Trang thông tin liên lạc của cựu Giáo Sư và học sinh Trung Học Cường Để Qui Nhơn

Trang Facebook của cuongde.org

  • hinhCu 1200
  • NhaGiuXe1200
  • DaiThinhDuong1200
  • CD4 1200

LTS : Nhà thơ Võ Chân Cửu là dân Bình Định, cựu học sinh Qui Nhơn hiện đang ở Việt Nam đang chuẩn bị xuất bản tập Tạp bút “Có một dòng thơ Sài Gòn trước ’75″. Chúng tôi xin giới thiệu bài mở đầu của tập sách viết vế Thi Sĩ Quách Tấn.

Thi sĩ Quách Tấn

“Cho tới bây giờ, ông vẫn chỉ là người chắp tay nhìn dòng đời ! ” Câu kết luận của một người bạn lúc tan tiệc cuối năm không hiểu là lời khen hay chê. Nhưng nếu nhận xét ấy đúng thì cũng là điều thú vị !

“Đây là chốn nương mây và cậy nguyệt,
Đàng chờ xe, sông nước ước mong thuyền
Tịch dương liễu không biết mình đang biếc
Tương tư trời, tương tư nhạc triền miên…

Đó là đoạn mở đầu bài thơ thi sĩ Yến Lan viết thuở còn rất trẻ về quê hương Bình Định của mình. Người sau, dù căn cứ vào hình tượng và nhạc điệu xếp nó vào là thơ tượng trưng hay siêu thực trong thời mở đầu của “Thơ mới”, thì cho đến hôm nay đó vẫn là những câu thơ thuộc loại hay nhất.

Thời suy tàn

Đầu thế kỷ 20, khi Nho học suy tàn, chữ quốc ngữ lên ngôi thì “giỏi làm thơ” không còn là một trong những điều kiện để tiến thân trên đường khoa bảng, quan lại nữa. Nhưng trong chương trình giáo dục ở Miền Nam sau 1954, Việt Văn vẫn được coi trọng là một trong các môn học chính. “Văn” có 2 thể: văn xuôi và văn vần. Văn vần bao gồm cả thơ, ca, hò vè, hát nói, hát bội, cải lương…Nhưng khi chữ viết ngày càng phát triển, người ta lại gọi người làm văn chương bằng 2 tên là nhà văn, hoặc nhà thơ. Sự phân biệt này suy ra là có lý nhưng cũng chỉ có giá trị tương đối-vì có không ít “nhà văn” lại có những bài thơ hay để đời, hoặc ngược lại. Chẳng hạn như Thanh Tịnh với “Hôm nay tôi đi học…” !

Ở lớp đệ lục (về sau là lớp 7), học sinh đã bắt đầu làm quen với phần văn học cổ điển. Bài giảng có phần phân tích, lý giải khá kỹ về các thể loại thơ, từ Đường luật đến song thất lục bát, và tất nhiên là có cả lục bát, cách gieo vần đặc thù của người dân Việt Nam khắp mọi miền. Sự mầu nhiệm của ngôn ngữ thể hiện qua vần điệu. Học sinh giỏi phải thuộc và hiểu cách gieo vần. Tôi bắt đầu hiểu rằng nếu biết diễn đạt theo các quy luật, như “Nhất Tam Ngũ bất định, Nhị Tứ Lục phân minh”, văn vần sẽ tạo ra được sự kỳ diệu của ngôn ngữ.

