Trang thông tin liên lạc của cựu Giáo Sư và học sinh Trung Học Cường Để Qui Nhơn

Trang Facebook của cuongde.org

  • DaiThinhDuong1200
  • NhaGiuXe1200
  • hinhCu 1200
  • CD4 1200
  • Trang:
  • 1

CHỦ ĐỀ: Trích Thiên Tủy chương V

Trích Thiên Tủy chương V 25 09 2020 14:48 #1

CHƯƠNG IX CAN CHI TỔNG LUẬN
________________________________________
阴阳顺逆之说,《洛书》流行之用,其理信有之也,其法不可执一。
Âm dương thuận nghịch chi thuyết, Lạc Thư lưu hành chi dụng, kỳ lý tín hữu chi dã, kỳ pháp bất khả chấp nhất.
【原注】阴生阳死,阳顺阴逆,此理出于《洛书》。五行流行之用,固信有之,然甲木死午,午为泄气之地,理固然也,而乙木死亥,亥中有壬水,乃其嫡母,何为死哉?凡此皆详其干支轻重之机,母子相依之势,阴阳消息之理,而论吉凶可也。若专执生死败绝之说,推断多误矣。
Nguyên chú: âm sinh dương tử,dương thuận âm nghịch,thử lí xuất vu《 lạc thư》。Ngũ hành lưu hành chi dụng,cố tín hữu chi,nhiên giáp mộc tử ngọ,ngọ vi tiết khí chi địa,lí cố nhiên dã,nhi ất mộc tử hợi,hợi trung hữu nhâm thủy,nãi kì đích mẫu,hà vi tử tai?Phàm thử giai tường kì can chi khinh trọng chi cơ,mẫu tử tương y chi thế,âm dương tiêu tức chi lí,nhi luận cát hung khả dã。Nhược chuyên chấp sinh tử bại tuyệt chi thuyết,thôi đoán đa ngộ hĩ.
【任氏曰】:
阴阳顺逆之说,其理出《洛书》,流行之用,不过阳主聚,以进为退,阴主散,以退为进。若论命理,则不专以顺逆为凭,须观日主之衰旺,察生时之浅深,究四柱之用神,以论吉凶,则了然矣。至于长生沐浴等名,乃假借形容之辞也。长生者,犹人之初生也;沐浴者,犹人之初生而沐浴以去垢也;冠带者,形气渐长,犹人年长而冠带也;临官者,由长而旺,犹人之可以出仕也;帝旺者,壮盛之极,犹人之辅帝而大有为也;衰者,盛极而衰,物之初变也;病者,衰之甚也;死者,气之尽而无余也;墓者,造化有收藏,犹人之埋于土也;绝者,前之气绝而后将续也;胎者,后之气续而结胎也;养者,如人之养母腹也,自是而复长生,循环无端矣。
Nhâm thị viết: âm dương thuận nghịch chi thuyết,kì lí xuất《 lạc thư》,lưu hành chi dụng,bất quá dương chủ tụ,dĩ tiến vi thoái,âm chủ tán,dĩ thoái vi tiến。Nhược luận mệnh lí,tắc bất chuyên dĩ thuận nghịch vi bằng,tu quan nhật chủ chi suy vượng,sát sinh thời chi thiển thâm, cứu tứ trụ chi dụng thần,dĩ luận cát hung,tắc liễu nhiên hĩ。Chí vu trường sinh mộc dục đẳng danh,nãi giả tá hình dung chi từ dã。Trường sinh giả,do nhân chi sơ sinh dã;mộc dục giả,do nhân chi sơ sinh nhi mộc dục dĩ khứ cấu dã;quan đái giả,hình khí tiệm trường,do nhân niên trường nhi quan đái dã;lâm quan giả,do trường nhi vượng,do nhân chi khả dĩ xuất sĩ dã; đế vượng giả, tráng thịnh chi cực,do nhân chi phụ đế nhi đại hữu vi dã;suy giả,thịnh cực nhi suy,vật chi sơ biến dã;bệnh giả,suy chi thậm dã;tử giả,khí chi tận nhi vô dư dã; mộ giả,tạo hóa hữu thu tàng,do nhân chi mai vu thổ dã;tuyệt giả,tiền chi khí tuyệt nhi hậu tương tục dã;thai giả,hậu chi khí tục nhi kết thai dã;dưỡng giả,như nhân chi dưỡng mẫu phúc dã,tự thị nhi phục trường sinh,tuần hoàn vô đoan hĩ.
Dịch: Nhâm thị nói: Thuyết âm dương thuận nghịch, lý là từ Lạc Thư, lưu hành để dùng, chẳng qua là dương chủ về tụ, lấy tiến làm thoái, âm chủ về tán, lấy thoái làm tiến. Nếu luận mệnh lý, thì không chỉ dựa vào thuận nghịch mà phải xem nhật chủ suy vượng ra sao, xét giờ sinh sâu cạn ra sao, nhìn kỹ dụng thần của tứ trụ ở đâu, để luận lành dữ, thì roõ ràng đâu vào đó. Còn những tên như Trường Sinh, Mộc Dục vân vân, chỉ là danh từ mượn để hình dung thế thôi. Trường Sinh là chỉ lúc sơ sinh của con người; Mộc Dục chỉ lúc sơ sinh con người cần tắm rửa; Quan Đái là chỉ hình và khí lớn dần, do con người lớn dần mà đội mũ đội khăn; Lâm Quan là từ trưởng thành vượng, người ta có thể ra làm việc; Đế Vượng chỉ cực tráng thịnh, từ con người phò tá vua chúa mà thành sự nghiệp; Suy là thịnh quá mà suy, vật bắt đầu biến dạng; Bệnh là chỉ Suy đã quá nhiều; Tử là khí đã hết không còn gì nữa; Mộ là tạo hóa thu tàng, như con người được chôn dưới đất; Tuyệt là trước lúc khí tuyệt bắt đầu qua cái mới; Thai là sau khi khí đi qua cái mới mà kết thai; Dưỡng là chỉ thai được nuôi dưỡng trong bụng mẹ, từ đó lại trở về lại Trường Sinh, tuần hoàn không ngơi nghỉ.
人之日主不必生逢禄旺,即月令休囚,而年日时中,得长生禄旺,便不为弱,就使逢库,亦为有根。时说谓投墓而必冲者,俗书之谬也。古法只有四长生,从无子、午、卯、酉为阴长生之说。水生木,申为天关,亥为天门,天一生水,即生生不息,故木皆生在亥。木死午为火旺之地,木至午发泄已尽,故木皆死在午。言木而余可类推矣。
Nhân chi nhật chủ bất tất sinh phùng lộc vượng,tức nguyệt lệnh hưu tù,nhi niên nhật thời trung,đắc trường sinh lộc vượng,tiện bất vi nhược,tựu sử phùng khố,diệc vi hữu căn。Thời thuyết vị đầu mộ nhi tất xung giả,tục thư chi mậu dã。Cổ pháp chỉ hữu tứ trường sinh,tòng vô tí, ngọ, mão, dậu vi âm trường sinh chi thuyết。Thủy sinh mộc,thân vi thiên quan,hợi vi thiên môn,thiên nhất sinh thủy,tức sinh sinh bất tức,cố mộc giai sinh tại hợi。Mộc tử ngọ vi hỏa vượng chi địa,mộc chí ngọ phát tiết dĩ tận,cố mộc giai tử tại ngọ。Ngôn mộc nhi dư khả loại thôi hĩ.
Nhật chủ bất tất phải sinh có lộc vượng, dù bị hưu tù ở nguyệt lệnh, mà năm, ngày, giờ được Trường Sinh lộc vượng, thì cũng không nhược, cho dù gặp khố, cũng làm căn được. Thời nay người ta nói “vô mộ là phải xung”, đấy là sách tục nói bậy. Cổ pháp chỉ có bốn Trường Sinh, từ thuyết Vô Tý Ngọ Mão Dậu âm Trường Sinh. Thủy sinh Mộc, Thân là Thiên Quan, Hợi là Thiên Môn, Thiên Nhất sinh Thủy, cứ thế mà sinh sinh không ngơi nghỉ, do đó đều sinh ở Hợi. Mộc tử ở Ngọ là vì đất vượng của Hỏa, Mộc đến Ngọ là phát tiết hết khí, do đó mà nói là chết ở Ngọ. Chỉ nói Mộc nhưng ta có thể suy ra những ngũ hành khác.
夫五阳育于生方,盛于本方 ,弊于泄方,尽于克方,于理为顺;五阴生于泄方,死于生方,于理为背。即曲为之说,而子午之地,终无产金产木之道;寅亥之地,终无灭火灭木之道。古人取格,丁遇酉以财论,乙遇午、己遇酉、辛遇子、癸遇卯,以食神泄气论,俱不以生论。乙遇亥、癸遇申以印论,倶不以死论。即己遇寅岁之丙火,辛遇巳藏之戊土,亦以印论,不以死论。由此观之,阴阳同生同死可知也,若执定阴阳顺逆,而以阳生阴死,阴生阳死论命,则大谬矣。故《知命章》中“顺逆之机须理会”,正为此也。
Phu ngũ dương dục vu sinh phương,thịnh vu bản phương ,tệ vu tiết phương,tận vu khắc phương,vu lí vi thuận;ngũ âm sinh vu tiết phương,tử vu sinh phương, vu lí vi bội。Tức khúc vi chi thuyết,nhi tí ngọ chi địa, chung vô sản kim sản mộc chi đạo;dần hợi chi địa, chung vô diệt hỏa diệt mộc chi đạo。Cổ nhân thủ cách, đinh ngộ dậu dĩ tài luận,ất ngộ ngọ, kỉ ngộ dậu, tân ngộ tí, quý ngộ mão,dĩ thực thần tiết khí luận,câu bất dĩ sinh luận。Ất ngộ hợi, quý ngộ thân dĩ ấn luận câu bất dĩ tử luận。Tức kỉ ngộ dần tuế chi bính hỏa,tân ngộ tị tàng chi mậu thổ,diệc dĩ ấn luận,bất dĩ tử luận。Do thử quan chi,âm dương đồng sinh đồng tử khả tri dã,nhược chấp định âm dương thuận nghịch,nhi dĩ dương sinh âm tử, âm sinh dương tử luận mệnh,tắc đại mậu hĩ。Cố《 tri mệnh chương》 trung“thuận nghịch chi cơ tu lí hội”, chính vi thử dã。
Dịch: Bởi ngũ dương sinh ở sinh phương, thịnh ở bản phương, hư hao ở tiết phương, tuyệt ở khắc phương, theo lý là thuận; ngũ âm sinh ở tiết phương, chết ở sinh phương, theo lý là nghịch. Theo thuyết của Khúc Vi, thì đất của Tý Ngọ, không có đạo sinh Kim sinh Mộc; đất của Dần Hợi, không có đạo diệt Hỏa diệt Mộc. Cổ nhân lấy cách cục, Đinh gặp Dậu lấy Tài luận, Ất gặp Ngọ, Kỷ gặp Dậu, Tân gặp Tý, Quý gặp Mão, lấy Thực Thần tiết khí luận, đều không lấy sinh luận. Ất gặp Hợi, Quý gặp Thân lấy Ấn luận đều không lấy tử luận. Như Kỷ gặp Bính hỏa của năm Dần, Tân gặp Mậu thổ tàng trong Tỵ, cũng lấy ấn luận, không lấy tử luận. Do đó mà thấy là âm dương đồng sinh đồng tử có thể biết, nếu nhất định âm dương thuận nghịch, mà lấy dương sinh âm tử, âm sinh dương tử luận mệnh, ắt là đại sai lầm hỷ. Do đó mà chương Tri Mệnh nói, “thuận nghịch chi cơ tu lý hội”, chính là vậy.
丙子 己亥 乙亥 丙子
庚子 辛丑 壬寅 癸卯 甲辰 乙巳
Bát tự:
Bính Kỷ Ất Bính
Tý Hợi Hợi Tý
Đại vận:
Canh Tân Nhâm Quý Giáp Ất
Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ
乙亥日元,生于亥月,喜其天干两透丙火,不失阳春之景。寒木向阳,清而纯粹,惜乎火土无根,水木太重,读书未售;兼之中年一路水木,生扶太过,局中火土皆伤,以致财鲜聚而志未伸。然喜无金,业必清高。若以年时为乙木病位,月日为死地,岂不休囚已极,宜用生扶之运?今以亥子之水作生论,则不宜再见水木也。
Ất hợi nhật nguyên,sinh vu hợi nguyệt,hỉ kì thiên can lưỡng thấu bính hỏa,bất thất dương xuân chi cảnh。Hàn mộc hướng dương,thanh nhi thuần túy,tích hồ hỏa thổ vô căn,thủy mộc thái trọng,độc thư vị thụ;kiêm chi trung niên nhất lộ thủy mộc,sinh phù thái quá,cục trung hỏa thổ giai thương,dĩ trí tài tiên tụ nhi chí vị thân. Nhiên hỉ vô kim,nghiệp tất thanh cao。Nhược dĩ niên thời vi ất
mộc bệnh vị,nguyệt nhật vi tử địa,khởi bất hưu tù dĩ cực,nghi dụng sinh phù chi vận? kim dĩ hợi tí chi thủy tác sinh luận,tắc bất nghi tái kiến thủy mộc dã.
