ Thăng Long, đại quân ta đi ngót 26 ngày đường biển mới đến đầm Thị Nại (nay thuộc tỉnh Bình Định). Viên tổng tư lệnh Chăm là Bố-bì-đà-la dàn trận trên bờ sông Tu Mao (một nhánh của sông Côn). Lý Thường Kiệt [16] đánh tan lực lượng tiền phương và giết được Bố-bì-đà-la, rồi vượt thêm hai sông nữa (cũng thuộc sông Côn) thì tới thành Đồ Bàn.

Vua Chăm là Chế Củ tức Cri Rudravarman III [17] bỏ kinh đô chạy về miền Nam. Lý Thường Kiệt đem quân đuổi theo suốt một tháng trời, đến tận biên giới Chân Lạp. Vua Chăm và 5 vạn quân dân bị bắt. Tháng 7 năm ấy, Lý Thánh Tông về đến Thăng Long với ca khúc khải hoàn, giải theo vua Chăm và quyến thuộc. Sau Chế Củ dâng 3 châu: Bố Chánh, Địa Lý và Ma Linh [18] mới được tha cho về nước.
Ca dao dưới đây xin dành cho vị vua Đại Việt đầu tiên thân chinh mở mang bờ cõi phương nam:

Uống nước phải nhớ lấy nguồn,
Non sông cẩm tú nhớ người mở mang.

* Đời Lý Nhân Tông (1072- 1128), lúc ấy bên Tàu có Tể tướng nhà Tống (Song) là Vương An Thạch [Wang An Shi] chủ trương đánh chiếm nước ta cho bằng được, nên ra mặt khiêu khích, tích trữ vũ khí quân lương vùng biên giới, chuẩn bị tấn công. Biết được ý định của giặc dùng Ung Châu (Yong Zhou) nơi tụ điểm cho đạo quân đường bộ và Khâm Châu, Liêm Châu là cứ điểm xuất phát  của cánh quân đường thủy. Triều đình nhà Lý quyết định rất táo bạo nhưng sáng suốt, phải ra tay trước đánh phủ đầu các hậu cứ trên, nhằm phá hủy nơi tích trữ lương thảo, làm suy yếu khả năng xâm lăng của giặc.  Năm 1075, Nhân Tông sai Lý Thường Kiệt và Tôn Đản đem hơn 10 vạn quân vào nước Tàu, tiêu diệt các đồn trại quân Tống ở miền nam hai tỉnh Quảng Đông (Guang Dong) và Quảng Tây (Guang Xi). Lý Thường Kiệt còn viết nhiều Lộ bố (truyền đơn ngày xưa) [19], kể tội họ Vương, nêu chính nghĩa việc chinh phạt, để cho dân bản xứ khỏi lo sợ và hợp tác với đoàn quân Đại Việt. Dưới đây, trích đoạn bài Phạt Tống Lộ Bố Văn (Bài văn Lộ bố khi đánh Tống), Trần Văn Giáp dịch [20]:

Trời sinh ra dân chúng, vua hiền ắt hòa mục. Đạo làm chủ dân, cốt ở nuôi dân. Nay nghe vua Tống ngu hèn, chẳng tuân theo khuôn phép thánh nhân, lại tin kế tham tà của Vương An Thạch, bày những phép “thanh miêu”, “trợ dịch” [21] khiến trăm họ mệt nhọc lầm than  mà riêng thỏa cái mưu nuôi mình béo mập...

Ta nay ra quân, cốt để cứu vớt muôn dân khỏi nơi chìm đắm. Hịch văn truyền tới để mọi người cùng nghe. Ai nấy hãy tự đắn đo, chớ có mang lòng sợ hãi!

Lý Thường Kiệt dẫn 4 vạn thủy binh cùng voi chiến, đổ bộ vào Quảng Đông công hãm Khâm Châu ngày 30- 12- 1075 (tức 20-11-Ất Mão), Liêm Châu ngày 2- 1- 1076 (tức 23-11-Ất Mão). Sau khi san bằng các căn cứ hải quân ven bờ biển phía nam tỉnh Quảng Đông, Lý Thường Kiệt ra lệnh hành quân theo hướng tây bắc tiến đánh Ung Châu, nay là Nam Ninh (Nan Ning). 

Tôn Đản lãnh 6 vạn bộ binh, chia làm ba ngả tiến quân: Cánh phía tây từ Quảng Nguyên  [22] vượt bên giới đánh chiếm Long Châu, Thái Bình. Cánh giữa do Tôn Đản trực tiếp chỉ huy, từ Quang Lang [23] kéo tới Đồng Đăng [24] qua ải Nam Quan tràn vào đất Tàu, nhổ các chốt Bằng Tường, Vĩnh Bình, Tư Minh. Cánh phía đông từ hai châu Tô, Mậu [25] vượt biên giới tấn công Đông Hưng, Tư Lăng, Thượng Tứ. Triệt hạ xong các đồn trại phía nam tỉnh Quảng Tây, ba cánh quân đường bộ thẳng tiến hướng đông bắc, hợp với đạo thủy quân cùng vây hãm Ung Châu từ ngày 18- 1- 1076 (tức mồng 10- 12- Ất Mão).

