Trang thông tin liên lạc của cựu Giáo Sư và học sinh Trung Học Cường Để Qui Nhơn

Trang Facebook của cuongde.org

  • CD4 1200
  • DaiThinhDuong1200
  • NhaGiuXe1200
  • hinhCu 1200

(Đọc tập thơ "Lãng đãng giữa đời")

Ấy là tôi "chẻ ba" câu thơ của Trần Viết Dũng (chứ không phải "chẻ đôi câu thơ làm mái chèo lướt sóng" như lời một bài hát đang thịnh hành) để tạm đặt tên cho bài viết này - câu "Chỉ có hồn thơ còn sót lại ít nhiều" - lấy phần giữa, bỏ hai đầu! Nói như thế không biết Trần Viết Dũng có buồn lòng không, vì đến hôm nay có thể nói về anh như vậy, có lẽ cũng không ngoa lắm! Bởi sau đúng 15 năm, kể từ khi tập thơ đầu tay ra đời, bạn bè và bạn đọc chờ đợi mãi, chẳng thấy tăm hơi thơ anh đâu nữa! (Kể cả thơ lẻ in báo và thơ gom in thành tập). Mang niềm tiếc rẻ ấy tôi lần giở lại tập thơ "Lãng đãng giữa đời" của anh do nhà xuất bản Trẻ ấn hành từ năm 1993.

Phải nói ngay rằng đây là một tập thơ hay, ngay vào thời điểm nó xuất hiện (và có lẽ kể cả hôm nay nữa). Tập thơ hiển lộ một nét thơ tài hoa phóng khoáng từ câu từ, cấu trúc đến ý tưởng và cảm xúc sáng tạo. Đặt biệt là những trăn trở, nhận thức và suy nghiệm của người thơ về... thơ, về nghiệp dĩ, về cuộc đời và thế sự. Riêng cảm nghĩ về thơ có lẽ người đọc bắt gặp sự xuất hiện ở đây với tầng suất và mật độ nhiều nhất, 27 lần nhắc đến chữ "Thơ" (hoặc có liên quan, hơi hướm về thơ) trên 32 bài toàn tập. Một con người đau đáu về thơ như thế lại im hơi lặng tiếng đến ngần ấy thời gian, kể cũng là điều khó hiểu! - Hay là anh còn mải "lãng đãng giữa đời"?!

Lần theo từng trang sách, thử nhặt ra những băn khoăn thao thức của Trần Viết Dũng về thơ. Trước hết, thơ đã nuôi lớn và làm đẹp tâm hồn anh:

"Những bài thơ của các nhà thơ
Luôn ngọt ngào như dòng sữa mẹ
Nuôi hồn tôi từ trên nôi trẻ
Và dài ra cho đến bây giờ
...
Những bài thơ của các bạn tôi
Như chén rượu chiều đông nồng buốt
Gần gũi quá lâu ngày thành thuộc
Mỗi lần nghe tim trai trẻ bồi hồi
...
Và những bài thơ của chính mình/
Hơn một lần trái tim em biết hát
Tôi vậy đó khi yêu thường nhút nhát
Nên phải lòng nhau, thơ nói hộ chuyện mình!"
(Gạch nối thơ).

Không những thơ nói hộ chuyện mình mà thơ còn giúp anh vững tin hơn trên bước đời chống chếnh:

"Sau mỗi chuyến làm ăn thất bạI
Tôi với đời cay cú chuyện áo cơm
Thơ bỗng về hoà giải thiệt hơn
Và vỗ về, tôi cám ơn biết mấy!
...
Thì cũng đành vậy thôi em, bước
Không ngẩng cao đầu cũng cố thẳng lưng
Để cho thơ còn có lòng mừng
Còn tin tưởng vào những điều trong mộng!"
(Gạch nối thơ).

Do "mối tình" tri âm tri kỷ với thơ đậm sâu đến thế nên anh đã ôm một niềm "cô trung" với nó mặc cho bao sự "phiền hà" kể cả từ trong gia đình đến thói thường ngoài xã hội:

"Túng quẫn, vợ mắng yêu đồ thi sĩ!
Im lặng mỉm cười anh tiếp tục làm thơ...
Dù đời sống hành thơ kiệt sức
Cũng nhoài người ôm giữ trái tim"
(Khuyên mình)

và:

"Có những người đứng trên diễn đàn
Cứ mộng mơ những điều không thật
Nên người đời đâu quý kẻ làm thơ!"
(Tuỳ bút thơ).