Dịch: Nhật chủ Ất Hợi sinh vào tháng Hợi, thích thiên can thấu 2 Bính hỏa, không mất cái vẻ ấm áp của mùa xuân. Mộc lạnh hướng dương, thanh mà thuần túy, tiếc là Hỏa Thổ không có căn, Thủy Mộc quá nhiều, đọc thư không có kết quả; thêm vào đó, trung niên một đường Thủy Mộc, sinh phù quá nhiều, Hỏa Thổ trong cục đều bị tổn thương, đến nổi Tài mới vừa tụ mà chí hướng còn chưa đi tới đâu. Nhưng may mà không có Kim, nghề nghiệp chắc là thanh cao. Nếu lấy năm và giờ là đất mắc bệnh của Ất mộc, tháng và ngày là tử địa, thì không phải là quá hưu tù mà cần phải dùng vận có sinh phù? Bây giờ lấy Thủy của Hợi Tý để sinh luận, thì chắc là không nên gặp Thủy Mộc.
戊午 乙卯 癸卯 癸亥
丙辰 丁巳 戊午 己未 庚申 辛酉
Bát tự:
Mậu Ất Quý Quý
Ngọ Mão Mão Hợi
Đại vận:
Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân
Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu
此春水多木,过于泄气,五行无金,全赖亥时比劫帮身。嫌其亥卯拱局,又透戊土,克泄并见,交戊午运不寿。若据书云,癸水两坐长生,时逢旺地,何以不寿?又云“食神有寿妻多子,食神生旺胜财官”,此名利两全,多子有寿之格也。总以阴阳生死之说,不足凭也。
Thử xuân thủy đa mộc,quá vu tiết khí,ngũ hành vô kim,toàn lại hợi thời tỉ kiếp bang thân。Hiềm kì hợi mão củng cục,hựu thấu mậu thổ,khắc tiết tịnh kiến,giao mậu ngọ vận bất thọ。Nhược cứ thư vân,quý thủy lưỡng tọa trường sinh,thời phùng vượng địa,hà dĩ bất thọ? hựu vân thực thần hữu thọ thê đa tử, thực thần sanh vượng thắng tài quan,thử danh lợi lưỡng toàn,đa tử hữu thọ chi cách dã。Tổng dĩ âm dương sinh tử chi thuyết,bất túc bằng dã。
Mệnh này nhật chủ Quý thủy sinh mùa xuân nhiều Mộc, bị tiết khí quá nhiều, ngũ hành không có Kim, toàn nhờ vào Tỷ Kiếp ở trụ giờ bang trợ. Chỉ hiềm Hợi Mão bán hợp cục Thủy, lại có Mậu thổ thấu can, vừa bị khắc vừa bị tiết, tới vận Mậu Ngọ không thọ. Nếu theo sách nói, thì Quý thủy tọa trường sinh hai nơi, lại gặp đất vượng, tại sao lại không thọ? Lại còn nói, Thực Thần có thọ là vợ nhiều con, Thực Thần vượng là hơn cả Tài Quan, cách cục danh lợi đều có, nhiều con số thọ. Nghĩ là thuyết âm dương sinh tử không đủ bằng chứng.
天地顺遂而精粹者昌,阴阳乖悖而混乱者亡。
Thiên địa thuận toại nhi tinh túy giả xương,
Âm dương quai bội nhi hỗn loạn giả vong.
【原注】不论有根无根,俱要天覆地载。
Nguyên chú: Bất luận hữu căn vô căn, câu yêu thiên phúc địa tái
【任氏曰】:
取用干支之法,干以载之支为切,支以覆之干为切。如喜甲乙,而载以寅卯亥子,则生旺,载以申酉,则克败矣;忌丙丁,载以亥子则制伏,载以巳午寅卯,则肆逞矣。如喜寅卯,而覆以甲乙壬癸则生旺,覆以庚辛,则克败矣;忌巳午,而覆以壬癸则制伏,覆以丙丁甲乙,是肆逞矣。不特此也,干通根于支,支逢生扶,则干之根坚,支逢冲克,则干之根拔矣。支受荫于干,干逢生扶,则支之荫盛;干逢克制,则支之荫衰矣。凡命中四柱干支,则显然吉神而不为吉,确乎凶神而不为凶者,皆是故也,此无论天干一气,地支双清,总要天覆地载。
Nhâm thị viết: thủ dụng can chi chi pháp,can dĩ tái chi chi vi thiết,chi dĩ phúc chi can vi thiết。Như hỉ giáp ất, nhi tái dĩ dần mão hợi tí,tắc sinh vượng,tái dĩ thân dậu,tắc khắc bại hĩ;kị bính đinh,tái dĩ hợi tí tắc chế phục,tái dĩ tị ngọ dần mão,tắc tứ sính hĩ。Như hỉ dần mão,nhi phúc dĩ giáp ất nhâm quý tắc sinh vượng,phúc dĩ canh tân,tắc khắc bại hĩ;kị tị ngọ,nhi phúc dĩ nhâm quý tắc chế phục,phúc dĩ bính đinh giáp ất,thị tứ sính hĩ。Bất đặc thử dã,can thông căn vu chi,chi phùng sinh phù,tắc can chi căn kiên,chi phùng xung khắc,tắc can chi căn bạt hĩ。Chi thụ ấm vu can,can phùng sinh phù,tắc chi chi ấm thịnh;can phùng khắc chế,tắc chi chi ấm suy hĩ。Phàm mệnh trung tứ trụ can chi,tắc hiển nhiên cát thần nhi bất vi cát,xác hồ hung thần nhi bất vi hung giả,giai thị cố dã,thử vô luận thiên can nhất khí,địa chi song thanh,tổng yếu thiên phúc địa tái.
Dịch: Nhâm thị nói: Phép dùng can chi là, quan trọng thiên can phải chở can chi, quan trọng là địa chi phải bao bọc chi can. Như hỷ thần là Giáp Ất, mà có Dần Mão Hợi Tý chở thì sẽ sinh vượng, nếu là Thân Dậu thì sẽ bị khắc gục hỷ; kỵ thần là Bính Đinh, có Hợi Tý chở ắt sẽ chế phục, nếu là Tỵ Ngọ Dần Mão sẽ ngông cuồng lên hỷ. Như hỷ thần là Dần Mão mà có Giáp Ất Nhâm Quý bao bọc thì sẽ sinh vượng, nếu là Canh Tân bao bọc sẽ khắc gục hỷ; kỵ thần là Tỵ Ngọ mà có Nhâm Quý bao bọc ắt sẽ chế phục, nếu Bính Đinh Giáp Ất bao bọc sẽ tha hồ ngông cuồng hỷ. Không những là vậy, thiên can thông căn vu địa chi, chi gặp sinh phù, thì căn của thiên can sẽ kiên cố, chi gặp xung khắc thì căn của thiên can sẽ bị nhổ đi hỷ. Địa chi được can bao bọc, can gặp sinh phù thì địa chi no ấm; can gặp khắc chế thì bao bọc sẽ bị suy giảm. Phàm tứ trụ can chi trong mệnh, rõ ràng cát thần mà không thấy lành, hung thần mà không thấy dữ, chính là do vậy, bất kể thiên can nhất khí, địa chi song thanh, cần nhất là có thiên can bao bọc, địa chi ủng tải.
己亥 丁卯 庚申 庚辰
丙寅 乙丑 甲子 癸亥 壬戌 辛酉
Bát tự:
Kỷ Đinh Canh Canh
Hợi Mão Thân Thìn
Đại vận:
Bính Ất Giáp Quý Nhâm Tân
Dần Sửu Tý Hợi Tuất Dậu
庚金虽生春令,支坐禄旺,时逢印比,足以用官。地支载以卯木财星,又得亥水生扶有情,丁火之根愈固,所谓“天地顺遂而精粹者昌”也。岁运逢壬癸亥子,干有己印卫官,支得卯财化伤,生平履险如夷,少年科甲,仕至封疆。经云:“日主最宜健旺,用神不可损伤”,信斯言也。
Canh kim tuy sinh xuân lệnh,chi tọa lộc vượng,thời phùng ấn tỉ,túc dĩ dụng quan。Địa chi tái dĩ mão mộc tài tinh,hựu đắc hợi thủy sinh phù hữu tình,đinh hỏa chi căn dũ cố,sở vị“ thiên địa thuận toại nhi tinh túy giả xương” dã。Tuế vận phùng nhâm quý hợi tí,can hữu kỉ ấn vệ quan,chi đắc mão tài hóa thương,sinh bình lí hiểm như di,thiếu niên khoa giáp,sĩ chí phong cương。Kinh vân:“ nhật chủ tối nghi kiện vượng,dụng thần bất khả tổn thương”, tín tư ngôn dã.
Dịch: Nhật chủ Canh kim tuy sinh vào tháng Xuân, tọa trên lộc vượng, trụ giờ gặp Ấn và Tỷ, đủ để lấy Quan Đinh hỏa làm dụng thần. Địa chi có Mão mộc Tài tinh chở, lại được Hợi thủy sinh phù mộc hữu tình, căn của Đinh hỏa càng vững chắc, gọi là “trời đất thuận toại mà thứ gì tinh túy sẽ phát triển lên” vậy. Vận và lưu niên gặp Nhâm Quý Hợi Tý, Dụng thần thiên can phía trên có Ấn Kỷ bảo vệ Quan, địa chi phía dưới có Tài Mão mộc hóa Thương sinh Quan, vượt qua hiểm nguy như đi trên đất bằng, thiếu niên đổ khoa giáp, vận quan phát đạt. Kinh nói: “Nhật chủ tốt nhất là kiện vượng, dụng thần không thể bị tổn thương”, tin vào lời nói đó.
己酉 丁卯 庚辰 甲申
丙寅 乙丑 甲子 癸亥 壬戌 辛酉
Bát tự:
Kỷ Đinh Canh Giáp
Dậu Mão Thìn Thân
Đại vận:
Bính Ất Giáp Quý Nhâm Tân
Dần Sửu Tý Hợi Tuất Dậu
此亦以丁火官星为用,地支亦载以卯木财星,与前造大同小异。只为卯酉逢冲,克败丁火之根,支中少水,财星有克无生。虽时透甲木临于申支,谓地支不载,虽有若无。故身出旧家,诗书不继,破耗刑伤;一交戌运,支类西方,贫乏不堪。
Thử diệc dĩ đinh hỏa quan tinh vi dụng,địa chi diệc tái dĩ mão mộc tài tinh,dữ tiền tạo đại đồng tiểu dị。Chỉ vi mão dậu phùng xung,khắc bại đinh hỏa chi căn,chi trung thiếu thủy,tài tinh hữu khắc vô sinh。Tuy thời thấu giáp mộc lâm vu thân chi,vị địa chi bất tái,tuy hữu nhược vô。Cố thân xuất cựu gia,thi thư bất kế,phá háo hình thương;nhất giao tuất vận,chi loại tây phương, bần phạp bất kham.
Dịch: Mệnh này cũng lấy Quan tinh Đinh hỏa làm dụng thần, địa chi cũng có Tài tinh Mão mộc bao bọc, so với mệnh trước gióng nhiều hơn khác. Chỉ là có Mão Dậu xung, căn của Đinh hỏa là Mão mộc bị khắc không sinh nổi. Tuy Giáp thấu can ở giờ, nhưng tọa ở Thân, địa chi không bao bọc, tuy có mà như không. Do đó mà có gia thế nhưng không học hành tốt, tài sản hư hao mà người cũng không được tốt; một khi tới vận Tuất, đi về hướng tây, là bần cùng thiếu thốn không chịu nổi.
庚申 壬午 辛酉 癸巳
癸未 甲申 乙酉 丙戌 丁亥 戊子
Bát tự:
Canh Nhâm Tân Quý
Thân Ngọ Dậu Tỵ
Đại vận:
Quý Giáp Ất Bính Đinh Mậu
Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý
此庚辛壬癸,金水双清,地支申酉巳午,煅炼有功,谓午火真神得用,理应名利双辉。所惜者五行无木,金虽失令而党多,火虽当令而无辅;更嫌壬癸覆之,紧贴庚辛之生,而申中又得长生,则壬水愈肆逞矣。虽有巳火助午,无如巳酉拱金,则午火之势必孤。所以申酉两运,破耗异常;丙戌运中,助起用神,大得际遇;一交亥运,壬水得禄,癸水临旺,火气克尽,家破身亡。
Thử canh tân nhâm quý,kim thủy song thanh,địa chi thân dậu tị ngọ,đoán luyện hữu công,vị ngọ hỏa chân thần đắc dụng,lí ứng danh lợi song huy。Sở tích giả ngũ hành vô mộc,kim tuy thất lệnh nhi đảng đa,hỏa tuy đương lệnh nhi vô phụ;cánh hiềm nhâm quý phúc chi, khẩn thiếp canh tân chi sinh,nhi thân trung hựu đắc trường sinh,tắc nhâm thủy dũ tứ sính hĩ。Tuy hữu tị hỏa trợ ngọ,vô như tị dậu củng kim,tắc ngọ hỏa chi thế tất cô。Sở dĩ thân dậu lưỡng vận,phá háo dị thường;bính tuất vận trung,trợ khởi dụng thần,đại đắc tế ngộ;nhất giao hợi vận,nhâm thủy đắc lộc,quý thủy lâm vượng,hỏa khí khắc tận,gia phá thân vong.