Đô giám tỉnh Quảng Tây là Trương Thủ Tiết (Zhang Shou Jié), từ Quế Châu  (nay là phủ Quế Lâm, Gui Lin) dẫn đại quân xuống cứu, bị Lý Thường Kiệt đón đánh tại ải Côn Lôn (gần Ung Châu), chém đầu chủ tướng và tiêu diệt toàn bộ quân cứu viện vào ngày 11- 2- 1076 (tức mồng 4 Tết năm Bính Thìn). Biết viện binh bị đánh tan nhưng Tri châu Tô Giám vẫn không hàng, cố thủ thành Ung, quân ta phải dùng hỏa công (bắn tên tẩm nhựa có lửa) rồi dùng thổ công (chất bao đất thành bậc thang để leo vào thành), đến ngày 1- 3- 1076 (tức 23- 1- Bính Thìn), sau 42 ngày bao vây, quân ta hạ được thành Ung [26].

Lý Thường Kiệt chỉ huy đoàn quân Đại Việt chiếm xong 3 châu (Khâm, Liêm, Ung) san bằng các căn cứ, tiệu diệt hơn 10 vạn người, bắt tù binh và thu nhiều của cải rồi rút quân về nước,  dân ta đón mừng trong ca khúc khải hoàn:

Nực cười châu chấu đá xe,
Tưởng rằng chấu ngã, ai dè xe nghiêng!

Quân ta vượt biên giới tấn công quân Tống
H 8: Quân ta vượt biên giới tấn công quân Tống,
trích từ Phạm Văn Sơn, Quân Lực Việt Nam, quyển II, tr 67.

* Tháng 4 năm 1076 (tức tháng 3- Bính Thìn) nhà Tống sai Tuyên phủ sứ Quảng Nam là Quách Quì (Guo Gui) làm Chiêu thảo sứ, Triệu Tiết (Zhao Xue) làm phó đem 9 tướng quân gồm 10 vạn người, 1 vạn ngựa và 20 vạn dân phu, hẹn với nước Champa và Chân Lạp sang đánh nước ta quyết phục thù. Nhân Tông sai Lý Thường Kiệt ra ngăn quân Tống ở sông Như Nguyệt, tức sông Cầu (thuộc Bắc Ninh). Đêm khuya, quân canh cẩn mật, phòng tuyến im phăng phắc, bỗng ở đền thần Trương Tướng Quân vang ra giọng ngâm sang sảng:  

Nam     quốc     sơn     hà     Nam     đế     cư,
南        國         山        河        南       帝        居 
Tiệt     nhiên     định     phận     tại     thiên     thư.
截        然        定        分        在        天        書
Như     hà     nghịch     lỗ     lai     xâm     phạm ?
如        何      逆          虜         来        侵        犯
Nhữ     đẳng     hành     khan    thủ     bại     hư [27].
汝        等        行        看        取       敗        虛   

Việt Thao dịch:   

Vua Nam hẳn ở nước Nam rồi,
Sông núi phân minh bởi sách trời.
Sao giặc hung hăng vào lấn chiếm?
Bại vong cả lũ hãy chờ coi.            

Lập phòng tuyến Sông Cầu, cản đường quân Tống
H 9: Lập phòng tuyến Sông Cầu, cản đường quân Tống,
trích từ Quân Lực Việt Nam, quyển II, trang 71.

Quân sĩ nghe lời phán của “thần linh” nức lòng chống giữ, quân Tống không tiến lên được, lại gặp chướng địa không hợp thủy thổ, chết quá nửa, nên đành rút binh chỉ còn giữ các châu huyện, gồm Quảng Nguyên (thuộc tỉnh Cao Bằng), Tư Lang (sau chia thành Thượng Lang và Hạ Lang, thuộc Cao Bằng), Tô, Mậu  (vùng đất nay thuộc Lạng Sơn và Bắc Giang) và huyện Quang Lang (thuộc Lạng Sơn). Nhưng chỉ 8 năm sau (1084), nhà Lý đòi lại được tất cả các châu huyện ấy, không để mất một tấc đất của tiền nhân.

Đền thờ Lý Thường Kiệt ở Thanh Hóa,
H 10: Đền thờ Lý Thường Kiệt ở Thanh Hóa,
ảnh từ Đông Tiến, Dân Tôi Nước Tôi, trang 306.

* Năm 1078 (Mậu Ngọ), Nhân Tông sai Đào Tôn Nguyên đem 5 con voi sang cống nhà Tống và đòi lại các châu huyện bị chiếm. Nhà Tống thuận trả đất Quảng Nguyên, đổi lại ta phải trao những người Tàu bị bắt ở các châu Ung, Khâm, Liêm.

