Trang thông tin liên lạc của cựu Giáo Sư và học sinh Trung Học Cường Để Qui Nhơn

Trang Facebook của cuongde.org

  • NhaGiuXe1200
  • hinhCu 1200
  • DaiThinhDuong1200
  • CD4 1200

Tết năm 1981, lần đầu tiên trở lại Sài Gòn sau sáu năm trong các trại tập trung, tôi có được tờ phép tạm vắng của công an quận Phú Nhuận để về thăm lại thành phố quê hương Qui Nhơn. Ngôi nhà nhỏ của cha mẹ tôi ở đường Tăng Bạt Hổ không có gì thay đổi nhiều nhưng với riêng tôi, tôi đã mất hai thứ, một vô giá và một vô cùng quí giá: cha tôi và tủ sách gia đình.

Cha tôi qua đời mười tháng trước ngày tôi rời khỏi trại giam. Con người thường bất lực trước cái chết, nhưng bằng vào trái tim, cha tôi đã dạy cho tôi bài học cuối cùng về tình thương yêu. Sáu ngày trước khi cha tôi trút hơi thở cuối cùng, nhà nhận được giấy báo thăm nuôi. Cha tôi đang ở trong tình trạng nguy kịch nên mẹ tôi giấu không muốn cho cha tôi biết, sợ chỉ làm ông đau lòng thêm. Trong lúc gia đình âm thầm chuẩn bị đồ đạc, tình cờ cha tôi biết được và ông đòi đi thăm chúng tôi (tôi có người em kề lòng cùng ở chung trại giam).

Làm sao để một ông già 69 tuổi có thể đi tám trăm cây số từ trung vào nam, trên những chuyến xe chật chội, dằn xóc trong điều kiện sức khoẻ như của cha tôi lúc đó? Cả nhà xúm lại năn nỉ, khuyên can. Cha tôi không cãi lại trước mặt mẹ tôi nhưng ông đã nói riêng với chị tôi: "chết cha cũng đi, nhớ hai thằng em con quá, không chịu được,". Dĩ nhiên là cha tôi không đi được, sức khoẻ của ông đã quá hao mòn, chỉ có trái tim là vẫn còn nồng nàn, nguyên vẹn. Chị tôi đã kể lại cho tôi nghe điều này, và tôi, người lính bị bức tử, người tù cực nhục, vẫn thường nhủ lòng phải bình tĩnh, phải sắt đá, đã khóc lặng lẽ nhiều đêm, một mình.

Buổi chiều và buổi tối đầu tiên trở lại nhà, tôi quấn quít, nhỏ nhoi ngụp lặn trong tình thương yêu của mẹ và anh chị em. Thật khuya, tôi mới buồn rầu lên lại căn gác một thời dài tuổi nhỏ tôi đã sống. Mọi vật vẫn như cũ, chiếc gường nhỏ kê sát góc, chiếc bàn học đánh vernis màu vàng sậm kê sát cửa sổ với mấy chiếc ghế gỗ, giá kệ cùng khắp và chiếc tủ sắt hai cánh lớn ở phía đối diện. Căn gác chỉ có thêm cái trang thờ Phật của mẹ tôi đóng trên cao và áng thờ cha tôi đặt sát vách đối diện với cánh cửa mở ra sân thượng. Tôi chậm rãi bước ra ngoài, thẫn thờ đi lại trên khoảng sân nhỏ tráng xi măng có lan can ba mặt nhìn ngược ra phía sau, nơi tôi đã chà lết nhiều đêm với hộp phấn trắng và những công thức toán vào những mùa thi ngày trước. Mọi vật quen thân mà như xa lạ, gần gũi mà như ngàn trùng. Tôi trở vào mở cửa nhìn chiếc tủ trống trơn, nhìn dãy giá kệ bụi bám mà lòng rũ xuống vì buồn. Tất cả số sách báo thẳng thớm, quý giá và đầy ắp của tôi đã không còn.