Dịch: Mệnh này thiên can Canh Tân Nhâm Quý, hai ngũ hành Kim Thủy, địa chi Thân Dậu Tỵ Ngọ, trau mài Kim có công, họi là Hỏa có chỗ dùng, lý ra là phải có cả danh và lợi. Tiếc là, ngũ hành không có Mộc, Kim tuy không đương lệnh nhưng có nhiều, Hỏa tuy đương lệnh nhưng không được bang trợ; lại hiềm có Nhâm và Quý phủ lên Ngọ và Tỵ, được Canh Tân sinh cho, mà Thân lại là Trường Sinh của Thủy, Nhâm thủy lại càng ngông cuồng. Tuy có Tỵ hỏa bang trợ cho Ngọ, nhưng không bằng Tỵ Dậu bán hợp cục Kim, Ngọ hỏa do đó mà bị cô thế. Vì vậy mà hai vận Thân, Dậu, bị hư hao phá hại dị thường; vận Bính Tuất bang trợ Dụng thần, cảnh ngộ được khá lên nhiều; qua đến vận Hợi, Nhâm thủy đắc lộc, Quý thủy lâm vượng, Hỏa khí bị khắc tận, nhà phá mạng vong.
庚申 壬午 辛酉 甲午
癸未 甲申 乙酉 丙戌 丁亥 戊子
Bát tự:
Canh Nhâm Tân Giáp
Thân Ngọ Dậu Ngọ
Đại vận:
Quý Giáp Ất Bính Đinh Mậu
Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý
此亦用午中丁火之杀,壬水亦覆之于上,亦有庚金紧贴之生。所喜者午时一助,更妙天干覆以甲木,则火之荫盛。且壬水见甲木而贪生,不来敌火,四柱有相生之谊,无争克之风,中乡榜,仕至观察。与前造只换得先后一时,天渊之隔,所谓毫厘千里之差也。
Thử diệc dụng ngọ trung đinh hỏa chi sát,nhâm thủy diệc phúc chi vu thượng,diệc hữu canh kim khẩn thiếp chi sanh。Sở hỉ giả ngọ thời nhất trợ,cánh diệu thiên can phúc dĩ giáp mộc,tắc hỏa chi ấm thịnh。Thả nhâm thủy kiến giáp mộc nhi tham sinh,bất lai địch hỏa,tứ trụ hữu tương sinh chi nghị,vô tranh khắc chi phong,trúng hương bảng,sĩ chí quan sát。Dữ tiền tạo chỉ hoán đắc tiên hậu nhất thời,thiên uyên chi cách,sở vị hào li thiên lí chi sai dã.
Dịch: Mệnh này cũng dùng Dụng thần ở Sát Đinh hỏa trong Ngọ, Nhâm thủy cũng phủ trên đầu, cũng có Canh Kim ép gần đó để sinh. Cái may là có sự bang trợ của Ngọ ở trụ giờ, lại diệu hơn nữa là có thiên can Giáp Mộc phủ trên đầu, sinh vượng cho Ngọ. Với lại nữa, Nhâm thủy thấy Ngọ mộc tham sinh mà không đến địch Hỏa, tứ trụ có tình tương sinh với nhau, không có sóng gió tranh chấp, mệnh chủ trúng hương bảng, làm quan đến chức Quan Sát. So với mệnh trước chỉ đổi có mỗi một can giờ, mà khác nhau một trời một vực, gọi là sai một ly đi một dặm nhĩ.
天全一气,不可使地德莫之载。
Thiên toàn nhất khí, bất khả sử địa đức mạc chi tái.
【原注】四甲四乙,而遇寅申卯酉,为地不载。
Nguyên chú: Tứ giáp tứ ất, nhi ngộ Dần Thân Mão Dậu, vi địa bất tái.
【任氏曰】:
天全一气者,天干四甲、四乙、四丙、四丁、四戊、四己、四庚、四辛、四壬、四癸,皆是也。地支不载者,地支与天干无生化也。非特四甲四乙而遇申酉寅卯为不载,即全受克于地支。或反克地支,或天干不顾地支,或地支不顾天干,皆为不载也。如四乙酉者,受克于地支也;四辛卯者,反克地支也。必须地支之气上升,天干之气下降,则流通生化,而不至于偏枯,又得岁运安顿,非富亦贵矣。如无升降之情,反有冲克之势,皆为偏枯而贫贱矣。宜细究之。
Nhâm thị viết: thiên toàn nhất khí giả,thiên can tứ giáp ,tứ ất, tứ bính, tứ đinh, tứ mậu, tứ kỉ, tứ canh, tứ tân, tứ nhâm, tứ quý, giai thị dã。Địa chi bất tái giả,địa chi dữ thiên can vô sinh hóa dã。Phi đặc tứ giáp tứ ất nhi ngộ thân dậu dần mão vi bất tái,tức toàn thụ khắc vu địa chi。 hoặc phản khắc địa chi,hoặc thiên can bất cố địa chi, hoặc địa chi bất cố thiên can,giai vi bất tái dã。Như tứ ất dậu giả,thụ khắc vu địa chi dã;tứ tân mão giả,phản khắc địa chi dã。Tất tu địa chi chi khí thượng thăng,thiên can chi khí hạ hàng,tắc lưu thông sinh hóa nhi bất chí vu thiên khô,hựu đắc tuế vận an đốn,phi phú diệc quý hĩ。Như vô thăng hàng chi tình,phản hữu xung khắc chi thế,giai vi thiên khô nhi bần tiện hĩ。Nghi tế cứu chi.
Dịch: Nhâm thị nói: Thiên Toàn nhất khí, là thiên can 4 Giáp, 4 Ất, 4 Bính, 4 Đinh, 4 Mậu, 4 Kỷ, 4 Canh, 4 Tân, 4 Nhâm, 4 Quý đều thế. Địa chi không tải, là địa không sinh hóa với thiên can. Không những 4 Giáp 4 Ất gặp Thân Dậu Dần Mão không tải, mà bị địa chi khắc, hoặc là khắc địa chi, hoặc thiên can không nhìn tới địa chi, địa chi không nhìn tới thiên can, đều là không tải. Như 4 Ất Dậu là thiên can bị địa chi khắc; 4 Tân Mão là thiên can khắc địa chi. Phải là khí của địa chi đi lên và khí của thiên can đi xuống, thì mới lưu thông sinh hóa mà không đến mức thiên khô, nếu có tuế vận thêm vào, thì không phú cũng quý hỷ. Như không có tình lên và xuống đó, ngược lại có thế xung khắc, đều thành thiên khô bần tiện hỷ. Phải cần xem kỹ.
甲申 甲戌 甲寅 甲戌
乙亥 丙子 丁丑 戊寅 己卯 庚辰
Bát tự:
Giáp Giáp Giáp Giáp
Thân Tuất Dần Tuất
Đại vận:
Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh
Hợi Tý Sửu Dần Mão Thìn
年支申金,冲去日主寅木,加以戌土乘权重见,生金助杀,谓地支不顾天干。夫四甲一寅,似乎强旺,第秋木休囚,冲去禄神,其根已拔,不作旺论。故寅卯亥子运中,衣食颇丰,一交庚辰,杀之元神透出。四子俱伤,破家不禄。干多不如支重,理固然也。
Niên chi thân kim,xung khứ nhật chủ dần mộc,gia dĩ tuất thổ thừa quyền trùng kiến,sinh kim trợ sát,vị địa chi bất cố thiên can。Phu tứ giáp nhất dần,tự hồ cường vượng,đệ thu mộc hưu tù,xung khứ lộc thần,kì căn dĩ bạt,bất tác vượng luận。Cố dần mão hợi tí vận trung,y thực pha phong,nhất giao canh thìn,sát chi nguyên thần thấu xuất。Tứ tử câu thương,phá gia bất lộc。Can đa bất như chi trọng,lí cố nhiên dã.
Dịch: Chi năm Thân kim xung mất chi ngày Dần mộc, thêm vào đó Tuất thổ đương lệnh lại có đến 2, sinh Kim trợ Sát, gọi là địa chi không nhìn thiên can. 4 Giáp 1 Dần xem có vẻ cường vượng, nhưng cuối thu Mộc hưu tù, lộc thần lại bị xung khứ, căn Mộc bị nhổ, không thể xem là vượng. Do đó vận Dần Mão Hợi Tý, cơm áo đầy đủ, qua đến vận Canh Thìn, nguyên thần của Sát thấu ra, 4 con trai đều bị tổn thương, nhà phá không thọ. Can nhiều không bằng chi nặng, cái lý chắc chắn như vậy.
戊子 戊午 戊戌 戊午
己未 庚申 辛酉 壬戌 癸亥 甲子
Bát tự:
Mậu Mậu Mậu Mậu
Tý Ngọ Tuất Ngọ
Đại vận:
Kỷ Canh Tân Nhâm Quý Giáp
Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý
此满局火土,子衰午旺,冲则午发而愈烈,熬干滴水,是谓天干不覆。初交已未,孤苦万状;至庚申辛酉运,引通戊土之性,大得际遇,娶妻生子,立业成家;一交壬戌,水不通根,暗拱火局,遭祝融之变,一家五口皆亡。如天干透一庚辛,或地支藏一申酉,岂至若是之结局乎?
Thử mãn cục hỏa thổ,tí suy ngọ vượng,xung tắc ngọ phát nhi dũ liệt,ngao can tích thủy,thị vị thiên can bất phúc。Sơ giao kỷ mùi,cô khổ vạn trạng;chí canh thân tân dậu vận,dẫn thông mậu thổ chi tính,đại đắc tế ngộ, thú thê sinh tử,lập nghiệp thành gia;nhất giao nhâm tuất,thủy bất thông căn,ám củng hỏa cục,tào chúc dung chi biến,nhất gia ngũ khẩu giai vong。Như thiên can thấu nhất canh tân,hoặc địa chi tàng nhất thân dậu, khởi chí nhược thị chi kết cục hồ.
Dịch: Mệnh này đầy Hỏa và Thổ, Tý suy Ngọ vượng, xung là Ngọ càng phát mạnh, làm khô queo chút Thủy, gọi là thiên can không bao bọc. Vận đầu Kỷ Mùi, cô khổ đủ cách; đến vận Canh Thân, Tân Dậu, dẫn thông được Mậu thổ, hoàn cảnh phát đạt lớn, lấy vợ sinh con, làm thành đại nghiệp; đi qua vận Nhâm Tuất, Nhâm thủy có căn Tý bị xung coi như là không có căn, lại có bán hợp Ngọ Tuất cục Hỏa, (vừa phản xung Thủy vừa sinh thêm Thổ), bị cháy nhà, một nhà năm người chết sạch. Như thiên can có một Canh hoặc Tân thấu, hoặc địa chi có một Thân hoặc Dậu, làm sao gặp phải kết cục như thế.
戊申 戊午 戊戌 戊午
己未 庚申 辛酉 壬戌 癸亥 甲子
Mậu Mậu Mậu Mậu
Thân Ngọ Tuất Ngọ
Đại vận:
Kỷ Canh Tân Nhâm Quý Giáp
Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý
此与前造只换一申字,而天干之气下降,地支之水有源,午火虽烈,究不能伤申金,用金明矣,况有子水为去病之喜神。交申运,戊辰年四月入学,九月登科,盖得太岁辰字,暗会水局之妙。惜将来壬戌运中,天干群比争财,地支暗会火局,未见其吉矣。
Thử dữ tiền tạo chỉ hoán nhất thân tự,nhi thiên can chi khí hạ hàng,địa chi chi thủy hữu nguyên,ngọ hỏa tuy liệt,cứu bất năng thương thân kim,dụng kim minh hĩ, huống hữu tí thủy vi khứ bệnh chi hỉ thần。Giao thân vận, mậu thìn niên tứ nguyệt nhập học,cửu nguyệt đăng khoa,cái đắc thái tuế thần tự,ám hội thủy cục chi diệu。 Tích tương lai nhâm tuất vận trung,thiên can quần tỉ tranh tài,địa chi ám hội hỏa cục,vị kiến kì cát hĩ.