* Năm 1084 (Giáp Tý), Nhân Tông sai Binh bộ Thị lang Lê Văn Thịnh [28] sang Tống bàn việc biên giới, nhờ tài ngoại giao của sứ bộ, nhà Tống trả nốt phần đất còn giữ lại gồm 6 huyện là Bảo Lạc, Luyện, Miêu, Đinh, Phóng, Cận và 2 động là Túc, Tang [29]. Việc trả đất, người Tàu trách vua của họ vì tham voi của nước Giao Chỉ mà bỏ mất  vàng ở châu Quảng Nguyên, nên mới có câu lan truyền:

Nhân tham Giao Chỉ [30] tượng,
Khước thất Quảng Nguyên [31] kim.

Kể từ Dương Diên Nghệ đánh đuổi quân Nam Hán giành lại nền độc lập (931) đến hết nhà Lý (1225), trải dài 294 năm là giai đoạn tự chủ đầu tiên sau thời kỳ Bắc thuộc lâu dài 10 thế kỷ. Tuy nước ta mới thoát khỏi ách nô lệ Tàu, thế nước còn yếu, nhưng đã lập được những trang quân sử oai hùng trong việc giữ nước. Với hồn thiêng sông núi, với lòng tự hào dân tộc, với truyền thống kiên cường bất khuất, dù 1000 năm bị trị, ngoại bang vẫn không thể đồng hóa nước ta. Sang giai đoạn đầu của nền tự chủ (931- 1225), tổ tiên ta nhiều lần phá vỡ mộng xăm lăng của Bắc Phương: Mở đầu là chiến tích của Ngô Quyền đại thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng (938); rồi Lê Đại Hành đánh tan quân Tống ở Chi Lăng (981); Lý Thường Kiệt tiến sâu vào đất Tàu, hạ thành lũy, thu nhiều chiến lợi phẩm đem về trong ca khúc khải hoàn (1075) và còn chận đứng sức tấn công trả thù của quân Tống (1076).

Thành tích vẻ vang nhất trong thời đại này là vào năm 1078 và 1084, Nhà Lý đòi lại được tất cả những vùng đất sát biên giới mà quân Tống đã chiếm trong chiến tranh.


San Jose, ngày 25- 10- 2009
ĐÀO ĐỨC CHƯƠNG



GHI CHÚ

[1] Theo Tân Ngũ Đại Sử (quyển 65), các con của vua Tấn Cao Tổ (Lưu Cung) đều có chữ  Hồng, nên trong bản dịch Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập 1, trang 203 (ghi chú 2) đề nghị sửa là Thái tử  Hồng Tháo [Hong Cao].

[2] Lời chua trong Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, bản dịch của nhóm Hoa Bằng, tập I, trang 223, tả khúc sông Bạch Đằng như sau: “Sông Bạch Đằng bắt đầu từ sông Lục Đầu thuộc địa hạt tỉnh Bắc Ninh phân lưu chảy vào địa hạt tỉnh Hải Dương: Một chi theo Mỹ Giang, một chi theo Châu Cốc Sơn, hai chi hợp lại ở xã Đoan Lễ. Khúc sông hợp lại này gọi là sông Bạch Đằng. Sông Bạch Đằng phía nam giáp giới huyện Thủy Đường, tỉnh Hải Dương; phía bắc giáp giới huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên; chuyển về phía nam 29 dặm, đổ ra biển (qua cửa) Nam Triệu. Theo sách Địa Lý Chí (thực ra tên sách này Dư Địa Chí) của Nguyễn Trãi, sông Bạch Đằng có tên gọi nữa là sông Vân Cừ, rộng hơn 2 dặm, ở đó có nhiều núi cao ngất, nhiều ngành sông đổ lại, sóng cồn man mác giáp tận chân trời, cây cối um tùm che lấp bờ bến, thực là một nơi hiểm yếu về đường biển.”

[3] Chiến thuật kết hợp giữa mức lên xuống thủy triều và bãi cọc nhọn bịt sắt cắm ở lòng sông Bạch Đằng để đánh thắng giặc ngoại xâm phương Bắc: Lần 1, năm 937, Ngô Quyền phá tan quân Nam Hán. Lần 2, năm 981, Lê Đại Hành đóng cọc ngăn sông chặn đánh quyết liệt khiến đoàn thuyền chiến của quân Tống phải tháo chạy. Lần 3, năm 1288, Trần Hưng Đạo áp dụng chiến thuật ấy cũng tại khúc sông này đã đại thắng quân Nguyên. Vì vậy, câu ca dao trên có thể dùng cho cả ba trường hợp, hoặc hai cho lần 1 và 3. Tuy nhiên, còn 4 câu ca dao nữa nói đến chiến thắng Bạch Đằng, trong đó có 2 câu xác định thời Trần. Vì vậy chúng tôi dành câu “Đánh giặc thì đánh giữa sông, Đừng đánh trong cạn phải chông mà chìm” cho chiến tích của Ngô Quyền, người đầu tiên có sáng kiến này.