Tủ sách của tôi không lớn lắm nhưng cũng không nhỏ, hai ngàn hay hơn kém một chút. Đa số các sách này tôi mua ở đại lý phát hành sách báo Khánh Hưng Qui Nhơn suốt thời trung học; một số khác gom góp ở vỉa hè Lê Lợi, ở Khai Trí, Lê Phan những ngày lang thang ở Sài Gòn trước khi bị động viên, số còn lại tôi có được lúc này, lúc khác ở Cần Thơ, Tây Ninh, Nha Trang, Komtum, Đà Lạt. Tôi mê sách và mua sách bất cứ lúc nào có thể, gởi cất tạm bợ ở bất cứ nơi nào có thể và lâu lâu gom lại tha về Qui Nhơn. Nhà cha mẹ tôi như một nơi chốn an toàn nhất để tôi trở về, để tôi an tâm cất giữ món tài sản độc nhất của mình: sách. Nơi chốn an toàn đó bây giờ không còn và "gia tài" của tôi cũng không còn. Tôi ngồi lặng, đau nhói.

Chị tôi nhẹ nhàng đến ngồi gần bên tôi, chị nhìn tôi chia xẻ và bùi ngùi nói:

- Chị hiểu... chị biết em sẽ buồn lắm nên cố giữ tủ sách cho em nhưng không được. Trong Sài Gòn đỡ hơn nhiều mà còn như vậy, ở mình khó tới mức nào chắc em biết. Chị chần chờ, trì hoãn lâu lắm rồi cuối cùng cũng phải đốt dần đốt mòn cho đến hết. Chị cũng đau lòng lắm.

Tôi im lặng cầm tay chị bóp nhẹ. chị tôi mỉm cười chìa ra một gói giấy nhỏ, giọng hân hoan:

- Chị chỉ giữ được cái này, chắc em vui.

Tôi run tay mở vội gói giấy: hai quyển đặc san Cường Để, số mùa xuân Giáp Thìn 1964 và Ất Tỵ 1965. Hai quyển báo được tách ra từng tép nhỏ, nhàu cũ, lem bẩn nhưng còn đủ. Tôi mừng nghẹn, ngồi sững không nói được lời nào. Chị tôi nói tiếp:

- Chị tách mỏng ra, bỏ lẫn lộn dưới gầm bếp, trong thùng củi, định có bị xét hỏi gì thì bảo là báo bỏ, để nhen lửa, may không có việc gì, chị chờ cả năm, thấy yên yên mới gom lại cất cho em. Chị chỉ làm được có vậy.

Báo xuân học trò! cho dù tờ báo có xấu xí, ấu trĩ đến như thế nào, đối với nhịp thở đời sống của mỗi trường học, mỗi thế hệ học trò, cũng là một công trình cực nhọc, tốn nhiều công sức nhưng hào hứng và đáng tự hào nhất. Có thể, tại các ngôi trường lớn, ở những thành phố lớn, yên ổn và giàu có, một tờ báo xuân không phải là điều gì to lớn lắm, nhưng với chúng tôi, những học sinh Cường Để Qui Nhơn mới hồi sinh sau ngày tiếp thu năm 1954, việc có được một tờ đặc san là cả một biến cố lớn.

Mười năm sau ngày khai giảng niên khóa đầu tiên dưới chế độ miền nam, trường Cường Để mới có hai tờ báo xuân đầu tiên và dường như cũng là cuối cùng được in typo cho đến ngày trường bị đổi tên năm 1975. Những năm sau này, trước khi danh xưng Cường Để không còn, nghe đâu anh em cũng có làm báo, có năm còn ra cả nguyệt san, nhưng tất cả đều chỉ quay ronéo, phổ biến nội bộ, còn báo "thứ thiệt" báo "ra báo" không còn nữa. vì vậy, hai số báo chị tôi giữ được là cả một báu vật cho tôi, cho bạn bè tôi, cho ngôi trường Cường Để đã chết của tôi. (hy vọng là tin tức tôi có được không chính xác, và trường ta đã có nhiều tớ báo "ra báo" khác)

Rất ngẫu nhiên và cũng rất đáng tự hào khi tôi máy mắn có trách nhiệm trong việc thực hiện cả hai tờ báo này. Tờ thứ nhất, cùng nhiều anh em khác và tờ thứ hai, riêng cá nhân tôi.