Dịch: Mệnh này so mệnh trước chỉ đổi có mỗi chữ Thân ở chi năm, mà được khí của thiên can hạ xuống, Thủy ở địa chi có nguồn, Ngọ hỏa tuy mãnh nhưng rốt cuộc cũng không tổn thương được Kim, dụng thần là Kim rõ ràng hỷ, huống hồ có Tý thủy là hỷ thần khử bệnh (Hỏa). Qua vận Thân, năm Mậu Thìn tháng 4 nhập học, tháng 9 đăng khoa, bởi được chữ Thìn của lưu niên, ám củng hợp Thân Thìn cục Thủy. Tiếc là tương lai, vận Nhâm Tuất, thiên can quần Tỷ thổ tranh Tài thủy, địa chi lại ám hợp cục Hỏa (Ngọ Tuất), không biết có lành được không.
辛卯 辛卯 辛卯 辛卯
庚寅 己丑 戊子 丁亥 丙戌 己酉
Bát tư:
Tân Tân Tân Tân
Mão Mão Mão Mão
Đại vận:
Canh Kỷ Mậu Đinh Bính Ất
Dần Sửu Tý Hợi Tuất Dậu
此造四木当权,四金临绝,虽曰反克地支,实无力克也。如果能克,可用财矣,若能用财,岂无成立乎?彼此母腹,数年间父母皆亡,与道士为徒;己丑戊子运,印绶生扶,衣食无亏;一交丁亥,生火克金,即亡其师,所有微业,嫖赌扫尽而死。
Thử tạo tứ mộc đương quyền,tứ kim lâm tuyệt,tuy viết phản khắc địa chi,thực vô lực khắc dã。Như quả năng khắc,khả dụng tài hĩ,nhược năng dụng tài,khởi vô thành lập hồ?bỉ thử mẫu phúc,số niên gian phụ mẫu giai vong,dữ đạo sĩ vi đồ;kỉ sửu mậu tí vận,ấn thụ sinh phù,y thực vô khuy;nhất giao đinh hợi,sinh hỏa khắc kim,tức vong kì sư,sở hữu vi nghiệp,phiêu đổ tảo tận nhi tử。
Dịch: Mệnh này 4 Mộc đương lệnh, 4 Kim ở đát Tuyệt, tuy nói là phản khắc địa chi, thực là không có sức để khắc. Như nếu khắc được, có thể lấy dụng thần là Tài hỷ, nếu dùng Tài được, làm sao không có chỗ tạo dựng cơ nghiệp? Ở với cha mẹ được mấy năm cha mẹ qua đời, làm học trò của một đạo sĩ; vận Kỷ Sửu, Mậu Tý, Ấn Thụ sinh phù nhật chủ, cơm áo đầy đủ; vừa qua vận Đinh Hợi, sinh Hỏa khắc Kim, thầy mất, một chút sản nghiệp, cờ bạc trai gái hết sạch mà chết.
地全三物,不可使天道莫之容。
Địa toàn tam vật, bất khả sử thiên đạo mạc chi dung.
【原注】寅卯辰、亥卯未而遇甲庚乙辛,则天不覆。然不特全一气与三物者,皆宜天覆地载,不论有根无根,皆要循其气序,干支不反悖为妙 。
Nguyên chú: dần mão thìn, hợi mão mùi nhi ngộ giáp canh ất tân,tắc thiên bất phúc。Nhiên bất đặc toàn nhất khí dữ tam vật giả,giai nghi thiên phúc địa tái,bất luận hữu căn vô căn,giai yêu tuần kì khí tự,can chi bất phản bội vi diệu.
【任氏曰】:
地支三物者,支得寅卯辰、巳午未、申酉戌、亥子丑之方是也。如寅卯辰日主是木,要天干火多;日主是火,要天干金旺;日主是金,要天干土重。大凡支全三物,其势旺盛。如旺神在提纲,天干必须顺其气势,泄之可也;如旺神在别支,天干制之有力,制之可也。何以旺神在提纲,只宜泄而不宜制?夫旺神在提纲者,必制神之绝地也,如强制之,不得其性,用激而肆逞矣。旺神者,木方提纲得寅卯也是也;制神者,庚辛金也,寅卯乃庚辛之绝地也。如辰在提纲,四柱干支又有庚辛之助,方可制矣。所谓循其气序,调剂得宜,斯为全美。木方如此,余可类推。
Nhâm thị viết: địa chi tam vật giả,chi đắc dần mão thìn, tị ngọ mùi, thân dậu tuất, hợi tí sửu chi phương thị dã。Như dần mão thìn nhật chủ thị mộc,yêu thiên can hỏa đa;nhật chủ thị hỏa,yêu thiên can kim vượng;nhật chủ thị kim,yêu thiên can thổ trọng。Đại phàm chi toàn tam vật,kì thế vượng thịnh。Như vượng thần tại đề cương,thiên can tất tu thuận kì khí thế,tiết chi khả dã;như vượng thần tại biệt chi,thiên can chế chi hữu lực, chế chi khả dã。Hà dĩ vượng thần tại đề cương, chỉ nghi tiết nhi bất nghi chế?Phu vượng thần tại đề cương giả,tất chế thần chi tuyệt địa dã,như cưỡng chế chi,bất đắc kì tính,dụng khích nhi tứ sính hĩ。Vượng thần giả,mộc phương đề cương đắc dần mão dã thị dã;chế thần giả,canh tân kim dã,dần mão nãi canh tân chi tuyệt địa dã。Như thìn tại đề cương,tứ trụ can chi hựu hữu canh tân chi trợ,phương khả chế hĩ。Sở vị tuần kì khí tự,điều tế đắc nghi,tư vi toàn mĩ。Mộc phương như thử,dư khả loại thôi.
Dịch: Nhâm thị nói: Địa chi tam vật là địa chi có Dần Mão Thìn, Tỵ Ngọ Mùi, Thân Dậu Tuất, Hợi Tý Sửu bốn phương. Như Dần Mão Thìn mà nhật chủ là Mộc, thì cần thiên can Hỏa nhiều; nhật chủ là Hỏa thì cần thiên can Kim vượng; nhật chủ là Kim thì cần thiên can Thổ nặng. Phàm là có tam hợp, thế rất vượng thịnh. Như nếu vượng thần đương lệnh, thiên can phải thuận theo thế mà chỉ tiết là được; như vượng thần ở nơi khác thì nếu thiên can có lực để chế thì có thể chế. Tại sao vượng thần đương lệnh thì chỉ nên tiết không nên chế? Bởi vượng thần đương lệnh, thì ngũ hành chế nó sẽ ở trong tuyệt địa, nếu cưỡng chế nó, không được theo ý, nó sẽ ngông cuồng lên hỷ. Vượng thần như phương mộc đương lệnh có Dần Mão; ngũ hành chế Mộc là Canh Tân Kim, Dần Mão là tuyệt địa của Canh Tân. Như Thìn đương lệnh, can chi trong tứ trụ lại bang trợ Canh Tân kim thì có thể chế phục được Mộc. Gọi là tuần kỳ khí tự, là điều hòa đúng phép, mới là đẹp. Phương Mộc là vậy, ta có thể suy đến các phương khác.
辛卯 庚寅 甲辰 丙寅
己丑 戊子 丁亥 丙戌 乙酉 甲申
Bát tự:
Tân Canh Giáp Bính
Mão Dần Thìn Dần
Đại vận:
Kỷ Mậu Đinh Bính Ất Giáp
Sửu Tý Hợi Tuất Dậu Thân
此寅卯辰东方,兼之寅时,旺之极矣。年月两金临绝,旺神在提纲,休金难克,而且丙火透时,木火同心,谓强众而敌寡,势在去庚辛之寡。早行土运生金,破耗异常,进京入部办事;至丙戌运,分发广东,得军功,升知县,喜其克尽庚辛之美;至酉,庚辛得地,不禄宜矣。
Thử dần mão thần đông phương,kiêm chi dần thời, vượng chi cực hĩ。Niên nguyệt lưỡng kim lâm tuyệt,vượng thần tại đề cương,hưu kim nan khắc,nhi thả bính hỏa thấu thời,mộc hỏa đồng tâm,vị cường chúng nhi địch quả,thế tại khứ canh tân chi quả。Tảo hành thổ vận sinh kim,phá háo dị thường,tiến kinh nhập bộ biện sự;chí bính tuất vận,phân phát quảng đông,đắc quân công, thăng tri huyện,hỉ kì khắc tận canh tân chi mĩ;chí dậu, canh tân đắc địa,bất lộc nghi hĩ.
Dịch: Mệnh này là đông phương Mão, thêm vào 1 Dần ở trụ giờ, cực kỳ vượng thịnh. Kim ở năm và tháng ở trong tuyệt địa, vượng thần đương lệnh, Kim hưu không khắc được, không những vậy Bính Hỏa thấu can ở trụ giờ, Mộc Hỏa cùng một lòng, gọi là chúng cường địch lại với quả yếu, hình thế là khử một chút Canh Tân trong mệnh. Vận đầu là Thổ sinh Kim, hư hao dị thường, tiến kinh vào làm việc trong bộ; đến vận Bính Tuất, phái về Quảng Đông, được công trạng, thăng làm tri huyện, đấy là khắc phá hết Canh Tân mà ra; đến Dậu, Canh Tân đương lệnh, không qua được.
庚寅 庚辰 甲寅 丁卯
辛巳 壬午 癸未 甲申 乙酉 丙戌
Bát tự:
Canh Canh Giáp Đinh
Dần Thìn Dần Mão
Đại vận:
Tân Nhâm Quý Giáp Ất Bính
Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất
此亦寅、卯、辰东方。旺神不是提纲,辰土归垣,庚金得载,力量足以克木,丁火虽透,非庚金之敌,用杀明矣。至甲申运,庚金禄旺暗冲寅木,科甲联登,仕至郡守;一交丙运制杀,降职归田。
Thử diệc dần, mão, thìn đông phương。Vượng thần bất thị đề cương,thìn thổ quy viên,canh kim đắc tái,lực lượng túc dĩ khắc mộc,đinh hỏa tuy thấu,phi canh kim chi địch,dụng sát minh hĩ。Chí giáp thân vận,canh kim lộc vượng ám xung dần mộc,khoa giáp liên đăng,sĩ chí quận thủ;nhất giao bính vận chế sát,hàng chức quy điền.
Dịch: Mệnh này cũng phương đông Dần Mão Thìn. Vượng thần không đương lệnh, Thìn thổ vẫn là Thổ, Canh kim được chở, lực lượng đủ để khắc Mộc, Đinh hỏa tuy thấu can, nhưng không phải địch lại với Kim (cách qua Giáp), dụng thần là Sát rõ ràng hỷ. Đến vận Giáp Thân, Canh Kim lộc vượng, Thân ám xung Dần mộc, khoa giáp liên tiếp đổ, làm quan tới Quận Thú; vừa qua đến vận Bính chế Sát, hàng chức về vườn.
阳乘阳位阳气昌,最要行程安顿。
Dương thừa dương vị dương khí xương,
Tối yêu hành trình an đốn.
【原注】六阳之位,独子、寅、辰为阳方,为阳位之纯。五阳居之,如若是旺神,最要行运阴顺安顿之地。
Nguyên chú: Lục dương chi vị, độc Tý, Dần, Thìn vi dương phương, vi dương vị chi thuần. Ngũ dương cư chi, như nhược thị vượng thần, tối yêu hành vận âm thuận an đốn chi địa.
【任氏曰】:
六阳皆阳,非子、寅、辰阳之纯也,须分阳寒阳暖而论也。西北为寒,东南为暖,如若申、戌、子全,为西北之阳寒,最要行运遇卯、巳、未东南之阴暖是也;如寅、辰、午全,为东南之阳暖,最要行运酉亥丑西北之阴寒是也。此举大局而论,若遇日主之用神喜神,或木,或火,或土,是东南之阳暖,岁运亦宜配西北之阴水、阴木、阴火,方能生助喜神用神,而欢如酬酢。若岁运遇西北之阳水、阳木、阳火,则为孤阳不生,纵使生助喜神,亦难切当,不过免崎岖而趋平坦也。阳暖之局如此,阳寒之局亦如此论,所谓“阳盛光昌刚健之势,须配以阴盛包含柔顺之地”是也。若不深心确究,孰能探其精微,而得其要诀乎?
Nhâm thị viết: lục dương giai dương,phi tí, dần, thìn dương chi thuần dã,tu phân dương hàn dương noãn nhi luận dã。Tây bắc vi hàn,đông nam vi noãn,như nhược thân, tuất, tí toàn,vi tây bắc chi dương hàn,tối yêu hành vận ngộ mão, tị, mùi đông nam chi âm noãn thị dã;như dần, thìn, ngọ toàn,vi đông nam chi dương noãn,tối yêu hành vận dậu hợi sửu tây bắc chi âm hàn thị dã。Thử cử đại cục nhi luận,nhược ngộ nhật chủ chi dụng thần hỉ thần,hoặc mộc,hoặc hỏa,hoặc thổ,thị đông nam chi dương noãn,tuế vận diệc nghi phối tây bắc chi âm thủy, âm mộc, âm hỏa, phương năng sinh trợ hỉ thần dụng thần,nhi hoan như thù tạc。Nhược tuế vận ngộ tây bắc chi dương thủy, dương mộc, dương hỏa,tắc vi cô dương bất sinh,túng sử sinh trợ hỉ thần,diệc nan thiết đương,bất quá miễn kỳ khu nhi xu bình thản dã。Dương noãn chi cục như thử,dương hàn chi cục diệc như thử luận,sở vị“ dương thịnh quang xương cương kiện chi thế,tu phối dĩ âm thịnh bao hàm nhu thuận chi địa”thị dã。Nhược bất thâm tâm xác cứu,thục năng tham kì tinh vi,nhi đắc kì yếu quyết hồ.