[4] Mười hai sứ quân, gồm: 1/ Ngô Xương Xí (con của Ngô Xương Ngập) chỉ còn giữ đất Bình Kiều, sau thuộc phủ Khoái Châu, nay thuộc tỉnh Hưng Yên. 2/ Trần Lãm xưng là Trần Minh Công, chiếm đất Bố Hải, nay thuộc huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; có Đinh Bộ Lĩnh là thuộc tướng. 3/ Nguyễn Thủ Tiệp xưng là Nguyễn Lệnh Công, chiếm vùng Tiên Sơn (Tiên Du và Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh. 4/ Lý Khuê xưng là Lý Lãng Công, chiếm đất Siêu Loại, nay thuộc huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. 5/ Lã Đường xưng là Lã Tá Công, chiếm vùng Văn Giang, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh và Hưng Yên. 6/ Phạm Bạch Hổ xưng là Phạm Phòng Át, chiếm đất Đằng Châu, nay thuộc huyện Kim Thi, tỉnh Hưng Yên. 7/ Nguyễn Siêu xưng là Nguyễn Hữu Công, chiếm vùng Thanh Trì, nay là huyện ngoại thành Hà Nội. 8/ Nguyễn Khoan xưng là Nguyễn Thái Bình, chiếm đất Tam Đái tức phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên; nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. 9/ Kiều Công Hãn xưng là Kiều Tam Chế, chiếm vùng Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên; nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. 10/ Kiều Thuận xưng là Kiều Lệnh Công, chiếm đất Cẩm Khê, tỉnh Sơn Tây; nay thuộc Hà Tây . 11/ Đỗ Cảnh Thạc, chiếm vùng Đỗ Động Giang, nay thuộc Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. 12/ Ngô Nhật Khánh xưng là Ngô Lãm Công, giữ đất Đường Lâm, nay thuộc thành phố Sơn Tây (tỉnh Hà Tây).

[5] Khu di tích cố đô Hoa Lư ở xã Trường Yên, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Từ năm 968 đến 1009, đất Hoa Lư là kinh đô của nhà Đinh và Tiền Lê. Khoảng tháng 8 năm 1010 (tức tháng 7- Canh Tuất) Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long, đổi Hoa Lư thành phủ Trường Yên (Tràng An); nay chỉ còn lăng và đền vua Đinh, với đền vua Lê. Nơi đây, cách Hà Nội 100 km và cách thị xã Ninh Bình 16 km, nếu đi đường bộ theo đường Nho Quan, nếu đi đường thủy theo dòng sông Đáy đến bến Gián Khẩu rồi rẽ vào sông Hoàng Giang độ 6 km nữa thì đến xã Trường Yên. Tại thôn An Hạ có đền thờ Lê Đại Hành và tượng bà Hoàng Thái hậu nhà Đinh là Dương Vân Nga, nhưng Long sàng chỉ có tượng lân, và nóc đền không có rồng (theo hình chụp của Nguyễn Huy Trực, năm 1993). Đi thêm vài trăm thước là thôn An Trung có đền thờ Đinh Tiên Hoàng, trên nóc đền có tượng “Lưỡng long triều nguyệt”, tại Long sàng có tượng đôi rồng chầu. Ngay trước cửa đền vua Đinh là ngọn Mã Yên Sơn cao 200 mét, phải lên 260 bậc đá mới đến lăng mộ Đinh Tiên Hoàng và một bia đá lớn khắc chữ cả hai mặt. Theo Ngô Vĩ Liên, Địa Dư Các Tỉnh Bắc Kỳ, trang 639: một mặt bia ghi “Đinh Tiên Hoàng Đế lăng phụng sắc kiến, niên hiệu Minh Mạng nhị thập nhất niên” (1840), mặt bên kia ghi: “Hàm Nghi nguyên niên (1885) trùng tu Tiên Đế Lăng.”

[6] Nhiếp ảnh gia Nguyễn Huy Trực (1926- 2009) người Hoàng Mai, Hà Nội. Tổng Thư ký Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam (1957- 1975). Sáng lập và Chủ tịch Hội Nhiếp Ảnh Việt Mỹ (1963- 1975). Giám đốc các lớp nhiếp ảnh nghệ thuật Hội Nhiếp Ảnh Việt Mỹ. Năm 1975 ông định cư tại California, viết nhiều bài biên khảo đăng trong Việt Nam Nhật Báo (San Jose, CA) và Bán nguyệt san Ngày Nay (Houston, TX). Ông còn là nhà sưu tầm sách với 3700 cuốn, đủ các bộ môn và gồm ba thứ tiếng Việt Anh Pháp.

[7] Nguyễn Văn Mại; Việt Nam Phong Sử, bản dịch của Tạ Quang Phát (Sài Gòn, Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hóa xuất bản, 1972), trang 76.

[8] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, bản dịch, tập I, trang 221: “...Quân Tống lui, lại đến sông Chi Lăng (khúc sông Thương chảy qua Chi Lăng thuộc tỉnh Lạng Sơn). Vua sai quân sĩ trá hàng để dụ Nhân Bảo, nhân đó bắt được Nhân Bảo, đem chém.”

[9,10] Phạm Ngô Minh – Lê Duy Anh; Nhân Vật Họ Lê Trong Lịch Sử Việt Nam (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2001), trang 27, 28; trích bài Trường Thi Lê Đại Hành.