Ngoài những phút giây thăng hoa, mê đắm, nhập đồng với thơ (đôi khi đến cực đoan) như thế, cũng có lúc Trần Viết Dũng bình tĩnh tỉnh ra và chiêm nghiệm rằng:

"Em bây giờ ở cuối đất cùng trờI
Làm sao biết xứ sở này - kẻ sĩ
Chữ nghĩa mốc meo tài năng hoen rỉ
Buồn cười thay mơ mộng viết thơ tình!"
(Thơ gửi chân mây)

Khổ hại thay, trong những "kẻ" ấy lại có chính mình:

"Ta lơ mơ trên bản thảo đời mình
Bao lần viết bao lần dập xoá
Nhiều lúc trông nét chữ mình rất lạ
Trang giấy bây giờ em nhận ra ta không?"
(Ngồi lại với bến sông).

Từ "đốn ngộ" ấy đã dẫn dắt Trần Viết Dũng (từ yêu thơ một cách cực đoan) đến những suy nghiệm có vẻ như yếm thế, tiêu cực (mặc dù có khi lại là rất thực):

"Nhiều khi thơ là phiến phù vân
Lững lờ trôi giữa chiều hoa định mệnh
Trong vô thường lặng lẽ bay đi..."
(Tuỳ bút thơ)

hoặc:

"Câu thơ của người làm thơ
Như sương lãng đãng hai bờ thực hư"
(Đôi khi).

Sự dằn xé, phân tâm và phân thân ấy còn được Trần Viết Dũng thể hiện như một thứ "hoài nghi chủ nghĩa" chát chua:

"Bài thơ một nửa lạc vần
Nhuộm lên mái tóc nửa phần thôi xanh
Nửa thiên thần ở trong anh
Giấu che nửa quỷ sa-tan cùng người!"
(Một nửa)

và:

"Tục rất tục, thanh rất thanh
Đời chìm nổi biến anh thành nhà thơ (!)
Chắc là em cũng không ngờ
Xưa kia là quỷ bây giờ là tiên!"
(Lột xác)

Nỗi niềm thơ của Trần Viết Dũng còn vương vấn ở những câu thơ hoài niệm khác:

"Em áo trắng xưa kia hoa khôi lớp
Ta học trò bỗng chốc hoá nhà thơ
Bài thơ đầu em mang đi đâu mất
Lỡ vần tôi từ dạo ấy đến giờ"
(Hoài niệm hoa)

"Em như câu lục một dòng
Anh như câu bát song song hai đầu"
(Lục bát)

"Tháng Giêng ngâm khẽ ca dao
Nắng tơ tóc mượt vườn đào giữa thôn"
(Ca dao)

"Ngâm câu thơ cũ
Nhớ người qua đây"
(Dáng thánh);

"Nhiều đêm trăng ngồi lại với bến sông
Nghe nước chảy êm ru dòng lục bát..."
(Ngồi lại với bến sông)...

Và, cuối cùng là một niềm tiếc nhớ mang mang trong hồn thơ Trần Viết Dũng, ghi dấu rõ nét nhất ở đoạn thơ mà người viết bài này đã mượn tạm một phần câu để đặt nhan đề:

"Ở sau lưng những ngày theo cơm áo
Biết lấy gì gửi tới bé dấu yêu/
Chỉ có hồn thơ còn sót lại ít nhiều...
Bé cứ tự nhiên soi và hồn nhiên hát..."
(Về lại vùng tuổi nhỏ).

Cái người thơ đau đáu về thơ ấy dĩ nhiên cũng là người biết đau đáu nỗi đời. Từ cổ chí kim từ đông sang tây, thử hỏi có nhà thơ chính trực nào mà lòng bình thản an nhiên trước lẽ đời không? Trần Viết Dũng cũng không ngoại lệ. Và đây chính là những đúc kết, những cảm nghiệm của anh:

"Sau chiến tranh ai ở lại xứ này
Cũng phải mắc chiếc thoi đời vào đôi chân xuôi ngược"

và:

"Đâu phải nụ cười nào cũng mang đầy sức sống
Có nhiều khi hạnh phúc nghe buồn!"
(Gạch nối thơ)

"Trước mọi người ta mãi lặng im
Mặt hổ thẹn như người chứng dối
Dắt ta qua ngõ tối tâm hồn"
(Tuỳ bút thơ)

Là người sinh trưởng ở đất Tây Sơn – Bình Định, anh có bài thơ cảm khái về thầy giáo Hiến - người thầy dạy của ba anh em "Tây Sơn tam kiệt" cũng rất thấm thía sự đời:

"Hai trăm năm hoặc hai ngàn năm sau
Mấy ai biết họ thầy: Trần, Đào, Trương, Nguyễn?
...