Thị xã Quy Nhơn được triều đình Huế ra sắc lệnh thành lập năm 1898, cùng một lượt với các đô thị Huế, Hội An, Phan Thiết ở Miền Trung. Năm ở cửa vịnh, Quy Nhơn có hình tam giác, hai cạnh là những dãy núi. Khu trường Cường Để cũ nối liền với công viên trung tâm là những nền cát đầy thực vật hoang dại, nhiều nhất là keo gai và cây tảo nhơn, có trái hấp dẫn với tuổi học trò. Học sinh nam nữ tụ tập chơi từng nhóm riêng. Phổ thông là trò đuổi bắt. Tuổi mới lớn, bọn trai nghịch có màn núp rình, rồi lén chạy đến bịt mắt các bạn gái…và chạy trốn. Tất cả đều hồn nhiên. Tôi và một số thích môn quốc văn thì ở một góc riêng. Chúng tôi thách đố nhau xem ai có thể gieo vần được thành những bài thơ thất ngôn, ngũ ngôn hay tứ tuyệt, và cả những câu thơ lục bát “bằng bằng, trắc trắc, bằng bằng…” Từ năm đệ Ngũ (lớp 8), thầy giáo bắt đầu cho làm quen với thơ văn chữ Nôm với những Nguyễn Trãi, Nguyễn Du…; chuẩn bị cho chương trình văn học chữ quốc ngữ của những Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương để tới các thế hệ của Tản Đà, Phan Bội Châu và nhóm Thơ mới, Tự lực Văn đoàn sau đó…(Qua chương trình Trung học đệ nhị cấp, các bài học căn bản này sẽ được nâng cao).

Là chốn “nương mây và cậy nguyệt” nên từ chương trình học ấy, nhiều “bút đoàn”, “thi văn đoàn” sơ khai đã ra đời. Thành phố Quy Nhơn từ năm 1965 là đô thị lớn thứ 3 ở miền Nam, chỉ sau Sài Gòn, Đà Nẵng nên cũng phát triển về văn hóa, giáo dục. Trường Quốc gia Sư phạm được lập ra, thu nhận giáo sinh suốt giải Miền Trung từ Huế trở vào để đào tạo giáo viên bậc tiểu học. Hệ thống trường Kỷ thuật chỉ mở ở các tỉnh lớn, nhận học sinh từ lớp đệ ngũ. Năm 1966, Nguyễn Lương Vỵ (NLV) từ Tam Kỳ vào học Kỷ thuật Quy Nhơn, cùng lớp với Hồ Ngạc Ngữ. Anh kết bạn vào nhóm “Thi văn đoàn” Hồn Quê do tôi, Ngữ và Lê Xuân Tiến (lúc này là Lê Phiên Vươn) lập ra…Quy Nhơn lúc này cũng có một số “Bút đoàn” khác nhưng “tiếng tăm” nhất vẫn là nhóm của chúng tôi.

Sau vài tháng chép tay các sáng tác trên vở tập, truyền nhau như một loại “lưu bút”, chúng tôi kháo nhau gửi bản thảo vào đăng các báo, tạp chí ở Sài Gòn. Có đà, “Hồn Quê” gửi thư giao lưu khắp các bút đoàn ở Sài Gòn cũng như các tỉnh. NLV ở nhờ nhà người chú. Cô gái em ruột của gia chủ học sau chúng tôi vài năm, nhưng Vỵ phải gọi vai “cô”. Cô này khá xinh xắn, mua hát hay nên cả Ngữ và Tiến kiếm cớ giao lưu, thường hay đến nhà. Những bài thơ tình học trò đầu tiên đã ra đời…Khi lên Trung học đệ nhị cấp, đa phần các “bút đoàn” đều tự giải tán vì ai nấy bắt đầu lớn ngồng, và đã có bài đăng ở các báo, tạp chí Sài Gòn.