[11] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Ngô Đức Thọ dịch tập I (Hà Nội, nxb Khoa Học Xã Hội, 1993), trang 237 chép bài sấm không có câu : “Đông A nhập địa, Dị mộc tái sinh”; nhưng trong Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, nhóm Hoa Bằng dịch (nxb Giáo Dục, 1998), tập I, trang 280 có thêm hai câu này. Thật vậy, nguyên bài sấm không có hai câu trên thì mới ăn khớp với ý hai câu kết, có lẽ đến cuối đời Trần hay đầu đời Hậu Lê, một người nào đó đã thêm vào, bởi lẽ Đại Việt Sử Lược (ra đời khoảng 1377- 1388), quyển II, viết về triều Lý có chép bài này nhưng chưa thấy hai câu trên.

[12] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Ngô Đức Thọ dịch tập I, trang 238.

[13] Đại Việt là quốc hiệu thứ 7 của nước ta (nếu tính cả quốc hiệu Xích Quỷ thời Kinh Dương Vương và Nam Việt thời Triệu Đà, mà nay còn đang tranh cãi về sự chính thống của 2 quốc hiệu này).

Quốc hiệu Đại Việt tồn tại lâu dài nhất, 732 năm, từ Lý Thánh Tông lên ngôi (1054) trải qua các triều Lý, Trần, Hậu Lê, Mạc, Lê Trung Hưng, Chúa Nguyễn và 3 năm đầu của Gia Long (1804). Trong thời gian 750 năm (1054- 1804) tên gọi chính thức Đại Việt bị gián đoạn 27 năm từ nhà Hồ đến hết Minh thuộc (1400- 1427).

[14] Đền Lý Bát Đế thờ 8 vị vua Nhà Lý, còn gọi là Đền Đô, hay đền Cổ Pháp, ở làng Đình Bảng, tổng Phù Lưu, huyện Đông Ngàn (hay Đông Ngạn ?), phủ Từ Sơn, xứ Kinh Bắc; nay thuộc huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Làng này là quê hương của Lý Công Uẩn, lúc khởi lập có tên là Diên Uẩn, giữa thế kỷ thứ VIII đổi là Cổ Pháp, từ cuối thế kỷ XIII đến nay là Đình Bảng.

Các vị vua nhà Lý khi qua đời đều yên nghỉ ở khu Thọ Lăng Thiên Đức giữa đồng ruộng quê nhà. Hằng năm, vào ngày 15 tháng 3 âm lịch, kỷ niệm ngày Lý Thái Tổ đăng quang, các vị vua của những triều đại sau đều về Đền Đô làm lễ quốc tế:

Theo văn bia lập năm 1994, Đền Đô rộng 31250 mét vuông, với trên 20 hạng mục công trình độc đáo. Nổi tiếng nhất là Cửa rồng, nhà tiền tế, nhà chuyển bồng, đền chính thờ 8 vị vua nhà Lý, điện thờ Vua Bà, nhà bia, nhà kiệu, nhà ngựa, văn chỉ, võ chỉ, thủy tọa, thủy đình, hai bên cầu hàng hiệu. Năm 1952, Đền Đô bị chiến tranh phá hủy hoàn toàn. Năm 1989 dân Đình Bảng với sự công đức của khách thập phương đã khởi công xây dựng lại Đền Đô theo nguyên mẫu xưa.

[15] Tên gọi hiện nay là Champa hay Chăm; còn có các tên khác như: Chăm Pa, Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Hoàn Vương, Lâm Ấp, Hời (ít dùng). Người Việt quen gọi là Chàm (như: tháp Chàm, gò Chàm) hay Chiêm Thành (như: dân tộc Chiêm Thành, Chiêm quốc); người Champa gọi dân tộc họ là Chăm.

[16] Lý Thường Kiệt (1019- 1105), nguyên có tên là Ngô Tuấn, con của Sùng tiết Tướng quân Ngô An Ngữ và cháu 6 đời của Ngô Quyền, tự là Thường Kiệt, làm quan trải ba triều Thái Tông, Thánh Tông và Nhân Tông, có tài văn võ, thăng dần đến chức Đôn quốc Thái úy Đại Tướng quân Đại Tư đồ.  Ông có công lớn trong việc phá Tống bình Chiêm, được ban hiệu Thiên Tử Nghĩa Nam, theo họ vua và lấy tự làm tên là Lý Thường Kiệt.

Theo sử sách cũ, Ông người phường Thái Hòa, thành Thăng Long (nay ở phía nam đê Bách Thảo). Nhưng Theo Thơ Văn Lý Trần, căn cứ vào bài văn khắc trên chuông chùa Bắc Biên, mới phát hiện gần Hà Nội, và cuốn Tây Hồ Chí, quê quán Ông ở làng An Xá cũ, huyện Quảng Đức, thuộc khu vực phía Nam Hồ Tây trong thành Thăng Long; còn địa danh Thái Hòa chỉ là nơi Ông trú ngụ sau khi làm quan triều Lý.