Dịch: Nhâm thị nói: lục dương đều dương, không phải là cái dương của Tý, Dần, Thìn thuần, phải cần chia ra dương lạnh và dương nóng để luận bàn. Tây bắc là lạnh, đông nam là nóng, như có cả Thân, Tuất, Tý thành dương lạnh của tây bắc, thì cần nhất hành vận gặp Mão, Tỵ, Mùi cái âm nóng của đông nam vậy; như có Dần, Thìn, Ngọ thành dương nóng của đông nam, thì cần nhất hành vận Dậu Hợi Sửu cái âm lạnh của tây bắc vậy. Ở đây đem đại cục ra mà luận, nếu gặp dụng thần hỷ thần của nhật chủ, hoặc Mộc, hoặc Hỏa hoặc Thổ, là dương nóng của đông nam, đại vận lưu niên cũng nên phối âm Thủy, âm Mộc, âm Hỏa của tây bắc, mới có thể sinh trợ hỷ thần, dụng thần, mà hòa hợp với nhau. Nếu đại vận và lưu niên gặp dương Thủy, dương Mộc, dương Hỏa của tây bắc, thì chỉ có dương thôi không thể sinh được, cho dù có sinh cũng khó tới nơi, bất quá tránh được lồi lõm mà đi hướng bằng phẳng thôi. Cục thế ương nóng như thế, cục thế dương lạnh cũng luận như vậy, gọi là dương thịnh sáng chói thành hình thế cương kiện, cần phải phối âm thịnh bao hàm nhu thuận nữa. Nếu không xét cứu sâu xuống, ai có thể am hiểu được cái tinh vi của nó, mà bắt được cái yếu quyết.
癸巳 丙辰 丙午 庚寅
乙卯 甲寅 癸丑 壬子 辛亥 庚戌
Bát tự:
Quý Bính Bính Canh
Tỵ Thìn Ngọ Dần
Đại vận:
Ất Giáp Quý Nhâm Tân Canh
Mão Dần Sửu Tý Hợi Tuất
此东南之阳暖。天干金水,似乎无根,喜月支辰土,泄火蓄水而生金,庚金挂角逢生,则庚金可用。癸水即庚金之喜神。初运乙卯甲寅,金绝火生而水泄,孤苦不堪;一交癸丑北方阴湿之地,金水通根,又得巳丑拱金之妙,出外大得际遇,骤然发财十余万。阳暖逢寒,配合之美也。
Thử đông nam chi dương noãn。Thiên can kim thủy,tự hồ vô căn,hỉ nguyệt chi thìn thổ,tiết hỏa súc thủy nhi sinh kim,canh kim quải giác phùng sinh,tắc canh kim khả dụng。Quý thủy tức canh kim chi hỉ thần。Sơ vận ất mão giáp dần,kim tuyệt hỏa sinh nhi thủy tiết,cô khổ bất kham;nhất giao quý sửu bắc phương âm thấp chi địa,kim thủy thông căn,hựu đắc tị sửu củng kim chi diệu,xuất ngoại đại đắc tế ngộ,sậu nhiên phát tài thập dư vạn。Dương noãn phùng hàn,phối hợp chi mĩ dã.
Dịch: Mệnh này là dương nóng ở đông nam. Thiên can Kim Thủy tựa hồ như không có căn, may mà Thìn thổ ở tháng, tiết Hỏa giữ Thủy lại còn sinh Kim, Canh kim quay đầu lại sống, do đó mà có thể làm Dụng thần. Quý thủy là hỷ thần của Canh kim. Vận đầu Ất Mão, Giáp Dần, Kim tuyệt, Hỏa sinh mà Thủy tiết, cô khổ không sao chịu nổi; vừa đến vận Quý Sửu là đất phương bắc âm ướt, Kim Thủy thông với nhau, lại được cái hay của Tỵ Sửu củng Kim (Tỵ Dậu Sửu), xuất ngoại được hoàn cảnh tốt, thình lình phát tài cả hơn mười vạn. Dương nóng gặp lạnh, phối hợp thật quá hay.
戊寅 乙丑 丙寅 庚寅
丙寅 丁卯 戊辰 己巳 庚午 辛未
Bát tự:
Mậu Ất Bính Canh
Dần Sửu Dần Dần
Đại vận:
Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân
Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi
丙寅日元,虽支遇三寅,最喜丑土乘权,财星归库。若运走西北土金,财业必胜前造,惜一路东南木火之地,祖业破尽,遍历数省,奔驰不遇,至午运暗会劫局,死于广东。一事无成,莫非运也。
Bính dần nhật nguyên,tuy chi ngộ tam dần,tối hỉ sửu thổ thừa quyền,tài tinh quy khố。Nhược vận tẩu tây bắc thổ kim,tài nghiệp tất thắng tiền tạo,tích nhất lộ đông nam mộc hỏa chi địa,tổ nghiệp phá tận,biến lịch số tỉnh,bôn trì bất ngộ,chí ngọ vận ám hội kiếp cục,tử vu quảng đông。Nhất sự vô thành,mạc phi vận dã.
Dịch: Nhật chủ là Bính Dần, tuy địa chi có đến 3 Dần nhưng thích được Sửu thổ đương lệnh, Tài tinh vào trong khố. Nếu vận đi về hướng tây bắc Thổ kim, tài nghiệp còn hơn cả mệnh trước, tiếc là một đường đi hướng đông nam đất của Mộc Hỏa, tổ nghiệp phá sạch, mấy lần dành dụm, bôn ba mà không gặp thời, đến vận Ngọ ám hội Dần Ngọ (Tuất) cục Hỏa, chết ở Quảng Đông. Một chuyện cũng không thành, không phải là vận sao.
阳乘阴位气盛,还须道路光亨。
Dương thừa dương vị khí thịnh, hoàn tu đạo lộ quang hanh.
【原注】六阴之位,独酉亥丑为阴方,乃阴位之纯。五阴居之,如若是旺神,最要行运阳顺光亨之地。
Nguyên chú: Lục dương chi vị, độc Dậu Hợi Sửu vi âm phương, nãi âm vị chi thuần. Ngũ dương cư chi, như nhược thị vượng thần, tối yêu hành vận dương thuận quanh hanh chi địa.
【任氏曰】:
六阴皆阴,非酉、亥、丑为阴之盛也,须分阴寒阴暖而论也。承上文西北为寒,东南为暖,假如酉、亥、丑全,为西北之阴寒,最要行运遇东南寅、辰、午之阳暖是也。如卯、巳、未全,为东南之阴暖,最要行运遇申、戌、子西北之阳寒是也。此举大局而论,若日主之用神喜神,或金,或水,或土,是西北之阴寒,岁运亦宜配东南之阳金、阳火、阳土,方能助用神喜神,而福力弥增。若岁运遇东南之阴金、阴火、阴土,则为纯阴不育,难获厚福,不过和平而无灾咎也。阴寒之局如此论,阴暖之局亦如此论,所谓“阴盛包含柔顺之气,须配以阳盛光昌刚健之地”者是也。
Nhâm thị viết: lục âm giai âm,phi dậu, hợi, sửu vi âm chi thịnh dã,tu phân âm hàn âm noãn nhi luận dã。Thừa thượng văn tây bắc vi hàn,đông nam vi noãn,giả như dậu, hợi, sửu toàn,vi tây bắc chi âm hàn,tối yêu hành vận ngộ đông nam dần, thìn, ngọ chi dương noãn thị dã。 Như mão, tị, mùi toàn,vi đông nam chi âm noãn,tối yêu hành vận ngộ thân, tuất, tí tây bắc chi dương hàn thị dã。Thử cử đại cục nhi luận,nhược nhật chủ chi dụng thần hỉ thần,hoặc kim,hoặc thủy,hoặc thổ,thị tây bắc chi âm hàn,tuế vận diệc nghi phối đông nam chi dương kim, dương hỏa, dương thổ, phương năng trợ dụng thần hỉ thần,nhi phúc lực di tăng。Nhược tuế vận ngộ đông nam chi âm kim, âm hỏa, âm thổ, tắc vi thuần âm bất dục,nan hoạch hậu phúc,bất quá hòa bình nhi vô tai cữu dã。Âm hàn chi cục như thử luận,âm noãn chi cục diệc như thử luận,sở vị“ âm thịnh bao hàm nhu thuận chi khí,tu phối dĩ dương thịnh quang xương cương kiện chi địa” giả thị dã.
Dịch: Nhâm thị nói: lục âm đều là âm, không phải Dậu, Hợi, Sửu âm thịnh, phải phân ra âm lạnh và âm nóng mà luận. Phía trên đã nói tây bắc là lạnh, đông nam là nóng, nếu như Dậu, Hợi, Sửu có cả, thành âm hàn ở tây bắc, cần nhất là hành vận gặp Dần, Thìn, Ngọ dương nóng ở đông nam. Như Mão, Tỵ, Mùi thành âm nóng ở đông nam thì cần nhất hành vận gặp Thân, Tuất, Tý dương lạnh của tây bắc. Lấy đại cục mà luận, nếu dụng thần hỷ thần của nhật chủ là Kim, hoặc Thủy, hoặc Thổ là âm lạnh của tây bắc, đại vận lưu niên cũng phải phối dương Kim, dương Hỏa, dương Thổ của đông nam, mới có thể bang trợ dụng thần hỷ thần, mà phúc lực tăng lên. Nếu đại vận lưu niên gặp âm Kim, âm Hỏa, âm Thổ của đông nam thì chỉ có âm sẽ không sinh sôi được, khó được phúc trạch gì, bất quá là hòa bình không có tai họa thế thôi. Cục thế của âm lạnh luận như vậy, cục thế của âm nóng cũng luận như vậy, gọi là âm thịnh bao hàm khí nhu thuận, phải phối với đất của dương thịnh sáng ngời cương kiện là thế.
丙子 己亥 乙酉 壬午
庚子 辛丑 壬寅 癸卯 甲辰 乙巳
Bát tự:
Bính Kỷ Ất Nhâm
Tý Hợi Dậu Ngọ
Đại vận:
Canh Tân Nhâm Quý Giáp Ất
Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ
此全酉、亥、子西北之阴寒。寒木更宜向阳,以丙火为用,壬水即其病也。然喜壬水远隔,与日主紧贴,日主本衰,未尝不喜其生,又有己土透干,亦能砥定中流。且喜天干水木火土,各立门户,相生有情;地支午火紧制七杀,年月火土,通根禄旺。更喜行运东南阳暖之地,不但四柱有情,而且行运光亨,早年联登甲第,仕至封疆,皆阴阳配合之妙也。
Thử toàn dậu, hợi, tí tây bắc chi âm hàn。Hàn mộc cánh nghi hướng dương,dĩ bính hỏa vi dụng,nhâm thủy tức kì bệnh dã。Nhiên hỉ nhâm thủy viễn cách,dữ nhật chủ khẩn thiếp,nhật chủ bản suy,vị thường bất hỉ kì sinh,hựu hữu kỉ thổ thấu can,diệc năng chỉ định trung lưu。Thả hỉ thiên can thủy mộc hỏa thổ,các lập môn hộ,tương sinh hữu tình;địa chi ngọ hỏa khẩn chế thất sát,niên nguyệt hỏa thổ,thông căn lộc vượng。Cánh hỉ hành vận đông nam dương noãn chi địa,bất đãn tứ trụ hữu tình,nhi thả hành vận quang hanh,tảo niên liên đăng giáp đệ,sĩ chí phong cương,giai âm dương phối hợp chi diệu dã.
Dịch: Mệnh này đầy đủ Dậu, Hợi, Tý âm lạnh tây bắc. Mộc lạnh càng hướng về dương, lấy Bính hỏa làm dụng thần, Nhâm thủy chính là bệnh. Nhưng may Nhâm thủy cách xa, ở sát một bên nhật chủ, nhật chủ vốn suy, chắc gì không thích được Thủy sinh, lại có Kỷ thổ thấu can, có thể chế được Thủy. Với lại may là thiên can Thủy Mộc Hỏa Thổ mỗi ngũ hành có mỗi chỗ đứng, tương sinh có tình; địa chi Ngọ hỏa sát vào Thất Sát chế ngự, năm tháng Hỏa Thổ thông với nhau. Càng may nữa là hành vận đông nam đất dương nóng, không những tứ trụ hữu tình mà hành vận còn sáng sủa, còn trẻ liên tiếp đổ đạt, làm quan đến vương hầu, đều là do cái diệu của âm dương phối hợp nhĩ.