Rất nhiều năm đã trôi qua nhưng tôi không bao giờ quên được cái tâm trạng mâu thuẫn khó tả; nao nức mà e dè, mừng vui mà âu lo khi từ văn phòng thầy Hiệu Trưởng bước ra với tờ giấy có bút phê bằng mực đỏ về quyết định cho thực hiện đặc san Cường Để. Tôi lân lân bước đi, cảm thấy mình vừa quan trọng, tài giỏi, vừa khờ khạo, ngu dốt. Làm báo! làm sao để có được một tờ báo? Giấc mơ sắp thành sự thật nhưng làm cách nào để biến giấc mơ thành sự thật đoạn đường còn xa lắm. Dù sao, những "nhà báo trẻ" cũng không thể lùi lại được nữa, bộ máy đã khởi động, kế hoạch đã trình làng, phải đi tới bằng mọi cách.

Một thông cáo với lời lẽ rất bay bướm, rất "nổ", xa gần cố ý lồng vào những chi tiết, những từ ngữ rất "báo chí" được bác phu trường mang đến tất cả các lớp để phổ biến kế hoạch và kêu gọi sáng tác. Một thùng gỗ lớn có khe hở và cửa khóa được nhanh chóng treo lên trước cửa văn phòng với mấy hàng chữ kiểu cọ, đậm nét dán trên mặt: Đặc San Cường Để - họp thư - hạn chót nhận bài.... Một "ban biên tập" hùng hậu được thành lập. "Tòa soạn" được đặt ở câu lạc bộ sau lưng trường và suốt mấy tháng trước tết, cả bọn chúng tôi có lý do chính đáng để bỏ bất cứ giờ học nào không thuộc bài để "làm báo".

Một kế hoạch chi tiết được hoạch định. Trong thời gian chờ đợi gom bài, "ban biên tập chủ lực" chuẩn bị các bài "phông": tâm thư thầy Hiệu Trưởng; lá thư giao cảm, phỏng vấn ban Giám Đốc, phỏng vấn phân Hội Phụ Huynh Học Sinh, phỏng vấn các giáo sư cố vấn văn nghệ, thể thao về những chương trình hoạt động. Đi đến đâu chúng tôi cũng kéo cả bầy cả lũ để lấy tinh thần và lúc nào cũng màu mè, trịnh trọng giới thiệu: "Thưa... chúng tôi là đại diện ban biên tập đặc san Cường Để xin phép được...."