[17] Chế Củ tức Cri Rudravarman III (1061- 1074) đời thứ 3 là vị vua cuối cùng trong triều đại thứ VIII của nước Champa. Ông là em của vua Bhadravarman III, thư tịch Trung Hoa phiên âm tên ông là Thi Lý Luật Đồ Bàn Ma Thường Dương Bạc, hay Dương Bốc Thi Lỵ Luật Đà Bàn Ma Đề Bà, sử Việt ghi là Chế Củ. Năm 1068, vua Chăm cho quân đánh phá vùng đất phía nam của Đại Việt, khiến Lý Thánh Tông phải đem quân vào Champa chinh phạt.

[18] Châu Bố Chánh nay là đất các huyện Tuyên Hoá, Quảng Trạch, Bố Trạch; châu Địa Lý là huyện Lệ Thủy và Quảng Ninh ngày nay, đều thuộc tỉnh Quảng Bình. Châu Ma Linh nay là huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị.

[19] Lộ bố: Công văn không niêm phong, bài hịch văn truyền ra trong lúc chiến tranh tuyên bố thật rõ ràng lý do hành quân. Ngày xưa, vị tướng đem quân đến một vùng nào để đánh dẹp, thường niêm yết lộ bố, kể tội quân địch và nêu chính nghĩa của sự chinh phạt. Mục đích làm an lòng dân chúng ở địa phương đó và tranh thủ nhân tâm, một hình thức của tâm lý chiến.

[20] Phạt Tống Lộ Bố Văn: Bài này là một trong các Lộ bố của Lý Thường Kiệt làm ra trong lúc tiến quân vào đất Tống. Trần Văn Giáp tìm thấy trong một bản Việt Điện U Linh ở thư viện Khoa Học Xã Hội. Nhóm biên soạn Đào Phương Bình, chép vào sách Thơ Văn Lý Trần, (Hà Nội, nxb Khoa Học Xã Hội, 1977) tập I, trang 320.

[21] Thanh miêu, trợ dịch: Hai trong tám chính sách của Tể tướng Vương An Thạch (1021- 1086) đề ra gọi là Tân Pháp, nhằm cứu vãn triều đại Nhà Tống đang gặp khó khăn.

Thanh miêu là biện pháp triều đình lấy thóc chứa trong kho hay xuất tiền trong ngân khố cho nông dân vay để chi tiêu trong lúc cây lúa còn xanh, đến khi gặt hái xong  người vay phải trả cả vốn lẫn lời 2 phân lãi. Hàng năm có hai kỳ: tháng giêng vay đến mùa hạ phải hoàn trả, tháng 5 vay thì mùa thu phải nộp.

Trợ dịch: Bắt toàn dân phải làm sai dịch, tức là hằng năm dân chúng phải làm không công cho nhà nước một số ngày theo quy định. Năm 1064, nhà Tống ban hành thêm sắc lệnh có thể đóng tiền thay thế ngày làm. Trước kia, việc sai dịch được miễn cho người vị thành niên, con một, phụ nữ, người tu hành, gia đình quan lại; nhưng từ khi họ Vương đề ra Tân Pháp thì những thành phần kể trên phải nộp tiền thay thế cho sai dịch, gọi là trợ dịch. Hai biện pháp này khiến nhiều người bất mãn.

[22] Quảng Nguyên: tên một châu vào đời Lý, đến đời Lê Quang Thuận (1460- 1469) cải danh là châu Lộng Nguyên, sang đời Hồng Đức (1470- 1497) đổi là châu Quảng Uyên. Năm 1834 đổi là huyện, thuộc phủ Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Huyện lỵ Quảng Uyên ở phía đông thị xã Cao Bằng, cách 37 km, và cách Trùng Khánh 26 km. Năm 1976, Quảng Uyên thuộc tỉnh Cao Lạng (nhập Cao Bằng và Lạng Sơn). Năm 1978, lại tách tỉnh, nhưng hai huyện Quảng Uyên và Phúc Hòa hợp thành huyện Quảng Hòa thuộc tỉnh Cao Bằng.

[23] Quang Lang: châu đời Lý, đời Trần đổi là Châu Ôn; đầu thế kỷ 19 thuộc tổng Tràng Quế, châu Ôn, xứ Lạng sơn; nay là huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.

[24] Đồng Đăng:  xã thuộc tổng Vĩnh Dật, huyện Văn Uyên, phủ Trường Khánh, xứ Lạng Sơn; nay là xã thuộc huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. Đồng Đăng cách ải Nam Quan 4 km, có đường bộ đi qua Bằng Tường (nước Tàu) và thẳng đến Ung Châu.

[25] Tô, Mậu: tên hai châu đời Lý, nay là các vùng Nà Dương, Đình Lập, An Châu thuộc tỉnh Lạng Sơn và Bắc Giang. Nà Dương hay Na Dương: nay là thị trấn thuộc huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn. Đình Lập: huyện thuộc tỉnh Hải Ninh, từ năm 1978 sáp nhập vào Lạng Sơn. An Châu: thị trấn huyện lỵ huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang.