Các thi sĩ nổi tiếng trước đó ở đất Quy Nhơn và Miền Trung, người thì bị bệnh nan y (Hàn Mặc Tử, Bích Khê), người lãng mạn “quá trớn” hoặc gần hoang tưởng (như Xuân Diệu, Chế Lan Viên..), nên đa phần các bậc cha mẹ lúc này không ai muốn con mình theo nghiệp văn chương. Nên chúng tôi dù đã sáng tác đầy các tập vở, nhưng đều phải giấu đi, để phụ huynh thấy mình chỉ lo học tập, phải thi đậu lấy mảnh bằng. Nếu không thì sẽ rơi vào cảnh “Rớt tú tài, anh đi trung sĩ…”

Học sinh trung học ở nhiều trường sau những cuộc xuống đường “hoan hô”, “đả đảo”, cũng bị phân hóa thành nhiều nhóm: phản chiến, thân cộng, hoặc ủng hộ chính quyền. Năm này, vừa lên lớp đệ Nhị ban C, tôi gặp phải một sự cố khó xử. Tại cuộc họp Ban đại diện các lớp toàn trường, chính vị giáo sư hướng dẫn lớp đã đứng ra cử tôi làm trưởng ban báo chí toàn trường ! Tôi rất biết ơn vị thầy này, vì trong những năm dạy đệ nhất cấp đã hướng dẫn học sinh khá kỹ về chương trình văn học sử và niêm, luật các thể thơ. Nhưng làm trưởng ban báo chí có nghĩa là đứng chân Ban đại diện học sinh, phải biểu lộ thái độ trước các sự kiện chính trị. Nên tôi cương quyết từ chối không nhận chức. Từ đó, vị giáo sư hướng dẫn và một số thầy, bạn nhìn tôi với ánh mắt thiếu thiện cảm, cho rằng tôi tự cao, xem mình “đã nổi tiếng” nên không lo việc cho nhà trường.

Hai người thầy

Tuổi sắp vào đời, tâm hồn ai cũng nhiều ước mơ phiêu lãng. Lấy lý do chuyện “trục trặc” ở nhà trường, tôi nài nỉ cha mẹ cho tôi vào Sài Gòn học tiếp. Nhờ sự giới thiệu khá đặc biệt, và có lẽ cũng căn cứ vào học bạ, trường trung học công lập Chu Văn An đồng ý cho tôi vào lớp, trễ 1 tháng sau khai giảng.

Ở bậc trung học đệ nhị cấp, trường nào cũng đều có ít học sinh theo học ban C (văn chương-sinh ngữ). Vào học trễ, tôi chọn chỗ ngồi nơi cuối lớp. Tôi dáng to xương, mặt nông dân chữ điền, cung cách khá “quê mùa tỉnh lẻ”. Vậy mà không hiểu vì sao, chỉ sau mấy ngày, nhân vật trưởng ban báo chí của lớp lại đến làm quen, bảo tôi tham gia viết bài, sáng tác cho tờ nội san của lớp ! Tôi lại phải tìm cách từ chối. Sau đó tôi mới biết anh này là người có cảm tình với phía “bên kia”, các sáng tác đều theo hướng “dấn thân”, tranh đấu. Ham làm chính trị, nên cuộc đời anh về sau trải qua nhiều thăng trầm. Sau năm ‘75 anh làm đến chức trưởng mọt phòng biên tập tờ báo của Thành Đoàn, nhưng về sau lại vỡ mộng “dấn thân…” Năm 2010 anh cùng vài người bạn thân đứng ra sưu tập 108 bài thơ hay về… rượu, in thành tuyển thơ “Cùng một lứa bên trời lận đận”. Sách được nhiều người ái mộ, tìm mua.