Việc chuẩn bị bài vở đối với tôi không khó khăn gì lắm, tôi có "dưới tay" nhiều cây bút "nặng ký". Hồi đó Đặng Tấn Tới đã có nhiều thơ đăng đăng trên báo Phổ Thông, Thời Nay ở Sài Gòn và đã xuất bản một tập thơ mang tên Lễ Tấn Phong Tình Yêu ký bút hiệu Vũ Thúy Thụy Ca. Nhân vật tầm cỡ thứ hai là anh Trần Nhâm Thân, chuyên viết khảo cứu, đặt biệt là về tháp chàm và các nền văn minh cổ. Anh Thân có nhiều bài viết đăng trên các báo Văn Hóa Á Châu, Văn Đàn và một số tạp chí chuyên môn khác. Trần Nhâm Thân thuộc dòng dõi văn học, trong gia đình cụ Tú Ba Tri Thiện, anh nhỏ tuổi nhưng từ tốn, đĩnh đạt như một cụ đồ xưa. Thân "cổ" từ cung cách đến lời nói. Vào lúc bọn chúng tôi đã biết đọc Hiện Đại, Thế Kỷ Hai Mươi, Sáng Tạo; đã tập tành viết "mới", viết "triết" thì Trần Nhâm Thân như một người đi ngược thời đại, anh gọi cái bóp đựng tiền là cái "tu ví", gọi trường của mình là "bản tràng", gọi anh em bè bạn là "huynh đệ đồng môn" và với tư cách thủ quỹ, bao giờ xuất tiền cho tôi làm việc gì anh cũng cẩn thận nhắc nhở "anh đâm cho tôi tấm giấy" (viết biên nhận). Trần Nhâm Thân rất nặng lòng với quê hương, đất nước, bài viết nào của anh cũng có một câu giới thiệu mở đầu "tìm hiểu non sông, cảm thông hồn nước".

Ban biên tập đặc san Cường Để còn tìm ẩn nhiều cây bút có tầm cỡ khác. Lứa Cường Để hồi đó, sau này Hoàng Ngọc Tuấn đã thành danh với những tác phẩm rất dễ thương như Hình Như là Tình Yêu, Nhà Có Hoa Mimosa Vàng, Ở Một Nơi Ai Cũng Quen Nhau...và sau năm 1975, Biên Hồ Đào Chí Hiếu, Trần Long Ẩn cũng xông xáo góp mặt với nền văn chương, ca nhạc của chế độ mới, thực lòng hay đành lòng?

Thành tích văn nghệ của tôi kém xa các anh em vừa kể, tuy nhiên, có lẽ nhờ một chút bén nhạy rất "nhà báo" trời cho, tôi được anh em tin cậy giao cho nhiệm vụ chính. Điều khổ tâm lớn cho ban biên tập một tờ báo học trò không phải là sợ thiếu bài mà là nỗi lo về nạn dư bài. Ba bốn trăm bài viết, đa số là thơ, hay một cái gì tương tự như thế. Làm sao? Lạnh lùng gạt bỏ ư? Không được, mất lòng lắm, anh em ra vào gặp nhau hằng ngày, coi sao được, nhưng gánh thì không nổi, ban biên tập bèn chế ra một "vườn hoa muôn hương", một kiểu bình thơ chung chung, cố nhét càng nhiều càng tốt, mỗi bài vài câu cho vui anh vui em, phần còn lại cứ đùa hết qua mục trả lời bạn đọc: cứ nhắn tên, báo: nhận được, nói rất ý nghĩa, rất muốn đăng và kết luận rất tiếc, xin lỗi....

Song song với việc chuẩn bị nội dung, chuyện quan trọng thứ hai - không chừng là hàng đầu - là lấy quảng cáo. Trường nghèo, ngân khoản đâu để trả chi phí ấn loát? Tòa soạn họp, không phải họp văn nghệ mà là họp "tình báo", lập danh sách những nhà buôn, những cơ sở sản xuất trong thành phố có con em đang theo học tại "bản tràng", và nhóm quảng cáo gồm toàn ban biên tập, có tăng cường cô trưởng ban Xã Hội và mấy cố trong ban Văn Nghệ chia nhau đến tận các nơi trong danh sách để "ca bài con cá...". Hết thành phần này thì nhắm đại vào những khuôn mặt sáng giá khác, bất kể họ có liên hệ gì với nhà trường hay không: ảnh viện Bác Ái, tiệm may Sơn Hà Nội, tiệm giày AJS, nhà sách Đại Chúng, tiệm sắt Phổ Thông, xưởng gạch Mai Ngôn, phòng ngủ Chí Thành.... được cái là hồi đó đồng bào còn trọng "kẻ sĩ" và khá quan tâm đến sinh hoạt học đường nên mọi việc đều như ý.