[26] Tổng hợp từ các bộ thông sử và chính sử: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư bản Chính Hòa (niên hiệu Lê Hy Tông) khắc in 1697, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, Việt Sử Tân Biên của Phạm Văn Sơn, Quân Sử Việt Nam Cộng Hòa của Phạm Văn Sơn, Việt Sử Khảo Luận của Hoàng Cơ Thụy.

[27] Bài thơ Nam Quốc Sơn Hà chép trên đây trích từ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (khắc in năm 1697), ngoài ra có nhiều dị bản chép trong các sách: Việt Điện U Linh, Trương Tôn Thần Sự Tích, Thiên Nam Vân Lục Liệt Truyện, Hoàng Việt Thi Tuyển v.v... Theo Thơ Văn Lý Trần, tập I, trang 321, dị bản trong Lĩnh Nam Chích Quái, câu 2: “Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư”, câu 3: “Như hà Bắc lỗ lai xâm lược, câu 4: “Bạch nhận phiên thành phá trúc dư”.

Về xuất xứ bài thơ, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: “Bính Thìn, Thái Ninh năm thứ 5 (1076)... Một đêm, quân sĩ chợt nghe trong đền Trương Tướng quân có tiếng đọc to...”, tuy bài bài thơ được gán là của “Thần” nhưng người đời sau vẫn hiểu tác giả là Lý Thường Kiệt. Và đã ghi vào các bộ sách lớn như: Lịch Triều Hiến Chương của Phan Huy Chú, Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, Việt Nam Cổ Văn Học Sử của Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam Văn Học Sử Yếu của Dương Quảng Hàm, Lý Thường Kiệt của Hoàng Xuân Hãn, Việt Sử Tân Biên của Phạm Văn Sơn, Việt Sử Khảo Luận của Hoàng Cơ Thụy v.v...  Nay bài thơ có thêm đầu đề “Nam Quốc Sơn Hà” do nhóm biên soạn Hợp Tuyển Thơ Văn Việt Nam (tập II, trang 58)  đặt ra.

Theo Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp, quyển nhì, trong truyện “Hai Vị Thần Long Nhãn Và Như Nguyệt” có bài thơ Nam Quốc Sơn Hà do thần Trương Hống và Trương Hát cao giọng ngâm vào ngày 21 tháng 10 (âm lịch) lúc canh ba, tại doanh trại giặc khi vua Lê Đại Hành đánh Tống năm Tân Tỵ (981). Dù xuất xứ có từ thời vua Lê Đại Hành hay từ Lý Thường Kiệt, bài thơ này được coi như bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta.

[28] Lê Văn Thịnh, người làng Đông Cứu, tổng Đông Cứu, huyện GiaĐịnh (sau là Gia Bình), phủ Thuận An, xứ Kinh Bắc; nay là thôn Đông Cứu, xã Đông Cứu, huyện Gia Lương (Gia Bình và Lang Tài hợp nhất), tỉnh Bắc Ninh. Là người đỗ đầu trong khoa thi đầu tiên của nền Hán Học Việt Nam: Khoa Minh Kinh Bác Học Cập Nho Học Tam Trường vào năm Ất Mão, niên hiệu Thái Ninh 4 (1075) đời Lý Nhân Tông. Ông giữ chức Thị lang bộ Binh, năm Giáp Tý (1084), dẫn đầu sứ bộ nước ta đến trại Vĩnh Bình (thuộc Châu Ung Châu, tỉnh Quảng Tây; giáp giới với huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn của ta) thương lượng với sứ bộ nhà Tống là Thành Trạc (Cheng Zhuo), đòi lại phần đất (thuộc tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng ngày nay)  mà vào cuối tháng 2 năm 1077 quân Tống rút về nước nhưng còn giữ lại (6 huyện với 3 động), và năm 1078 nhà Tống chưa chịu trả hết. Việc đòi đất thành công, ông được thăng hàm Thái sư. Sau vì có kẻ ganh ghét, năm 1096 ông bị khép tội “mưu phản”, bị đày lên trại Thao Giang (tên trại vào thời Lý, đời Trần đổi ra lộ; nay là vùng huyện  Sông Thao, tỉnh Phú Thọ)  và mất ở đó.

[29] Phạm Văn Sơn; Việt Sử Tân Biên, quyển I, trang 389.

[30] Giao Chỉ: nay là vùng đất Hà Nội, Hưng yên, Nam Định, Ninh Bình. Vậy Giao Chỉ là một trong 15 bộ của nước ta thời xưa gồm Văn Lang, Châu Diên, Phước Lộc, Tân Hưng, Vũ Định, Vũ Ninh, Lục Hải, Ninh Hải, Dương Tuyền, Giao Chỉ, Cửu Chân, Hoài An, Cửu Đức, Bình Văn, sau thêm Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị);  nhưng người Tàu thời ấy quen gọi nước ta là Giao Chỉ.