Giảng dạy môn Việt văn cho lớp đệ Nhị C trường Chu Văn An chính là thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Thầy đảm nhận công việc ở nhà trường nổi tiếng này liên tục từ năm 1954 sau khi từ Hà Nội vào ! Thầy thường mặc bộ đồ veston màu vàng sữa, thắt cà vạt, tay áo cài măng-sét, đầu đội mũ phớt màu nâu, ung dung ngồi trên xích lô đạp đến trường. Vào lớp, khi tất cả học sinh đã đứng dậy, thầy bỏ mũ lên bàn rồi cầm ngay viên phấn trước khi vẫy tay cho phép học sinh ngồi xuống. Với nét chữ rất bay bướm, thầy chép ngay mấy câu thơ trong chương trình học lên bảng. Chỉ bấy nhiêu đó. Xong, thầy chầm chậm đi lên đi xuống từ đầu đến cuối lớp. Thầy ngẩng mặt lên trời giảng về cái hay của mỗi bài thơ. Cuối giờ, thầy chỉ các bài cần đọc thêm, học sinh phải tự tìm hiểu để hiểu cái hay cái đẹp của văn chương. Cách giảng dạy ấy rất khác với kiểu từ chương, “học thuộc làu”. Vậy mà kỳ thi tú tài 1 năm ấy, hơn một phần ba lớp, trong đó có tôi, đã đậu với hạng bình thứ, điều rất hiếm đối với học sinh ban C. Cũng năm này, bút hiệu mới tôi chọn (V.CH.C) lần đầu tiên xuất hiện trên tờ Khởi Hành với bài thơ “Chùa cổ bên sông”. Bài thơ “đầu tay” này đến nay được có mặt trong khá nhiều Tuyển tập xuất bản ở trong nước cũng như hải ngoại.

Năm 1969, thi sĩ Vũ Hoàng Chương hoàn chỉnh bản thảo để xuất bản tập “Ta đợi em từ ba mươi năm”. Ông sinh năm 1916, vào năm 1940 xuất bản tập thơ đầu tiên và tiếng tăm vang dội ngay. Người ta nhận ra dù sử dụng các thể thơ cổ điển, nhưng Vũ Hoàng Chương có sự cách tân cả về từ và ý. Chương trình lớp đệ nhị có phần giảng về thơ mới, nhưng ít khi thầy giảng về thơ mình. Có đôi lần, có lẽ vào giờ “ngoại khóa”, thầy chép mấy câu thơ của mình lên bảng, rồi lại đi tới đi lui. Sau đó thầy dùng phấn gạch chéo một chữ trong bài rồi thay bằng một từ khác mới nghĩ ra. Thầy nói rằng từng chữ trong câu phải phù hợp với kết cấu của vần điệu từng câu và trọn bài. Có như vậy bài thơ mới hay, khiến người ta nhớ mãi.

Ta đợi em từ ba mươi năm
Uổng hoa phong nhụy, hoài trăng rằm
Heo may chớm đã lên mùa gió
Ngăn ngắt chiêm bao, lạnh chiếu nằm

Bốn câu trong bài thơ “Chờ đợi hoài công”- một trong những bài thơ chủ lực trong tập thơ này cũng được thầy hoàn chỉnh trong tình huống như vậy. Có lần trong giờ nghỉ, ở phút trò chuyện về thơ hiện đại, thầy bộc lộ ý kiến, là hình thức diễn đạt thơ không nên quá khúc mắc. Vì nếu khúc mắc quá thì chỉ có một số người trong nghề và giới trí thức hiểu và ưa thích.

Một số học sinh như tôi nhận ra rằng mặc dù sử dụng các thể thơ cổ điển, nhưng ngôn từ thơ người thầy của mình luôn sang trọng. Nó chứa đựng hình tượng và âm điệu tài hoa, kể cả khi ông dùng thể lục bát, như trong một bài thơ đượm nét u huyền :

Ý đàn

Mơ xanh đắng vị thu già
Sắt vàng chen, ngón tay ngà gió mưa
Chiều nay gợi nhớ chiều xưa
Bao giờ quên phút bây giờ cho chăng?
Lòng hoa nghiêng dáng cầm trăng
Phím dây bừng thức cung Hằng áo xiêm
Lắng tai càng vẩn nỗi niềm
Thoắt dồn mau thoắt buông chìm tiếng tơ
Sóng đàn ngây nhịp chèo thơ
Mà bên thuyền chỉ hững hờ nước trôi
Một cung Lưu Thủy ngậm ngùi
Men thiêng hồ dễ say người được sao
Lỡ nhau mùa chớm bông đào
Gặp nhau thà giấc chiêm bao trước đèn
Tỉnh thôi gối lệ đầm hoen
Tiệc tan bèo nước sầu lên hôn hoàng
Chơ vơ một đảo lòng hoang
Chiếu câm màu biển tường loang sắc trời
Quanh mình phấn rụng hương rơi
Cánh phiêu lưu chợt rã rời bướm hoa
Tiếng cầm chưa tắt dư ba
Nao nao nguồn máu lời ca vọng về
Rối tung hai mái tóc thề
Mây trời cỏ đất lê thê bóng chiều.

