Trang thông tin liên lạc của cựu Giáo Sư và học sinh Trung Học Cường Để Qui Nhơn

Trang Facebook của cuongde.org

  • hinhCu 1200
  • CD4 1200
  • DaiThinhDuong1200
  • NhaGiuXe1200

“Mỗi năm đến Hè...
Chín mươi ngày qua chứa chan tình thương ... Tạ từ là hết người ơi...” Đây là tiếng hát của cô bạn 10 tuổi tên Hương (nhà Mỹ Lệ, đường Gia Long) trong tiệc liên hoan cuối năm 1965-1966 mà tôi và các bạn Nguyễn Thị Thanh Bình, Lê Thanh Tuyến, Nguyễn Hữu Đệ, Thái Sinh Hòa, Võ Hòa và Tô Bá Tùng đã từng nghe. Không biết bây giờ bạn Hương ở đâu?


Mấy chục năm sau, chắc ai cũng đồng ý khi nghe lại bản nhạc “Nỗi Buồn Hoa Phượng” này, là mình ít nhiều nhớ lại thời cắp sách. Riêng tôi, dù có hay không nghe bản nhạc này, tôi cũng nhớ cái tuổi xanh này nhiều lắm! Nó là một chương của cuốn sách đời tôi. Một cuốn sách có nhiều chương, nhưng không chương nào vui và đẹp bằng chương I (Thuở Đầu Đời) và chương II (Mùa Thu-Thời Cắp Sách).

Chương I (Thuở Đầu Đời): Học ít, đi chận bò thì nhiều. Buồn ít, vui nhiều. Chỉ có mỗi 1 điều lo nghĩ: Chừng nào mới đến Tết đây? Để bận đồ mới, nghe pháo nổ, ăn bánh in, bánh “thữn”, bánh tét,...

Chương II (Thời Cắp Sách-Mùa Thu): Thời vàng son của đời tôi bắt đầu từ ngôi trường Cường Đễ (tôi quen gọi “Đễ”, không là “Để”, mặc kệ đúng hay sai). Tôi được nhận vào Đệ Thất Cường Đễ, đây là tin vui mà bạn Tô Bá Tùng đã sớm báo, trước khi tôi được nghe radio hoặc nhìn vào “bảng vàng”.


Liên hoan. Mỗi năm chỉ được 1 tiệc liên hoan và 1 kỳ trại Tết



Trại Tết


Phượng nở rồi tàn, đa số ai cũng rạo rực chờ Thu. Tôi thì, vì chưa cảm thấm được cái huyền diệu của Thu nên không những đã thờ ơ mà lại còn mong cho nó qua mau để ngày tựu trường chóng tới.

Một ngày cuối Thu năm 1966, lá ngoài đường không thấy rụng nhiều, nhưng trên không thì bàng bạc những đám mây. Tôi đã đủ lớn để mẹ tôi khỏi phải nắm lấy tay tôi dẫn đi trên con đường làng, tôi có thể tự một mình, quanh co trên vài con phố để đến trường.

Ngày khai giảng niên khóa 1966-1967, tôi xúng xính trong bộ đồ mới. Trên chiếc áo sơ-mi trắng tinh, bên ngực trái, trước trái tim, có thêu tên trường rồi tên cúng cơm của tôi ở phía dưới, cách nhau bỡi một hoa thị màu xanh.

Thu Huyền Diệu(?): Cứ mỗi lần Thu tàn là số hoa thị trên áo tôi mỗi tăng lên, để rồi đổi qua một hoa thị màu đỏ năm tôi lên lớp 10 và 2 hoa thị đỏ vào năm lớp 11, chuẩn bị thi Tú Tài 1.

Ngày thi gần kề. Tuy học dở, nhưng tôi còn chút thông minh để biết được rằng: Nếu không gạo học thì sẽ rực rỡ một tấm thảm vàng vỏ chuối, lót dài, sẵn sàng đón tiếp tôi trên con đường ứng thí.

Vài tuần nữa, bị trượt ngã, Nha Trang- Đồng Đế là nơi duy nhất tôi phải “a-lê”. Tôi lo lắng. Tuy nhiên, vì “lo một, lười mười” nên sách vở đã bị tôi xếp lại để lang thang dưới nắng chang chang của trời giữa hạ 1972. Tôi vô tình hướng đến trường Cường Đễ. Cánh cửa phụ bên trái của cổng trường nửa mở, như lặng lẽ đón chào tôi.


Sân trường cũ, bạn bè cũ, đứa còn, đứa mất, đứa lưu lạc phương xa


Cũng như mọi năm, Hè đến, nắng vàng gắt xua đi cái nhộn nhịp đầy áo trắng của sân trường. Ngoài sự yên tĩnh bình thường vào mỗi hè, sân trường tôi hôm nay còn ủ đầy sắc thê lương vì ảnh hưởng nặng đến khói lửa chiến tranh. Hàng cây non mới trồng giữa sân trường có cố lung lay cành lá theo cơn gió nhẹ, cũng chẳng làm cho cảnh trường vắng lặng được sống động hơn được chút nào.