己亥 丙子 乙丑 壬午
乙亥 甲戌 癸酉 壬申 辛未 庚午
Bát tự:
Kỷ Bính Ất Nhâm
Hợi Tý Sửu Ngọ
Đại vận:
Ất Giáp Quý Nhâm Tân Canh
Hợi Tuất Dậu Thân Mùi Ngọ
此与前只换一酉子。以俗论之,酉换丑更美,酉乃七杀克我,丑乃偏财我克,又能止水,何其妙也。不知丑乃湿土,能泄火不能止水,酉虽七杀,午火紧克,不泄火之元神;彼则丙火在年,壬水遥远,又得己土一隔,此则丙火在月,壬水相近,已土不能为力,子水又逼近相冲。而且运走西北阴寒之地,丙火一无生扶,乙木何能发生?十干体象去:“虚湿之地,骑马亦忧”,斯言不谬也。所以屈志芸窗,一贫如洗,克妻无子,至壬申运,丙火克尽而亡。所谓“阴乘阴位阴气盛”也。
Thử dữ tiền chỉ hoán nhất dậu tí。 Dĩ tục luận chi,dậu hoán sửu cánh mĩ,dậu nãi thất sát khắc ngã,Sửu nãi thiên tài ngã khắc,hựu năng chỉ thủy,hà kì diệu dã。Bất tri sửu nãi thấp thổ,năng tiết hỏa bất năng chỉ thủy,dậu tuy thất sát,ngọ hỏa khẩn khắc,bất tiết hỏa chi nguyên thần;bỉ tắc bính hỏa tại niên,nhâm thủy diêu viễn,hựu đắc kỉ thổ nhất cách,thử tắc bính hỏa tại nguyệt,nhâm thủy tương cận,dĩ thổ bất năng vi lực,tí thủy hựu bức cận tương xung。Nhi thả vận tẩu tây bắc âm hàn chi địa,bính hỏa nhất vô sinh phù,ất mộc hà năng phát sinh? thập can thể tượng khứ:“ hư thấp chi địa,kị mã diệc ưu”,tư ngôn bất mậu dã。Sở dĩ khuất chí vân song,nhất bần như tẩy,khắc thê vô tử,chí nhâm thân vận,bính hỏa khắc tận nhi vong, Sở vị“ âm thừa âm vị âm khí thịnh” dã。
Dịch: Mệnh này chỉ khác mệnh trước có chữ Dậu Tý. Theo thầy bói nói thì Dậu đổi lấy Sửu lại càng hay, Dậu là Thất Sát khắc ta, Sửu là Thiên Tài ta khắc, lại có thể ngưng Thủy, diệu vô cùng. Có biết đâu, Sửu là Thổ ướt, chỉ tiết Hỏa nhưng không ngưng được Thủy, Dậu tuy Thất Sát, Ngọ hỏa sát một bên chế ngự, không tiết nguyên thần của Hỏa (như Sửu); mệnh kia Bính hỏa ở trụ năm, Nhâm thủy cách xa, lại được Kỷ thổ cách trở, mệnh này Bính hỏa ở tháng, Nhâm thủy gần đó, Thổ không thể làm được gì, Tý thủy lại gần đó tương xung. Không những vậy, vận đi hướng tây bắc đất của âm lạnh, Bính hỏa không có sinh trợ, Ất mộc đâu cách nào sinh được? Tượng của can là “chỗ đất ướt hư phù, cưỡi mạ cũng lo lắng”, nói thế không ngoa. Do đó không đi học, bần sạch không có thứ gì, khắc vợ không có con, đến vận Nhâm Thân, Bính hỏa bị khắc tận mà qua đời, gọi là “âm chở ngôi âm, khí âm thịnh” vậy.
地生天者,天衰怕冲。
Địa sinh thiên giả, thiên suy phạ xung.
【原注】如丙寅、戊寅、丁酉、壬申、癸卯、己酉,皆长生日主,甲子、乙亥、丙寅、丁卯、己巳,皆自生日主,如主衰逢冲,则根拔而祸更甚。
Nguyên chú: như bính dần, mậu dần, đinh dậu, nhâm thân, quý mão, kỷ dậu, giai trường sinh nhật chủ, giáp tý, ất mão, bính dần, đinh mão, kỷ tị, giai tự sinh nhật chủ, như chủ suy phùng xung, tắc căn bạt nhi họa cánh thậm.
【任氏曰】:
地生天者,如甲子、丙寅、丁卯、己巳、戊午、壬申、癸酉、乙亥、庚辰、辛丑是也。日主生于不得令之月,柱中又少帮扶,用其身印,冲则根拔,生机绝矣,为祸最重。若日主得时当令,或年时皆逢禄旺,或天干比劫重叠,或官星衰弱,反忌印绶之泄,则不怕冲破矣。总之看日主之气势,旺相者喜冲,休囚者怕冲。虽以日主而论,岁运冲亦然。
Nhâm thị viết: địa sinh thiên giả,như giáp tí, bính dần, đinh mão, kỉ tị, mậu ngọ, nhâm thân, quý dậu, ất hợi, canh thìn, tân sửu thị dã。Nhật chủ sinh vu bất đắc lệnh chi nguyệt,trụ trung hựu thiếu bang phù,dụng kì thân ấn,xung tắc căn bạt,sinh cơ tuyệt hĩ,vi họa tối trọng。Nhược nhật chủ đắc thời đương lệnh,hoặc niên thời giai phùng lộc vượng,hoặc thiên can tỉ kiếp trùng điệp,hoặc quan tinh suy nhược,phản kị ấn thụ chi tiết,tắc bất phạ xung phá hĩ。Tổng chi khán nhật chủ chi khí thế,vượng tướng giả hỉ xung,hưu tù giả phạ xung。Tuy dĩ nhật chủ nhi luận,tuế vận xung diệc nhiên.
Dịch: Nhâm thị nói: Địa chi sinh thiên can như như giáp tí, bính dần, đinh mão, kỉ tị, mậu ngọ, nhâm thân, quý dậu, ất hợi, canh thìn, tân sửu. Nhật chủ sinh không được đương lệnh, trụ trung lại thiếu bang trợ, chỉ có thân và Ấn, xung là căn bị nhổ, sinh cơ tuyệt hỷ, tai họa nặng nhất. Nếu nhật chủ đương lệnh, hoặc năm và giờ đều có lộc vượng, hoặc thiên can có nhiều Tỷ Kiếp, hoặc Quan tinh suy nhược, ngược lại bị Ấn thụ tiết, thì không sợ xung phá hỷ. Tổng cuộc là xem khí thế của nhật chủ ra sao, nếu vượng tướng thì thích xung, nếu hưu tù thì sợ xung. Tuy lấy nhật chủ để bàn, nhưng đại vận lưu niên đều thế.
甲寅 戊辰 丙寅 丙申
己巳 庚午 辛未 壬申 癸酉 甲戌
Giáp Mậu Bính Bính
Dần Thìn Dần Thân
Đại vận:
Kỷ Canh Tân Nhâm Quý Giáp
Tỵ ngọ Mùi Thân Dậu Tuất
此坐下印缓,生于季春,印气有余,又年逢甲寅,则太过矣。土虽当令,而木更坚,喜其寅申逢冲,财星得用,第嫌比肩盖头,冲之无力。早年运走南方,起倒异常;至壬申癸酉二十年,申冲寅木,克去比肩,创业兴家。此谓乘印就财也。
Thử tọa hạ ấn thụ,sinh vu quý xuân,ấn khí hữu dư,hựu niên phùng giáp dần,tắc thái quá hĩ。Thổ tuy đương lệnh,nhi mộc cánh kiên,hỉ kì dần thân phùng xung,tài tinh đắc dụng,đệ hiềm tỉ kiên cái đầu,xung chi vô lực。Tảo niên vận tẩu nam phương,khởi đảo dị thường;chí nhâm thân quý dậu nhị thập niên,thân xung dần mộc, khắc khứ tỉ kiên,sáng nghiệp hưng gia。Thử vị thừa ấn tựu tài dã.
Dịch: Mệnh này tọa trên Ấn thụ, sinh vào cuối xuân, khí Ấn có dư, lại gặp trụ năm Giáp Dần, thật thái quá nhĩ. Thổ tuy đương lệnh, nhưng Mộc còn cứng hơn, mày Dần Thân tương xung, Tài tinh làm Dụng thần, nhưng có Tỷ Kiên Bính phủ trên đầu, có xung cũng không mạnh. Vận đầu đi hướng nam, điên đảo dị thường; đến vận Nhâm Thân, Quý Dậu 20 năm, Thân xung Dần mộc, khắc bớt Tỷ Kiên, sáng nghiệp hưng khởi gia đình. Đấy chính là tọa trên Ấn mà dùng Tài tinh vậy.
壬申 甲辰 丙寅 丙申
乙巳 丙午 丁未 戊申 己酉 庚戌
Nhâm Giáp Bính Bính
Thân Thìn Dần Thân
Đại vận:
Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh
Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất
此坐下印绶亦在季春,印绶未尝无余气,年干壬杀生印有情,不足畏也,所嫌者,两申冲寅,甲木之根拔。还喜壬水泄金生木,运走丙午劫去申财,入学补廪登科;丁未合去壬水,三走春闱不捷;戊申克去壬水,三冲寅木而死于途。此造之壬水,乃甲木之原神,断不可伤,壬水受伤,甲木必孤。凡独杀用印者,最忌制杀也。
Thử tọa hạ ấn thụ diệc tại quý xuân,ấn thụ vị thường vô dư khí,niên can nhâm sát sinh ấn hữu tình,bất túc úy dã,sở hiềm giả,lưỡng thân xung dần,giáp mộc chi căn bạt。Hoàn hỉ nhâm thủy tiết kim sinh mộc,vận tẩu bính ngọ kiếp khứ thân tài,nhập học bổ lẫm đăng khoa;đinh mùi hợp khứ nhâm thủy,tam tẩu xuân vi bất tiệp;mậu thân khắc khứ nhâm thủy,tam xung dần mộc nhi tử vu đồ。Thử tạo chi nhâm thủy,nãi giáp mộc chi nguyên thần,đoạn bất khả thương,nhâm thủy thụ thương,giáp mộc tất cô。Phàm độc sát dụng ấn giả,tối kị chế sát dã.
Dịch: Mệnh này tọa trên Ấn thụ cũng sinh vào cuối xuân, Ấn thụ cũng không phải là không dư khí, thiên can trụ năm Nhâm Sát sinh Ấn hữu tình, không sợ Sát, chỗ hiềm là, 2 Thân xung Dần, căn của Giáp mộc bị nhổ. Còn may là Nhâm thủy tiết Kim sinh Mộc, vận đi đến Bính Ngọ, Kiếp đè Tài trong Thân, nhập học bổ lẫm (?) đăng khoa; vận Đinh Mùi hợp mất Nhâm thủy, ba lần đi Xuân Vi (?) mà không được; vận Mậu Thân khắc đi Nhâm thủy, 3 Thân xung 1 Dần, chết trên đường đi. Nhâm thủy trong mệnh lại là nguồn của Giáp Mộc, ngũ hành không được làm tổn thương, Nhâm thủy bị tổn thương, Giáp Mộc bị cô thế. Phàm dùng Ấn mà chỉ có Sát làm nguồn, tối kỵ chế Sát.
天合地者,地旺喜静。
Thiên hợp địa giả, địa vượng hỷ tĩnh.