Tập thơ cuối, xuất bản đầu năm 1975 của Vũ Hoàng Chương như một lời tiên tri : “Chúng ta mất hết, chỉ còn nhau”. Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, diễn giả chính của buổi mừng sự nghiệp Vũ Hoàng Chương khi đó, đã kết luận :Vũ Hoàng Chương là người sinh ra để làm thơ !

Lời khuyên của các phụ huynh thời tôi còn đi học xem vậy mà rất đúng. Biết làm thơ, chẳng đem lại ích lợi gì trên đường tiến thân ! Đến sau này, có khi nó còn là cái cớ để có thể bị dò xét về lý lịch !

Mặc dù suốt thời gian dài sau 1975, tôi ít khi gửi thơ đăng báo. Nhưng vào thời “đổi mới”, trong một gặp gỡ tình cờ, một “quan thơ” thời danh nheo mắt dòm tôi, hỏi:

– Ông là nhà thơ ?
Như một phản xạ, tôi trả lời ngay:

– Sách vở đã tổng kết 80 % người dân Việt Nam có tâm hồn thi sĩ !
Nghe câu này, vị “quan thơ” khoái chí gật gù: một trong 80 % !

Khoảng năm 1990, có dịp ra Nha Trang, tôi kể chuyện này với thi sĩ Quách Tấn. Thi sĩ không nói gì, chỉ lẳng lặng vào mở cái tráp (hộp đựng đồ quý, thường làm bằng gỗ), lấy ra một tờ bản thảo đưa tôi xem:

Thương mình nặng nghiệp văn chương
Đã tơ khúc ruột còn sương mái đầu
Mênh mông biển nhuộm màu dâu
Trăm năm thế ấy nghìn thu thế nào ?

Tôi trầm ngâm đọc, rồi trả lại, không nói một câu nào. Người thi sĩ già đã có sự cảm thông và chia sẻ quá lớn !

Bài thơ trên có tựa đề Thương mình, trong tập thơ lục bát Trăng Hoàng Hôn mà ông mới viết. Quách Tấn sinh năm 1910, là một trong 4 nhà thơ (cùng Yến Lan, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử) của nhóm “Bàn thành tứ hữu” ở đất Bình Định (Bàn là viết tắt của Đồ Bàn) . Ông chuyên làm thơ Đường luật, từ 1932 đến 1974 chỉ làm một tập thơ lục bát hơn một trăm bài lấy tựa là “Nhánh lục”. Thời gian từ 1975-1977 ông lại làm nhiều thơ lục bát, có thêm tập “Trăng hoàng hôn”. Thơ lục bát của Quách Tấn về tứ cũng mang nhiều điển tích của thơ cổ. Nhưng thi sĩ sử dụng ngôn ngữ rất nôm na, dễ hiểu. Độc giả dễ chạnh lòng trước nỗi cô đơn trước thời đại của nhà thơ.

Tôi vẫn xem Quách Tấn như một người thầy lớn, dù chưa được ông dạy ở lớp học giờ nào. Năm 1970, tôi vào trường Đại học Văn khoa Sài Gòn, nhưng vẫn ghi danh thêm trường thứ 2 tại Đại học Vạn Hạnh. Chỉ vì danh sách giảng dạy ở trường Vạn Hạnh có thi sĩ Quách Tấn là Giáo sư thỉnh giảng. Chẳng may khi đó, thi sĩ bị bệnh Glaucome (cườm mắt) trở lại, việc đi giảng bài phải hủy bỏ.