Tôi ven theo hành lang gạch bông, phủ đầy bụi hồng bay lên từ sân đất màu đỏ nhạt. Nhìn xuyên qua những song lá sách để thấy những băng bàn ghế dài, mòn nhẵn mà mỗi băng đủ chỗ cho năm chúng tôi và bàn ghế của thầy cô bơ vơ nép mình bên trái để nhường chỗ cho chiếc bảng đen lớn được treo bên trên bục gỗ dài.


Đứa còn, đứa mất


Bảng đen giờ này, tuy không một vết phấn nhưng ẩn dấu thật nhiều con số, nốt nhạc, chữ Pháp, chữ Anh, hình vẽ, lời thơ, đoản văn, ... mà thầy cô đã cố truyền đạt cho chúng tôi.

Suốt đời tôi chỉ biết làm phật lòng thầy cô. Thầy cô giảng giải nhiều, tôi chẳng hấp thụ bao nhiêu. Thầy Nguyễn Kim Ba, thầy Vương Quốc Tấn thường xuyên dò bài nên tôi nhớ được một công thức một: “độ F bằng độ C nhân một phảy tám, rồi cộng cho ba mươi hai”.


Giày mày và giày tao bằng giá, cũng từ tiệm Đồng Dụng, sao giày tao lại đẹp hơn?


Thầy Nguyễn Phụ Chính, thầy Châu Văn Thuận dạy hết mấy cuốn “Mauger”, tôi cũng chỉ nhớ được vài tên Hélène, Jean, Marie và câu “C’est la vie” để than thở hoặc tự an ủi khi nhìn thấy một sự việc xảy ra ngoài ý muốn.

Thầy Hoàng Hữu Dũng truyền hết cuốn “English for Today” nhưng tôi chỉ hiểu và bập bẹ theo Brian Hyland được mỗi một câu: I don’t want to say goodbye for the summer, mỗi khi hè đến.

Cô Nguyễn Thị Ngọc Diệp tập tôi làm quen với vần điệu, cho tôi biết thơ hay của Xuân Diệu: “Đây mùa thu tới - mùa thu tới . Với áo mơ phai dệt lá vàng...” Nhưng cũng chỉ đủ để làm tôi khù khờ suy đoán: Biệt hiệu “Xuân Diệu” có thể từ “Xuân Dịu” (mùa Xuân dịu mát) mà ra. Lúc nào tôi cũng ước ao đầu óc trống rỗng của mình được che kín đáy bằng một lớp ý tưởng, dù là thật mỏng. Tôi bắt chước Xuân Diệu sửa đổi hai chữ “Đông Giá” thành “Đông Dá” để làm biệt hiệu với niềm hy vọng: thơ của Đông Dá sẽ không thua xa thơ Xuân Diệu. Sau thời gian dài, tôi vẫn không nặn được câu thơ nào, mới chợt tỉnh ra rằng bút hiệu chẳng tạo được ý thơ.

Thầy Hồ Sĩ Duy trầm bỗng và lưu loát, thường đưa cả lớp lâng lâng lơ lửng trong giữa vòm trời trong sáng của thơ văn, trong đó có ca tụng về mùa Thu. Nhưng tôi thì luôn là đà trong đám mây xám ngắt, để rồi chỉ biết bắt đầu để ý đến mùa Thu, mà vẫn chưa hiểu nổi được cái huyền diệu của nó.

Tôi bắt đầu để ý đến mùa Thu dù tôi yêu thích mùa Xuân, vì Xuân mang đến vui vẻ đầy lòng người, cùng với sắc màu ngập khắp nẻo; dù trước đây tôi thường hững hờ khi Thu đến và mặc kệ lúc Thu đi. Nhưng tôi lại nôn nao đón Xuân tới và tiếc nuối nhìn Xuân qua. Và dù đã mấy mùa Thu qua tại Qui Nhơn, có lẽ tôi không để ý nên chưa bao giờ tôi thật sự chứng kiến cảnh lá vàng rơi nhưng lại thường xuyên thấy ... gió đập lá xanh rơi xuống rồi vàng.

Không để ý đến mùa Thu sao được khi Chế Lan Viên cố tình chận lối mùa xuân phơi phới của tôi:

Ai đâu trở lại mùa Thu trước,
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng?
Với của hoa tươi, muôn cánh rã,
Về đây đem chắn nẻo xuân sang.

Làm ngơ sao được khi nghe Lệ Thu: Với bao tà áo xanh, đây mùa Thu ..., để mở đầu cho một bản nhạc hay?

Không chú ý sao được khi đọc: Hằng năm cứ vào cuối Thu lá ngoài đường rụng nhiều ..., câu đầu tiên của một đoản văn mà ít ai quên được?

Huyền diệu của Thu có lẽ vì mùa Thu bao gồm rất nhiều mùa, trong đó có mùa gặp gỡ, mùa hẹn hò, mùa yêu đương và cả mùa chia ly nữa.

Huyền diệu của Thu cũng có thể vì Thu tạo thật nhiều Thu: Thu quyến Rũ, Thu Cảm, Thu Sầu và Phạm Duy còn có cả mùa Thu Chết nữa...