[31] Quảng Nguyên: xem ghi chú 21.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

01/  BÙI THIẾT; Từ Điển Vua Chúa Việt Nam; Hà Nội, nxb Văn Hóa Thông Tin, 2000.
02/  ĐÀO PHƯƠNG BÌNH và các tgk; Thơ Văn Lý Trần, tập I; Hà Nội, nxb Khoa Học Xã Hội, 1977.
03/  ĐINH XUÂN VỊNH; Sổ Tay Địa Danh Việt Nam; Hà Nội, nxb Lao Động, 1996.
04/  ĐÔNG TIẾN; Dân Tôi Nước Tôi; San Jose CA, nxb Đông Tiến Mỹ Châu, 1989.
05/  HOÀNG CƠ THỤY; Việt Sử Khảo Luận, cuốn 1; Paris, nxb Nam Á, 2002.
06/  NGUYỄN HUYỀN ANH; Việt Nam Danh Nhân Từ Điển; Sài Gòn, Khai Trí xuất bản, 1972.
07/  NGUYỄN Q. THẮNG và NGUYỄN BÁ THẾ; Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam; Sài Gòn, nxb Khoa Học Xã Hội, 1992.
08/  NGUYỄN VĂN MẠI; Việt Nam Phong Sử, bản dịch của Tạ Quang Phát; Sài Gòn, Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hóa xuất bản, 1972.
09/  NGUYỄN XUÂN KÍNH, PHAN ĐĂNG NHẬT và các tgk; Kho Tàng Ca Dao Người Việt; Sài Gòn, nxb Văn Hóa Thông tin, 2001.
10/  NGÔ VĨ LIÊN; Tên Làng Xã Và Địa Dư Các Tỉnh Bắc Kỳ; Hà Nội, nxb Văn Hóa Thông Tin, 1999.
11/  PHẠM NGÔ MINH – LÊ DUY ANH; Nhân Vật Họ Lê Trong Lịch Sử Việt Nam;  nxb Đà Nẵng, 2001.
12/  PHẠM VĂN SƠN; Quân Lực Việt Nam Chống Bắc Xâm Và Nam Tiến, quyển II,   1969; Gledale CA, Đại Nam tái bản, không đề năm.
13/  PHẠM VĂN SƠN; Việt Sử Tân Biên, quyển 1 ; Sài gòn, Khai Trí tái bản,1968.
14/  QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN; Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, bản dịch của Viện Sử Học, nhóm Hoa Bằng thực hiện, tập I; không đề nơi, nxb Giáo Dục, 1998.
15/  QUỐC SỬ VIỆN TRIỀU LÊ; Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, bản Chính Hòa, khắc in năm 1697, 27 quyển; bản dịch ấn hành thành 4 tập: Ngô Đức Thọ dịch tập 1 (10 quyển); Hà Nội, nxb Khoa Học Xã Hội, 1993.
16/  TRẦN ĐỘ; Văn Hóa Việt Nam; Hà Nội, Ban Văn Hóa Văn Nghệ Trung Ương, 1989.
17/  TRẦN THẾ PHÁP; Lĩnh Nam Chích Quái, bản dịch của Lê Hữu Mục; Sài Gòn, Khai Trí xuất bản, 1960.
18/  TRẦN TRỌNG KIM; Việt Nam Sử Lược, in lần thứ 7; Sài Gòn, nxb Tân Việt, 1964.
18/  VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM; Tên Làng Xã Việt Nam Đầu Thế Kỷ Thứ 19; Hà Nội, nxb Khoa Học Xã Hội, 1981.



MỤC LỤC

Mở bài    .    .    .    .    .    .    Trang    01
I     -    NHÀ NGÔ (939- 965)    .    .    .    .    01
Hình 1: Cửa sông Bạch Đằng lúc chiều tà    .    .    02
Hình 2: Lăng Ngô Quyền ở Đường Lâm, tp Sơn Tây    .    02
II    -    NHÀ ĐINH (968- 980)    .    .    .    .    02
Hình 3: Toàn cảnh vùng cố đô Hoa Lư    .    .    03
Hình 4: Cổng vào đền Đinh Tiên Hoàng ở Hoa Lư    .    03
Hình 5: Lăng Đinh Tiên Hoàng ở Hoa Lư    .    .    04
III   -    NHÀ TIỀN LÊ (980- 1009)        .    .    .    04
Hình 6: Đền vua Lê Đại Hành ở Hoa Lư    .    .    05
IV   -    NHÀ LÝ (1010- 1225)    .    .    .    .    06
Hình 7: Đền Đô tức Lý Bát Đế ở Đình Bảng    .    .    07
Hình 8: Quân ta vượt biên giới tấn công quân Tống    .    08
Hình 9: Lập phòng tuyến sông Cầu, cản đường quân Tống    09
Hình 10: Đền thờ Lý Thường Kiệt ở Thanh Hóa    .    10
Lời kết    .    .    .    .    .    .    .    10
Ghi chú    .    .    .    .    .    .    11
Tài liệu tham khảo    .    .    .    .    .    16
Mục lục    .    .    .    .    .    .    17- 18
  
Thêm bình luận


Đăng Nhập / Đăng Xuất