Trang thông tin liên lạc của cựu Giáo Sư và học sinh Trung Học Cường Để Qui Nhơn

Trang Facebook của cuongde.org

  • hinhCu 1200
  • DaiThinhDuong1200
  • NhaGiuXe1200
  • CD4 1200

Khi viết về mẹ, người ta thường nhớ đến những kỷ niệm êm đềm của thời thơ ấu, có tiếng ru hời của mẹ. Lớn lên một chút, là kỷ niệm những ngày theo mẹ lên chùa, đi chợ tết hoặc hình ảnh tảo tần một nắng hai sương của mẹ. Nhưng với tôi, ngoài những kỷ niệm dịu dàng, tôi lại có những kỷ niệm đáng nhớ khác. Đó là những khi bị mẹ đánh đòn. Với tôi, bị đòn không phải là chịu sự trừng phạt mà là học, những bài học về đạo đức.

Thuở bé, trong các anh em trong nhà, tôi là một đứa trẻ hiếu động, tinh nghịch nên thường bị đòn nhiều nhất. Những khi phạm lỗi, mẹ bắt nằm trên phản hạch tội rồi lấy roi quất xuống phản “đánh đét” một cái. Tuy roi không đánh vào người nhưng tiếng roi làm tôi giật nẩy mình, sợ xanh cả mặt!  Nếu là lỗi lần đầu tiên phạm phải, thì mẹ nhắc nhở và cho khất nợ nếu còn tái phạm thì sẽ bị đòn gấp đôi.

Bị đòn thì đứa trẻ nào cũng sợ nhưng cái tật ham chơi làm tôi thường quên đi lời mẹ dặn. Một hôm, tôi lại theo bọn trẻ trong xóm trèo cây bắt mấy ổ chim se sẻ con, việc trèo cây bắt chim lọt đến tai mẹ, tô đã vội vàng nghĩ đến cái quần soóc nào dày nhất nằm trong tủ áo. Mẹ tội cho rằng tội bắt chim con là một tội nặng, mẹ nói chim mẹ mất con sẽ rất đau khổ, chúng bay quanh tổ tìm con, cất tiếng kêu rất thảm thương. Mẹ còn kể chuyện người thợ săn bắn chết vượn con, vượn mẹ đau đớn, thương con đứt ruột mà chết. Loài vật nào cũng có tình mẫu tử.

Lần bắt chim con trước đó, tôi chỉ bị mẹ la rầy chứ mẹ không kể chuyện, tôi nghĩ rằng chắc mẹ sợ tôi leo trèo mà té ngã. Lần này tuy là tái phạm, tôi vẫn không bị đòn, nhưng sau khi nghe lời răn dạy của mẹ, tôi bắt đầu hiểu về thân phận của những chú chim con mất mẹ và nỗi đau của mẹ chúng rồi tôi liên tưởng đến những đứa trẻ mồ côi bị bỏ rơi được nhà chùa đem về nuôi dưỡng mà có lần mẹ dẫn tôi đến thăm. Các trẻ mồ côi đứng tựa cửa nhìn tôi và mẹ với đôi mắt xa xăm thật buồn. Từ đó, tôi không còn theo lũ trẻ hàng xóm leo trèo bắt chim nữa.

Không chỉ răn đe con đôi khi bằng roi do nghịch ngợm, mà mẹ còn dạy chúng tôi học chữ. Theo lời mẹ kể, những năm đầu thế kỷ 20, người phụ nữ ít được đi học nhưng ông ngoại tôi là nhà giáo, nên mẹ và các dì đều được học chữ quốc ngữ. Mẹ là người khai tâm cho anh em chúng tôi trước khi đến trường.

Sự biết đọc biết viết của mẹ là điều vô cùng hãnh diện đối với chúng tôi, bởi nhà tôi lúc ấy rất thường có các bà các cụ đến nhờ mẹ tôi dạy học kinh, vì nhiều đạo hữu của mẹ thời ấy không biết chữ. Những câu kinh âm thầm lưu vào ký ức tuổi thơ của tôi một cách lặng lẽ, mặc dầu  tôi chẳng hiểu lấy đến một câu một chữ! Không những thế, đôi khi tôi còn nghịch ngợm, hồn nhiên giả ra dáng nghiêm trang ngồi tụng kinh, mắt lim dim, tay gõ nhịp lên chiếc gáo dừa, miệng ê a..

“Sắc bất dị không, không bất dị sắc,
Sắc tức thị không, không tức thị sắc..”

Đó là những khi mẹ vắng nhà, không còn trò nào bày ra để tinh nghịch. Nhưng không ngờ, những câu Tâm kinh tưởng như vô nghĩa trong thời thơ ấu ấy, nay lại là hành trang để tôi bước vào cuộc sống, mà những khi vấp ngã trên đường đời, thấy cái đau được nhẹ nhàng hơn.

Mẹ dạy một hạt cơm rơi vãi trong bữa ăn cũng phải nhặt lại để cho lũ chim ngoài sân. Mẹ nói hạt cơm là hạt ngọc trời cho, không được phung phí. Những hạt cơm rơi vãi đối với người chẳng là bao, nhưng đó là sức cần lao của người nông dân và là bửa ăn no đủ cho bọn chim, cái kiến, nhất là khi mùa đông về.