Cứ phạm thượng gọi thầy là giáo Hiến
Rạng rỡ sư môn nên "áo vải cờ đào"
...
Con về lại bến sông quê ngược dòng ký ức
Bước lảo đảo giữa hai bờ hư thực
Nghe giọng bất tài vỗ ngực ta đây!..."
(Tâm sự gửi thầy giáo Hiến).

Nhắc đến thầy giáo Hiến, nhắc đến "áo vải cờ đào" bạn đọc không thể nào không nhớ bài thơ lấy cảm hứng từ mối tình vua Quang Trung và công chúa Ngọc Hân khá hay của Trần Viết Dũng, được nhiều người thích, thuộc và truyền tụng:

"Xưa Hoàng đế để ria con kiến
Rất thời trang và rất phong trần
Nên chi con gái Thăng Long ấy
Cứ phập phồng ngực Công chúa Ngọc Hân!"
(Vua và em)

Câu thơ thể hiện rõ nét tài hoa phóng túng của tác giả! Ngoài những băn khoăn day dứt về thi ca và thế sự nhân tình thì tình yêu cũng là một mảng đề tài ghi dấu ấn đậm nét trong tập thơ. Tình yêu trong thơ Trần Viết Dũng thường là những hoài niệm tiếc thương về những mối tình đã trở thành dĩ vãng xa xăm, và vì thế tất cả đều trở thành một nét đẹp ngậm ngùi, mỏng manh, phiêu lãng:

"Bắt đầu bàn tay nâng trái cấm
Loài người từ đó biết khổ đau
...
Ngõ hạnh tôi em bắt đầu bước lạI
Cây đau thương cũng từ đó bắt đầu!"
(Bắt đầu);

"Từ em con sáo sang sông
Nay tôi về lại Phú Phong đợi đò
Dò sông dò bể dễ dò/
Câu ca dao cứ vòng vo trong lòng
...
Dò sông dò bể dễ dò
Nay tôi về lại đợi đò Phú Phong
Một mình giữa ngã ba sông
Dù xa mặt chẳng cách lòng, người ơi"
(Đợi đò)

"Cầu Đôi này anh từng chở em qua
Ai khéo đặt tên nghe buồn cười thế
Khi những kẻ yêu nhau hoài hoài đơn lẻ
Nước vẫn xanh cúi xuống chỉ riêng mình!
...
Con đường này ôm lấy bùng binh
Đường một chiều làm sao quay lạI
Đâu còn thuở mười lăm mười bảy
Ngược vòng xe liều lĩnh đi tìm"
(Đêm trở lại Qui Nhơn)

"Ta như một tấm vải thưa
Em con mắt thánh có lừa được đâu!
Niềm mong ước đã xanh râu
Lòng ta hợp phố mà châu xa lìa"
(Ca dao Bình Định ở Kon Tum)

"Em còn đâu nữa
Em còn nữa đâu!"
(Dáng thánh)

... Xa vắng những mối tình khiến lòng người khao khát:

"Có những lúc anh dường như vỡ mộng
Về ngồi im hoá thạch giữa rừng cao
Em đâu biết lửa trong lòng đá nóng
Thèm khát bàn tay ai đó chạm vào"
(Đá xanh)

... Đôi khi khao khát một cách liều lĩnh, không tưởng (mà... đáng yêu sao):

"Nếu ngày mai tận thế
Có kịp về không em
Chúng mình cùng nhắm mắt
Dưới bóng tối dịu êm!"
(Tưởng tượng ngày tận thế).

Và cuối cùng là tiếng thở dài như một lời khấn nguyện của kẻ cô đơn:

"Nếu vắng bé làm sao anh sống nổI
Dưới trần gian vốn đã chẳng vui này!"
(Về lại vùng tuổi nhỏ).

Một con người đằm thắm như thế, tài thơ dào dạt như thế, lẽ nào "chỉ có hồn thơ còn sót lại ít nhiều" vậy thôi sao? Mong sao "thơ bỗng về hoà giải thiệt hơn" để bạn đọc còn có dịp đón nhận thêm những tác phẩm khác, đừng để "lạc vần tôi từ dạo ấy đến giờ" nữa, Trần Viết Dũng nhé!

Tạ Văn Sỹ
(Kon Tum, 03-2008)
  
Bình luận


Đăng Nhập / Đăng Xuất