Việc thứ ba phải làm là kiểm duyệt bài vở. Người quyết định cấp giấy phép xuất bản ở ty Thông Tin Bình Định hồi đó là anh Thái Tẩu, một người có làm thơ, viết báo với bút hiệu Sinh Hòa. Anh Tẩu là một người Bình Định rất yêu xứ nẫu, anh muốn quê mình khá lên. Việc trường Cường Để có một tờ báo, với anh, là một niềm vui, một hãnh diện chung cho cả tỉnh và anh tự cảm thấy có nhiệm vụ phải góp phần nên đã nhiệt tình giúp đỡ vượt mọi nguyên tắc: anh cấp giấy phép xuất bản không cần đọc hết số bài, cũng không yêu cầu nạp đủ số bản mỗi bài như thể lệ qui định.

Việc kế tiếp và cũng là việc làm đau đầu "tòa báo" nhất là thuê nhà in. Hàng tết, nhà in nhiều việc, tiền thì không có. Quỹ nhà trường chỉ yểm trợ một ít, quảng cáo một ít, số còn lại trông chờ vào việc bán báo. Không in được lấy gì bán? Tòa soạn họp "nghiên cứu tình hình" và quyết định chọn nhà in Văn Phong, số 26 đường Võ Tánh của anh Quách Gia, con trai thi sĩ Quách Tấn để in báo. Lý do của quyết định này xuất phát từ một suy luận: mặc dù làm kinh doanh, nhưng "con nhà tông không giống lông cũng giống cánh", ông chủ nhà in Văn Phong thế nào cũng có máu thi sĩ của cha và chắc sẽ "văn nghệ" hơn các ông chủ khác, cụ thể là sẽ cho in thiếu. Lý luận thì có vẻ hợp lý nhưng thực tế vẫn đáng lo ngại và "cái đầu nhà báo" của tôi lại phải moi thêm một sáng kiến: thi sĩ Quách Tấn còn một người con gái đang dạy học tại Qui Nhơn, chị Quách Mộng Hoa. chị Hoa có làm thơ lại là phụ nữ thì nhất định là đa cảm và văn nghệ hơn ông anh, vì vậy tôi đã vận dụng mọi thế lực trung gian dàn xếp để cuối cùng chị Hoa đồng ý đi với chúng tôi đến nhà in Văn Phong như một người bảo đãm. Tôi còn cẩn thận mang theo giấy giới thiệu có đóng dấu đỏ chót và ký tên Hiệu Trưởng trường Cường Để để tăng uy tín. Tuy nhiên, nhưng lo xa của chúng tôi đã thừa, anh Quách Gia quả có máu thi sĩ, anh dễ dàng chấp nhận mọi điều kiện và dành cho chúng tôi mọi thuận lợi để làm việc.

Thật ra sinh hoạt của một nhà in nhỏ ở tỉnh lẻ rất nhàm chán, công việc chỉ quanh đi quẩn lại với mớ giấy tờ, sổ sách văn phòng, hóa đơn bán hàng, hoặc nhãn trà, nhãn bánh. Ông chủ nhà in con nhà thi sĩ cũng muốn làm một công trình có tính cách văn hóa nghệ thuật một chút. Anh thích thú nhìn hàng chữ "in tại nhà in Văn Phong" phía sau bìa báo.

Nhà in chỉ có hai máy đạp pedal, mấy hộc chữ, một dao cắt, mấy bành giấy và vài ba người thợ nhưng với chúng tôi đây là cả một thế giới mới lạ và hấp dẫn. Hàng tháng trời chúng tôi hầu như ăn ngủ tại chỗ, mày mò tập sắp chữ, chăm chú sửa bản in thử, xem hình bản gỗ rồi phụ đóng, xén, vô bìa, vô gói. Những ngày ở nhà in là khoảng thời gian bận rộn nhất và cũng tuyệt vời nhất đời làm báo học trò. Báo in xong liền được trịnh trọng đóng dấu "kính biếu", ký tên tặng các mạnh thường quân, các chủ quảng cáo và cuối cùng, hấp dẫn nhất là bán báo.