【原注】如丁亥、戊子、甲午、己亥、辛巳、壬午、癸巳之类,皆支中人元,与天干相合者。此乃坐下财官之地,财官若旺,则宜静不宜冲。
Nguyên chú: như đinh hợi, mậu tí, giáp ngọ, kỉ hợi, tân tị, nhâm ngọ, quý tị chi loại,giai chi trung nhân nguyên,dữ thiên can tương hợp giả。Thử nãi tọa hạ tài quan chi địa,tài quan nhược vượng,tắc nghi tĩnh bất nghi xung
【任氏曰】:
十干之合,乃阴阳相配者也。五阳合五阴为财,五阴合五阳为官,所以必合。尚有阴旺不从阳,阳旺不从阴,虽合不化,有争合、妒合、分合之别。若露干合支中暗干,则随局无所不合,无所不分争妒忌矣。此节本有至理,只因原注少变通耳。天合地三字,须活看轻看,重在下句“地旺喜静”四字,夫地旺者,天必衰也;喜静者。四支无冲克之物,有生助之神也。天干衰而无助,地支旺而有生,天干心怀忻合之意。若得地支元神透出,缘上天下地,升降有情,此合似从之意也,合财似从财,合官似从官,非十干合化之理也。所以静则居安,尚堪保守,动则履危,难以支持。然可言合者,只有戊子、辛巳、丁亥、壬午四日耳,若甲午日,则午必先丁而后己,己土岂能专权而合甲?己亥日,亥必先壬而后甲,甲岂能出而合己?癸巳日,巳必先丙而后戊,戊岂能越过而合癸?此三日不论,至于十干,应合而化,则为化格,另有作用,解在化格章中。
Nhâm thị viết: thập can chi hợp,nãi âm dương tương phối giả dã。Ngũ dương hợp ngũ âm vi tài,ngũ âm hợp ngũ dương vi quan,sở dĩ tất hợp。Thượng hữu âm vượng bất tòng dương,dương vượng bất tòng âm,tuy hợp bất hóa,hữu tranh hợp, đố hợp, phân hợp chi biệt。Nhược lộ can hợp chi trung ám can,tắc tùy cục vô sở bất hợp,vô sở bất phân tranh đố kị hĩ。Thử tiết bản hữu chí lí,chỉ nhân nguyên chú thiếu biến thông nhĩ。Thiên hợp địa tam tự,tu hoạt khán khinh khán,trọng tại hạ cú “ địa vượng hỉ tĩnh” tứ tự,phu địa vượng giả,thiên tất suy dã;hỉ tĩnh giả。 tứ chi vô xung khắc chi vật,hữu sinh trợ chi thần dã。Thiên can suy nhi vô trợ,địa chi vượng nhi hữu sinh,thiên can tâm hoài hãn hợp chi ý。Nhược đắc địa chi nguyên thần thấu xuất,duyên thượng thiên hạ địa,thăng hàng hữu tình,thử hợp tự tòng chi ý dã,hợp tài tự tòng tài,hợp quan tự tòng quan,phi thập can hợp hóa chi lí dã。Sở dĩ tĩnh tắc cư an,thượng kham bảo thủ,động tắc lí nguy,nan dĩ chi trì。Nhiên khả ngôn hợp giả,chỉ hữu mậu tí, tân tị, đinh hợi, nhâm ngọ tứ nhật nhĩ,nhược giáp ngọ nhật,tắc ngọ tất tiên đinh nhi hậu kỉ,kỉ thổ khởi năng chuyên quyền nhi hợp giáp?kỉ hợi nhật,hợi tất tiên nhâm nhi hậu giáp,giáp khởi năng xuất nhi hợp kỉ?quý tị nhật,tị tất tiên bính nhi hậu mậu,mậu khởi năng việt quá nhi hợp quý?thử tam nhật bất luận,chí vu thập can,ứng hợp nhi hóa,tắc vi hóa cách,lánh hữu tác dụng,giải tại hóa cách chương trung.
Dịch: Nhâm thị nói: Cái hợp của thập can, là âm dương phối nhau. Ngũ dương hợp ngũ âm là Tài, ngũ âm hợp ngũ dương là Quan, do đó mà chắc chắn hợp. Còn có âm vượng không theo dương, dương vượng không theo âm, tuy hợp nhưng không hóa, phân biệt có hợp tranh chấp, hợp đố kỵ, hợp phân chia. Nếu thiên can hợp ngũ hành của địa chi thì tùy theo cục, không có chỗ nào không hợp, không có chỗ nào không phân tranh đố kỵ hỷ. Điều này vốn chí lý, chỉ vì nguyên chú không biến thông lắm. Thiên hợp địa ba chữ, phải nhìn thoáng nhìn nhẹ, nặng là ở câu sau “địa vượng hỷ tĩnh” bốn chữ, bởi địa vượng là thiên sẽ suy; hỷ tĩnh là bốn chi không khắc xung nhau, có thần sinh trợ. Thiên can suy không được bang trợ, địa chi vượng mà được sinh, thiên can trong bụng muốn hợp lắm. Nếu có nguyên thần của địa chi thấu ra, mon men lên xuống có tình, thì cái hợp này là có vẻ tòng hợp, hợp Tài tựa tòng Tài, hợp Quan tựa tòng Quan, không phải là cái lý của thập can hợp nhau. Do đó tĩnh phải được an ổn, còn có thể giữ chắc được, động là nguy hiểm, khó có thể duy trì. Nhưng nói đến chuyện có thể hợp hay không, chỉ có Mậu Tý, Tân Tỵ, Đinh Hợi, Nhâm Ngọ bốn ngày nhĩ, như Giáp Ngọ thì Ngọ phải Đinh trước mới Kỷ sau, Kỷ thổ làm sao chuyên quyền đi hợp Giáp? Kỷ Hợi thì Hợi phải Nhâm trước mới Giáp sau, Giáp mộc làm sao ra mà hợp Kỷ được? Quý Tỵ thì Tỵ phải Bính trước mới Mậu sau, Mậu sao vượt qua hợp Quý? Ba ngày đó không luận, còn nói thập can thì, nếu hợp mà hóa là có cách hóa, có tác dụng khác, sẽ bàn giải ở chương hóa cách.
己巳 辛未 壬午 乙巳
庚午 己巳 戊辰 丁卯 丙寅 乙丑
Bát tự:
Kỷ Tân Nhâm Ất
Tỵ Mùi Ngọ Tỵ
Đại vận:
Canh Kỷ Mậu Đinh Bính Ất
Ngọ Tỵ Thìn Mão Dần Sửu
支类南方,乘权当令,地旺极矣;火炎土燥,脆金难滋水源,天衰极矣,故日干之情,不在辛金,其意向必在午中丁火而合从矣。己巳戊辰运,生金泄火,刑耗有之;丁卯丙寅,木火并旺,克尽辛金,经营发财巨万。
Chi loại nam phương,thừa quyền đương lệnh,địa vượng cực hĩ;hỏa viêm thổ táo,thúy kim nan tư thủy nguyên,thiên suy cực hĩ,cố nhật can chi tình,bất tại tân kim,kì ý hướng tất tại ngọ trung đinh hỏa nhi hợp tòng hĩ。Kỉ tị mậu thìn vận,sinh kim tiết hỏa,hình háo hữu chi;đinh mão bính dần,mộc hỏa tịnh vượng,khắc tận tân kim,kinh doanh phát tài cự vạn.
Dịch: Chi thuộc phương nam, đương lệnh nắm quyền, địa chi vượng cực hỷ; Hỏa nóng, Thổ khô, Kim nhược không thể làm nguồn cho Thủy, thiên can suy cực kỳ hỷ, do đó nhật can không có tình ở Tân kim, mà ý hướng xoay về Đinh trong Ngọ để hợp tòng. Vận Kỷ Tỵ, Mậu Thìn, sinh Kim tiết Hỏa, hư hao tổn hại; vận Đinh Mão, Bính Dần, Mộc Hỏa đều vượng, khắc hết Tân kim, kinh doanh phát tài hàng vạn.
己丑 丙子 丁亥 庚子
乙亥 甲戌 癸酉 壬申 辛未 庚午
Bát tự:
Kỷ Bính Đinh Canh
Sửu Tý Hợi Tý
Đại vận:
Ất Giáp Quý Nhâm Tân Canh
Hợi Tuất Dậu Thân Mùi Ngọ
此造支类北方,地旺极矣;天干火虚,无木生扶,又有湿土晦火,天衰极矣。人皆论其杀重身轻。取火帮身敌杀。戊寅岁,金绝火生,又合去亥水,必有大凶,果卒季夏。此地支官星乘旺,又类官方,天干无印,己土泄丙,未足帮身,此为天地合而从官也。甲戌运生火克水,刑丧破耗,家业已尽;癸酉壬申克尽丙火,助起财官,获利五万;未运丙子年遭回禄,破去二万。人皆取其火土帮身,以午未运为美,殊不知比劫夺财,反致大凶。
Thử tạo chi loại bắc phương,địa vượng cực hĩ;thiên can hỏa hư,vô mộc sinh phù,hựu hữu thấp thổ hối hỏa,thiên suy cực hĩ。Nhân giai luận kì sát trọng thân khinh。Thủ hỏa bang thân địch sát。Mậu dần tuế,kim tuyệt hỏa sinh,hựu hợp khứ hợi thủy,tất hữu đại hung,quả tốt quý hạ。Thử địa chi quan tinh thừa vượng,hựu loại quan phương,thiên can vô ấn,kỉ thổ tiết bính,vị túc bang thân,thử vi thiên địa hợp nhi tòng quan dã。Giáp tuất vận sinh hỏa khắc thủy,hình tang phá háo,gia nghiệp dĩ tận;quý dậu nhâm thân khắc tận bính hỏa,trợ khởi tài quan,hoạch lợi ngũ vạn;mùi vận bính tí niên tào hồi lộc,phá khứ nhị vạn。Nhân giai thủ kì hỏa thổ bang thân,dĩ ngọ mùi vận vi mĩ,thù bất tri tỉ kiếp đoạt tài, phản trí đại hung.
Dịch: Mệnh này chi thuộc về phương bắc, địa chi cực vượng; thiên can Hỏa hư phù (không có căn), không có Mộc sinh, lại có Thổ ướt làm mờ Hỏa, thiên can suy cực. Ai cũng nói là Sát quá nặng Thân lại nhẹ, nên lấy dụng thần Hỏa bang thân địch lại Sát. Năm Mậu Dần, Kim tuyệt Hỏa sinh, lại hợp mất Thủy (Dần Hợi lục hợp), chắc chắn là hung hiểm, quả nhiên mất vào cuối mùa hạ. Đây là địa chi Quan tinh vượng lại đương lệnh, thiên can không có Ấn, Kỷ thổ tiết Bính, không bang trợ cho Thân được, đây là trường hợp thiên địa hợp nên tòng Quan. Vận Giáp Tuất sinh Hỏa khắc Thủy, hư hao tổn thất, gia nghiệp sạch bách; vận Quý Dậu, Nhâm Thân khắc hết Bính Hỏa, bang trợ Tài Quan, làm giàu hàng vạn; vận Mùi năm Bính Tý bị hồi lộc (?) phá đi 2 vạn. Người ta nói dùng Hỏa Thổ trợ thân, cho vận Ngọ Mùi là tốt, có biết đâu Tỷ Kiếp đoạt Tài, ngược lại bị nguy hiểm.
甲申戊寅,真为杀印相生;庚寅癸丑,也作两神兴旺。
Giáp thân mậu dần, chân vi sát ấn tương sinh;
Canh dần quý sửu, dã tác lưỡng thần hưng vượng.
【原注】两神者,杀印也。庚金见寅中火土,却多甲木,而以财论;癸见丑中土金,却多癸水,则帮身,不如甲见申中壬水庚金、戊见寅中甲木丙火之为真也。
Nguyên chú: Lưỡng thần giả, sát ấn dã. Canh kim kiến dần trung hỏa thổ, khước đa giáp mộc, nhi dĩ tài luận; quý kiến sửu trung thổ kim, khước đa quý thủy, tắc bang thân, bất như giáp kiến thân trung nhâm thủy canh kim, mậu kiến dần trung giáp mộc bính hỏa nhi vi chân dã.
【任氏曰】:
支坐杀印,非止此四日,如乙丑、辛未、壬戌之类,亦是两神也。癸丑多比肩,戊寅岂无比肩乎?庚寅多财星,甲申岂无财星乎?非惟庚寅癸丑不真,即甲申戊寅,亦难作据,若只以日主一字论格,财年月时中,作何安顿理会耶?不过将此数日为题,用杀则扶之,不用则抑之。须观四柱气势,日主衰旺之别,如身强杀浅,则以财星滋杀;身杀两停,则以食神制杀;杀强身弱,则以印绶化杀,论局中杀重身轻者,非贫即夭;制杀太过者,虽学无成。论行运杀旺,复行杀地者,立见凶灾;制杀再行制乡者,必遭穷乏。书云“格格推祥,以杀为重”;又云“有杀只论杀,无杀方论用”,杀其可忽乎?
Nhâm thị viết: chi tọa sát ấn,phi chỉ thử tứ nhật,như ất sửu, tân mùi, nhâm tuất chi loại,diệc thị lưỡng thần dã。Quý sửu đa tỉ kiên,mậu dần khởi vô tỉ kiên hồ?canh dần đa tài tinh,giáp thân khởi vô tài tinh hồ?phi duy canh dần quý sửu bất chân,tức giáp thân mậu dần,diệc nan tác cư,nhược chỉ dĩ nhật chủ nhất tự luận cách,tài niên nguyệt thời trung,tác hà an đốn lí hội da ? bất quá tương thử số nhật vi đề,dụng sát tắc phù chi,bất dụng tắc ức chi。Tu quan tứ trụ khí thế,nhật chủ suy vượng chi biệt, như thân cường sát thiển,tắc dĩ tài tinh tư sát;thân sát lưỡng đình,tắc dĩ thực thần chế sát;sát cường thân nhược,tắc dĩ ấn thụ hóa sát,luận cục trung sát trọng thân khinh giả,phi bần tức yểu;chế sát thái quá giả,tuy học vô thành。Luận hành vận sát vượng,phục hành sát địa giả,lập kiến hung tai;chế sát tái hành chế hương giả,tất tào cùng phạp。Thư vân “ cách cách thôi tường,dĩ sát vi trọng”; hựu vân “ hữu sát chỉ luận sát,vô sát phương luận dụng”,sát kì khả hốt hồ.