Huyền diệu của thu cũng rất có thể vì tôi chưa bao giờ từng nghe: “Yên giấc ngàn Xuân!”, “muôn Đông!”, hay “vạn Hạ!” để làm lời chúc cuối đến những ai may mắn vứt bỏ được mọi phiền lo để từ giã cõi đời.

Tuy nhiên Thu đến, Thu đi, và rồi Thu có về lại đi chăng nữa, cũng chẳng làm thay đổi được màu sắc của lá tre. Tôi chưa bao giờ từng thấy một “lũy tre vàng” vào mùa Thu. Khác với lá tre, phần nhiều các loại lá cây khác đều có hình dáng của trái tim và đương nhiên là trái tim có hình dáng của ...trái tim.

Nhưng sao lạ lùng thay, khi Thu đến, ông thĩ sĩ này nói: Nai vàng ngơ ngác... đạp trên lá vàng khô ... Còn ông nhạc sĩ kia thì lại bảo: bao trái tim vương màu xanh mới. Có phải đây là một huyền diệu nữa của mùa thu???

Chương XXXVII (Mùa Đông Cuộc Đời)

Hè 2016 vừa mới qua, là mùa phượng đỏ thứ 50, tính từ ngày tôi được mang 1 hoa thị màu xanh, tôi có dịp về lại Qui Nhơn yêu dấu và may mắn gặp lại bạn thân Ngô Đình Chiến, Tô Bá Tùng, Lê Văn Cảnh và Hồ Công Ảnh. Ngô Đình Chiến bảo: Bạn bè giờ hình như còn quá ít. Không biết sẽ còn bao nhiêu cái Tết nữa để cùng Tô Bá Tùng vừa nhấm vài giọt bia vừa nhìn thiên hạ hối hả mua hoa đón Tết?


Bạn bè hình như còn quá ít ...

Đúng bạn bè tôi đứa còn đứa mất. Võ Ngọc Chuyển chứng kiến cảnh từng đứa, chẳng kịp một lời từ giã, đã lần lượt bỏ đi xa, nên đã sắp xếp cho tôi gặp lại bạn bè cũ trong 1 bữa cơm tối thật thân mật tại Sài Gòn. Tôi xúc động nhiều vì gặp lại các bạn thân, có vài bạn đã 43 năm biệt tin nay mới gặp lại.


Những bạn bè trên 40 năm chưa gặp (trừ Tuyến ra)

Cảm ơn Võ Ngọc Chuyển, Hà Ngọc Ẩn, Võ Ẩn cùng chị Hải, Nguyễn Hữu Thành, Thái Thượng Hưng, Võ Đình Phiên, Nguyễn Hữu Nhung, Vợ chồng Trương Văn Côn, Phạm Khả Dũng, Nguyễn Quốc Tuấn, Quảng Đình Tú, Nguyễn Đình Chúc, Võ Thanh Vân (nhạc sĩ Anh và là ca sĩ Bác), Phạm Vân Tam, Trương Thành Hộ, Trần Đức Lượng (7 Lượng là ba của con gái Võ Ngọc Chuyển), Lê Minh Bốn, Nguyễn Văn Công, Nguyễn Thanh Hùng, Lê Thanh Tuyến, Nguyễn Văn Bỉnh, Tô Bá Tùng, ..


Một buổi tối khó quên!

Tiếc nhiều vì không được gặp những anh em khác như Nguyễn Văn Tiếng, Trần Minh Đình, Nguyễn Ngọc Hải, Nguyễn Trí Tài, Đào Văn Thông, Bùi Thúc Đệ, Nguyễn Hữu Đệ, Nguyễn Quang Vinh, Nguyễn Minh Chính (anh vợ hụt của nhiều đứa), Phan Văn Lại, Huỳnh Kim Sanh, Vương Thái Hòa, Thái Sinh Hòa, Đoàn Văn Khương (cũng như Chính, trong danh sách em rể hụt của Khương, không ít tên tuổi của bạn bè thân thuộc), Nguyễn Đình Thơ, Huỳnh Thiện Tài, Trần Thanh Nghi, Nguyễn Văn Chốn, Trần Đại, Khưu Minh Tịnh, Lại Xuân Chấn, Hồ Quang Trí, Phan Tấn Ngọc ..., và còn nhiều bạn bè thân quí nữa ....

Nay đã là mùa Thu thứ 50, đã 50 mùa phượng nở. Đời mình đã tới buổi tàn úa, nên cuộc gặp mặt nào, kể từ nay, cũng có giá trị muôn vàn. Kỳ gặp mặt ngày 5/8 tại Qui Nhơn để kỷ niệm 50 năm ngày vào trường lại là một vô giá. Thế nào cũng có một vài anh em đã nghĩ: Tiếc quá! Tao không có mặt ngày hôm đó, khi nào mới có dịp nữa đây???

Hồ Sĩ Đình
(Thu 2016)

Thêm bình luận


Đăng Nhập / Đăng Xuất