Qui Nhơn hồi đó ngoài trường Cường Để còn có hai trường chuyên nghiệp là trường Sư Phạm và trường Kỷ Thuật, sáu trường trung học khác gồm Nữ Trung Học, Bồ Đề, La San, Trinh Vương, Nhân Thảo, Tây Sơn. Chúng tôi quyết định ưu tiên phổ biến rộng rãi số báo trong toàn trường, số còn lại sẽ đưa đi giới thiệu và bán tại trường Nữ Trung Học và trường Sư Phạm. Quyết định này cũng có nguyên do của nó.

Nữ Trung Học lúc đó được coi như một thứ "Cường Để em". Cơ sở khang trang nằm trên một vị trí đẹp sát bờ biển này trước kia vốn là trường tư thục Tân Bình. Trường này nghe đâu là cơ sở kinh tài của bà Ngô Đình Nhu, bị sung công sau biến cố 1963 và trở thành Nữ Trung Học. Trường chỉ mới hoạt động được hơn một năm và hầu hết giáo sư và học sinh đều được chuyển từ trường Cường Để sang. Phổ biến báo Cường Để cho Nữ Trung Học là chia xẻ với bồ nhà; hơn nữa, việc được vào tất cả các lớp ở trường nữ để giới thiệu "tác phẩm văn hóa" của mình, được tha hồ nhìn ngắm và đón nhận những ánh mắt chớp chớp ngưỡng mộ của "bầy bướm trắng biển Qui Nhơn" là điều mà toàn ban biên tập háo hức và nôn nao đến mất ngủ. Việc bán báo ở trường Sư Phạm ngoài lý do hy vọng báo được phổ biến đi xa, còn xuất phát từ một nguyên nhân thầm kín và tế nhị khác, có liên quan đến "uy tín và danh dự" của lớp trẻ Qui Nhơn mà trường Cường Để là đại diện.

Trường Sư Phạm Qui Nhơn qui tụ giáo sinh ở hầu hết các tỉnh miền trung từ Huế vào đến Phan Thiết, và mặc dù điều kiện dự thi chỉ yêu cầu có bằng tú tài một để đào tạo giáo viên bậc tiểu học, nhưng trong thực tế trường Sư Phạm vào thời điểm này có khá đông anh chị em đã học xong bậc trung học hoặc đã có một vài chứng chỉ đại hoc, vì thế, tâm lý chung của các anh chị em giáo sinh Sư Phạm là tự cảm thấy mình số một Qui Nhơn; điều này "mất lòng" dân Cường Để lắm và người Cường Để đã tận dụng mọi cơ hội, mọi khả năng để tự chứng tỏ mình. Khi trường Sư Phạm tổ chức đại nhạc hội, trình diễn kịch bản Người Viễn Khách Thứ Mười của Nghiêm Xuân Hồng ở hội trường Qui Nhơn, văn nghệ Cường Để bỏ ăn bỏ ngủ, ngày đêm tập luyện để một thời gian ngắn sau đó, cũng tại hội trường Qui Nhơn, trong một công tác từ thiện, trình diễn trường ca Con Đường Cái Quan của Phạm Duy, không bỏ sót phân đoạn nào.

Năm đó, trường Sư Phạm có đặc san Đối Thoại với những Tôn Thất Lập, Thái Ngọc San, Lê Văn Ngăn, Ngô Lê Từ gởi tặng trường Cường Để và trường Cường Để có nhiệm vụ đáp lễ. Ngộ nghĩch và đáng yêu biết bao những "vấn đế lớn" của tuổi nhỏ.

(hết phần 1)
Nguyễn Mạnh An Dân

 

Bình luận


Đăng Nhập / Đăng Xuất