Sinh viên thời trước có thể lấy Cours về học ở nhà, khỏi đến lớp nghe giảng. Nên tôi vẫn ngược xuôi về 3 đô thị lớn ở Miền Trung là Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang để nói chuyện hão với anh em làm văn nghệ. Nếu Đà Nẵng, Quy Nhơn bùng phát nhiều thi sĩ mới, thì Nha Trang lại nổi trội các cây bút văn xuôi. Có lẽ do vậy nên khi tôi đến nhà, thi sĩ rất vui. Ngày đó, đi học là phương thức lãnh giấy hoãn dịch hiệu quả nhất, nên tôi có ý định sẽ tiếp tục trải qua các bậc sau đại học. Tôi ngỏ ý sau này sẽ nhờ thầy hướng dẫn để làm luận văn cao học về thơ của các nhà thơ hình thành nên nền văn học chữ Nôm ở các thời Lý, Trần, Lê…Thi sĩ Quách Tấn rất hoan hỉ, và ngay từ đó đã giới thiệu với tôi nhiều tư liệu, đề tài liên quan. Đầu năm 1975 khi tôi ngỏ ý đứng ra chủ trương một tập san chuyên về Thơ đầu tiên ở Việt Nam, thi sĩ Quách Tấn trao ngay cho tôi bản thảo “Khóm mận ba nhành” để đăng ngay trong số đầu tiên, và còn góp ý cách làm nội dung để tờ báo có thể đứng vững.

Sau biến cố 1975 mỗi lần qua miền Trung tôi vẫn ghé thăm thầy, được nghe nhiều lời dạy bổ ích trong đối nhân xử thế, hiểu rõ hơn về tính cách của các thi sĩ “Bàn thành” xưa. Tôi nhớ nhất là lời dặn: hết sức cẩn trọng khi đưa bài vở ra các phương tiện thông tin. Dù một tờ báo nhỏ cũng không được coi thường, vì “tiếng dữ đồn xa” sẽ làm mất thanh danh của mình. Các tư liệu nghiên cứu, sáng tác cũng vậy, chỉ nên trao cho người đáng tin cậy. Thời buổi vàng thau lẫn lộn, không thiếu những kẻ chỉ lăm lăm “xơi hết của người”. Một vài tư liệu nghiên cứu của thầy, trước đó do đưa không đúng chỗ, đã bị nhiều nơi chiếm đoạt làm nội dung luận án tiến sĩ !

Ngày 21-12-1992 thi sĩ Quách Tấn từ giã thế gian để đi vào “Mùa cổ điển”. Nhận được tin, tôi viết ngay bài tưởng nhớ, trong đó trích dẫn bài thơ Trước-Sau mà thầy đã đọc cho nghe và tôi thuộc lòng ( bài thơ này trước đó chưa hề đăng báo nào) :

Trước Tết mai là hoa
Sau Tết mai là củi
Trước bao nhiêu nâng niu
Sau bao nhiêu buồn tủi

Nâng niu mai chẳng mừng
Hất hủi mai không tủi
Nghìn trước nối nghìn sau
Khe trong lồng bóng núi.

Nhà văn Cao Huy Khanh (Huy Vĩnh) khi đó là Thư ký toà soạn của tờ Người Lao Động cuối tuần, liền cho in ngay bài viết này. Đó là bài tưởng nhớ thi sĩ Quách Tấn xuất hiện sớm nhất trên báo chính thống khi ấy. Và cuối 2011, khi xuất bản tuyển tập, tôi mượn tựa đề Trước Sau như một sự tưởng nhớ đến Thầy.
. . . . . . .

Võ chân Cữu
Bình luận


Đăng Nhập / Đăng Xuất