Mẹ còn dặn chúng tôi khi thấy những giấy báo nào có in chữ Hán, mẹ cho đó là chữ để viết kinh Phật, thì phải nhặt về để đốt, đừng để người khác giẫm đạp mà phải tội. Câu chuyện ấy nay nhắc lại cả nhà ai cũng cười, nhưng tôi lại cho rằng mục đích của ngôn ngữ là con thuyền chuyên chở tri thức và đạo lý nên cần được trân trọng, dù đó là bất cứ ngôn ngữ nào. Nhặt những tờ giấy có in chữ Hán để đốt chỉ là hình thức, còn với cái tâm của mẹ, thì những ký tự ấy là phương tiện để truyền tải những lời Phật dạy.

Sau này, khi chúng tôi đã trưởng thành, đã ra riêng, và thường cùng con cháu về vấn an mẹ vào những ngày chủ nhật, trong những buổi họp mặt, anh em tôi thường nói đủ chuyện trên đời: chuyện xã hội, chuyện thế giới, về công việc làm ăn, chuyện ngày mai...Có lần mẹ ngồi yên lắng nghe, tay lần chuỗi hạt, rồi cất tiếng: Có bệnh thì vái tứ phương. Không bệnh, chẳng mất nén hương giấy vàng.

Cô con gái tôi ngồi “hóng” chuyện chợt thốt lên: “Bà nội nói câu gì nghe lạ quá!” Tuy vậy, với chúng tôi, câu ca dao như một dấu lặng, chen vào giữa câu chuyện đang hồi sôi nổi, tưởng như chẳng ăn nhập vào đâu, nhưng rồi chúng tôi hiểu ra, mẹ đưa chúng tôi về thực tại, mẹ không nói về nhân quả, mẹ muốn chúng tôi gieo những hạt lành cho tương lai bằng cách quay về đời sống tâm linh.

“Nén hương giấy vàng" là lời khuyên của mẹ về sự tu tập của bản thân, khuôn mình qua hình thức thờ phượng, nương tựa vào chánh pháp để bảo hộ mình, tránh gieo nhân xấu, để mai sau rồi lại phải “vái tứ phương” khi thấy chúng tôi quá say mê với những dự phóng tương lai, sợ lại quên đi phút giây hiện tại. Mẹ muốn chúng tôi là những đứa trẻ chăn trâu, để mắt đến trâu, không để những con trâu tâm tính còn hoang sơ  rong ruổi vui chơi mà quên mất đường về khi chiều xuống, rất mau.

Mẹ không buộc chúng tôi đi theo con đường tâm linh của gia đình như là một sự bắt buộc, hay mặc nhiên phải là ngay từ khi chào đời như truyền thống của những tôn giáo khác, nhưng suốt cuộc đời, mẹ sống giản dị, sống trọn lành với năm giới mẹ thọ từ thầy bổn sư, mẹ dạy con từ chính cách hành xử của bản thân mình. Cách thân giáo của mẹ làm chúng tôi tiếp nhận những bài học đạo lý một cách rất hồn nhiên, chẳng chút giáo điều và trở thành nếp làm, nếp nghĩ một cách tự nhiên trong sinh hoạt hàng ngày mà không hề ý thức đến.

Mấy hôm nay trời chuyển mùa, mưa nắng thất thường, người già thường khó ở, tôi đến thăm mẹ. Mẹ ngồi đó, tay lần chuỗi hạt, dáng khẳng khiu, dấu thời gian đọng lại trên khuôn mặt. Thời gian trôi qua làm thay đổi muôn vật, hàng sao được trồng trên con đường trước nhà năm nào nay đã tỏa bóng mát. Nhưng những bài học đầy tính nhân văn của đạo Phật mà mẹ dạy chúng tôi vẫn như xưa, được tiếp nối qua nhiều thế hệ trong gia đình như một dòng suối ngầm.

Có lần tôi tự hỏi, nếu những bài học đầy tính nhân văn đó vẫn giữ được nguyên giá trị, không thay đổi theo thời gian, vậy sao nhà Phật thường nói đến vô thường? Nhưng rồi tôi thoáng hiểu, khi lần giở những trang kinh Phật thuyết trong Năng Đoạn Kim Cương:

"Nầy Tu-Bồ-Đề! Ông chớ nói rằng đức Như-Lai nghĩ thế nầy: Ta nên có chỗ thuyết pháp, ông đừng nghĩ như thế. Bởi vì sao? Vì nếu người nào nói rằng: Đức Như-Lai có thuyết-pháp, thời là hủy báng đức Phật, không hiểu được nghĩa-lý của Phật nói.
“Nầy Tu-Bồ-Đề! Thuyết pháp đó chính thiệt không có pháp chi nói được, đó tạm gọi là thuyết pháp."

Vâng, theo kinh, đức Phật thuyết mà không thuyết, thường và vô thường chỉ là  khái niệm của tâm phân biệt. Giáo pháp âu cũng chỉ là cái bè để qua sông.. và những bài học đạo lý của nhà Phật mẹ dạy, cũng chính là phương tiện để chúng tôi nương theo trong cuộc sống hôm nay..

NTC

Nguồn : Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo. Số 158  Ngày 1-8-2012.

Bình luận


Đăng Nhập / Đăng Xuất