Dịch: Nhâm thị nói: chi tọa Sát Ấn, không phải chỉ có bốn ngày này, như Ất Sửu, Tân Mùi, Nhâm Tuất vân vân, cũng là ‘lưỡng thần’ nữa. Quý Sửu nhiều Tỷ Kiên, Mậu Dần không có Tỷ Kiên sao? Canh Dần nhiều Tài tinh, Giáp Thân không nhiều Tài tinh sao? Không phải chỉ Canh Dần Quý Sửu không chân, Giáp Thân Mậu Dần, cũng khó gọi là ‘chân’, nếu chỉ lấy nhật chủ một trụ để luận cách, thì năm, tháng, giờ làm sao an đốn lý hội đây?) Bất quá, lấy ngày làm đề tài, nếu dùng Sát thì phò nó, nếu không dùng Sát thì chế nó. Phải xem khí thế của tứ trụ ra sao, nhật chủ suy vượng thế nào, như Thân cường Sát yếu thì lấy Tài tinh nuôi Sát; Thân Sát bình quân thì lấy Thực Thần chế Sát; Sát cường Thân nhược thì lấy Ấn hóa Sát, nếu trong cục Sát nặng Thân nhẹ thì không bần cũng yểu mệnh; nếu chế Sát quá sức thì có học hành cũng không tới đâu. Nếu hành vận Sát vượng, lại có Sát trong địa chi, là sẽ có hung hiểm; chế Sát lại còn chế địa chi nữa thì sẽ bần cùng. Sách nói: “cách nào cũng phải xem rõ, lấy Sát làm trọng”, còn nói: “Có Sát chỉ luận Sát, không có Sát mới luận Dụng”, Sát thật không thể hốt lược.
壬午 己酉 甲申 甲子
庚戌 辛亥 壬子 癸丑 甲寅 乙卯
Bát tự:
Nhâm Kỷ Giáp Giáp
Ngọ Dậu Thân Tý
Đại vận:
Canh Tân Nhâm Quý Giáp Ất
Tuất Hợi Tý Sửu Dần Mão
甲申日元,生于八月,官杀当权,喜其午火紧制酉金,子水化其申金,所谓去官留煞。煞印相生,木凋金旺,印星为用,甲第联登,由郎署出为观察,从臬宪而转封疆。
Giáp thân nhật nguyên,sinh vu bát nguyệt,quan sát đương quyền,hỉ kì ngọ hỏa khẩn chế dậu kim,tí thủy hóa kì thân kim,sở vị khứ quan lưu sát。Sát ấn tương sinh, mộc điêu kim vượng,ấn tinh vi dụng,giáp đệ liên đăng, do lang thự xuất vi quan sát,tòng nghiệt hiến nhi chuyển phong cương.
Dịch: Nhật chủ là Giáp Thân, sinh tháng tám, Quan Sát đương lệnh, may mà có Hỏa sát bên để chế Dậu kim, Tý thủy hóa Thân kim, gọi là khử Quan lưu thông Sát. Sát Ấn tương sinh, Mộc yếu Kim vượng, lấy Ấn tinh làm Dụng thần, liên tiếp thi đổ, từ lang thự tới quan sát, từ nghiệt hiến chuyển qua vương hầu.
壬辰 己酉 甲申 甲子
庚戌 辛亥 壬子 癸丑 甲寅 乙卯
Nhâm Kỷ Giáp Giáp
Thìn Dậu Thân Tý
Đại vận:
Canh Tân Nhâm Quý Giáp Ất
Tuất Hợi Tý Sửu Dần Mão
此与前造只换一辰字,以俗论之,前则制官留杀,此则合官留杀,功名仕路,无所高下,殊不知有天渊之隔。夫制者克而去之,合者有去有不去也。如以辰土为财,则化金而助杀;以酉金为官,仍化金而党杀。由此观之,清中带浊,且以财为病者,不但功名蹭蹬,而且刑耗难辞。惟亥运逢生,可获一衿,壬子如逢木,秋闱有望;癸丑合去子印,一阻去程,有凶无吉;甲寅运被申冲破,寿元有碍矣。
Thử dữ tiền tạo chỉ hoán nhất thìn tự,dĩ tục luận chi, tiền tắc chế quan lưu sát,thử tắc hợp quan lưu sát,công danh sĩ lộ,vô sở cao hạ,thù bất tri hữu thiên uyên chi cách。Phu chế giả khắc nhi khứ chi,hợp giả hữu khứ hữu bất khứ dã。Như dĩ thìn thổ vi tài,tắc hóa kim nhi trợ sát;dĩ dậu kim vi quan,nhưng hóa kim nhi đảng sát。Do thử quan chi,thanh trung đái trọc,thả dĩ tài vi bệnh giả, bất đãn công danh thặng đặng,nhi thả hình háo nan từ。Duy hợi vận phùng sinh, khả hoạch nhất câm,nhâm tí như phùng mộc,thu vi hữu vọng;quý sửu hợp khứ tí ấn, nhất trở khứ trình,hữu hung vô cát;giáp dần vận bị thân xung phá,thọ nguyên hữu ngại hĩ.
Dịch: Mệnh này so với mệnh trước chỉ khác có mỗi một chữ Thìn, theo thầy bói thì, mệnh trước là chế Quan lưu Sát, mệnh này là hợp Quan lưu Sát, công danh sự nghiệp không phân thắng thua, có biết đâu, khác nhau một trời một vực. Bởi ngũ hành chế là khắc rồi khử đi, ngũ hành hợp có khi khử có khi không khử. Như lấy Thìn thổ là Tài, thì hóa Kim trợ Sát (Thìn Dậu lục hợp thành Kim); lấy Dậu kim là Quan, vẫn hóa Kim mà theo Sát. Do đó mà thấy, trong thanh có trọc, với lại lấy Tài là bệnh, không những công danh lận đận, mà còn hư hao tổn hại khó từ. Chỉ có vận Hợi gặp sinh cơ, có thể được chút gì, Nhâm Tý như gặp Mộc, còn hy vọng có thu vi (?); Quý Sửu hợp đi Tý Ấn (Tý Sửu lục hợp), trở ngại đường đi, lành ít dữ nhiều; vận Giáp Dần bị nhật chi xung phá, sống chết không biết được hỷ.
上下贵乎情协。
Thượng hạ quý hồ tình hiệp.
【原注】天干虽非相生,宜有情而不反背。
Nguyên chú: Thiên can tuy phi tương sinh, nghi hữu tình nhi bất phản bội.
【任氏曰】:
上下情协者,互相卫护,干支不反背者也。如官衰伤旺财星得局,官旺财多比劫得局,杀重用印,忌财者财临劫地,身强杀浅,喜财者财坐食乡,财轻劫重,有官而官星制劫,无官而食伤化劫,皆谓有情。如官衰遇伤,财星不现,官旺无印,财星得局,杀重用印,忌财者财坐食位,身旺煞轻,喜财者财坐劫地,财轻劫重,无食伤而官失令,有食伤而印当权,皆为不协。
Nhâm thị viết: thượng hạ tình hiệp giả,hỗ tương vệ hộ,can chi bất phản bội giả dã。Như quan suy thương vượng tài tinh đắc cục,quan vượng tài đa tỉ kiếp đắc cục,sát trọng dụng ấn,kị tài giả tài lâm kiếp địa,thân cường sát thiển,hỉ tài giả tài tọa thực hương,tài khinh kiếp trọng,hữu quan nhi quan tinh chế kiếp,vô quan nhi thực thương hóa kiếp,giai vị hữu tình。Như quan suy ngộ thương,tài tinh bất hiện,quan vượng vô ấn,tài tinh đắc cục,sát trọng dụng ấn,kị tài giả tài tọa thực vị,thân vượng sát khinh,hỉ tài giả tài tọa kiếp địa,tài khinh kiếp trọng,vô thực thương nhi quan thất lệnh,hữu thực thương nhi ấn đương quyền,giai vi bất hiệp.
Dịch: Nhâm thị nói: thượng hạ tình hiệp là hỗ tương bảo vệ lẫn nhau, can chi không bội phản nhau. Như Quan suy Thương vượng Tài tinh đắc cục, Quan vượng Tài đa Tỷ Kiếp đắc cục, Sát nặng dùng Ấn, kỵ Tài mà Tài nằm trên đất Kiếp, Thân cường Sát yếu, hỷ Tài mà Tài nằm trên đất Thực, Tài nhẹ Kiếp nặng, có Quan mà Quan tinh chế Kiếp, không có Quan mà Thực Thương hóa Kiếp, đều gọi là có tình. Như Quan suy mà gặp Thương Tài tinh không có, Quan vượng không có Ấn, Tài tinh thành cục, Sát nặng dùng Ấn, kỵ Tài mà Tại nằm trên đất Thực, Thân vượng Sát nhẹ, hỷ Tài mà Tài nằm trên đất Kiếp, Tài nhẹ Kiếp nặng, không có Thực Thương mà Quan không đương lệnh, có Thực Thương mà Ấn đương quyền, đều là không có tình.
己巳 癸酉 丙寅 庚寅
壬申 辛未 庚午 己巳 戊辰 丁卯
Bát tự:
Kỷ Quý Bính Canh
Tỵ Dậu Dần Dần
Đại vận:
Nhâm Tân Canh Kỷ Mậu Đinh
Thân Mùi Ngọ Tỵ Thìn Mão
此日主两坐长生,年支又逢禄旺,足以用官。癸水官星被己土贴身一伤,喜得官临财位,尤妙巳酉拱金,则己土之气已泄,而官星之根固矣。所以一生不遭凶险,名利两全也。
Thử nhật chủ lưỡng tọa trường sinh,niên chi hựu phùng lộc vượng,túc dĩ dụng quan。Quý thủy quan tinh bị kỉ thổ thiếp thân nhất thương,hỉ đắc quan lâm tài vị, vưu diệu tị dậu củng kim,tắc kỉ thổ chi khí dĩ tiết,nhi quan tinh chi căn cố hĩ。Sở dĩ nhất sinh bất tào hung hiểm,danh lợi lưỡng toàn dã.
Dịch: Mệnh này nhật chủ tọa 2 Trường Sinh, lại gặp lộc vượng ở chi năm, đủ để lấy Quan làm Dụng thần. Quý thủy Quan tinh bị Kỷ thổ gần đó tổn thương, may mà Quan nằm trên đất Tài, lại hay nữa là Tỵ Dậu bán hợp Kim, thì khí của Kỷ thổ bị tiết, mà căn của Quan tinh thì chắc hỷ. Do đó mà một đời không bị gì hung hiểm, danh lợi đều có.
癸亥 癸亥 丙辰 甲午
壬戌 辛酉 庚申 己未 戊午 丁巳
Bát tự
Quý Quý Bính Giáp
Hợi Hợi Thìn Ngọ
Đại vận:
Nhâm Tân Canh Kỷ Mậu Đinh
Tuất Dậu Thân Mùi Ngọ Tỵ
此官杀乘旺,原可畏也,然喜午时生食制煞,时干透甲,生火泄水。旺杀半化为印,衰木两遇长生,赖此木根愈固,上下情协,不诬也。白手成家发财数万。
Thử quan sát thừa vượng,nguyên khả úy dã,nhiên hỉ ngọ thời sinh thực chế sát,thời can thấu giáp,sinh hỏa tiết thủy。Vượng sát bán hóa vi ấn,suy mộc lưỡng ngộ trường sinh,lại thử mộc căn dũ cố,thượng hạ tình hiệp, bất vu dã。Bạch thủ thành gia phát tài số vạn.
Dịch: Mệnh này Quan Sát đương lệnh, vốn thật khả sợ, nhưng may là Ngọ ở giờ sinh Thực chế Sát, can giờ thấu Giáp, sinh Hỏa tiết Thủy. Vượng Sát bán hóa vi Ấn (Hợi có Thủy Mộc), Mộc nhược có 2 Trường Sinh ở Hợi, nhờ đó mà có căn chắc chắn, trên dưới hữu tình không bị vu phản. Tay trắng làm nên sự nghiệp hàng vạn.
甲寅 庚午 乙卯 丙子
辛未 壬申 癸酉 甲戌 乙亥 丙子
Bát tự:
Giáp Canh Ất Bính
Dần Ngọ Mão Tý
Đại vận:
Tân Nhâm Quý Giáp Ất Bính
Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý
专禄日主,时支子水生之,年干甲木,亦坐禄旺,用庚金则火旺无土,坐干火地,用丙火则子冲去其旺支,即或用火,亦无安顿之运。所以一败如灰,至乙亥运,水木齐来,竟为乞丐。
Chuyên lộc nhật chủ,thời chi tí thủy sinh chi,niên can giáp mộc,diệc tọa lộc vượng,dụng canh kim tắc hỏa vượng vô thổ,tọa can hỏa địa,dụng bính hỏa tắc tí xung khứ kì vượng chi,tức hoặc dụng hỏa,diệc vô an đốn chi vận。Sở dĩ nhất bại như hôi,chí ất hợi vận,thủy mộc tề lai,cánh vi khất cái.
Dịch: Nhật chủ nhiều lộc, chi giờ Tý thủy lại sinh nữa, can năm Giáp mộc cũng tọa lộc, dùng Canh kim làm Dụng thần thì Hỏa vượng không có Thổ (sinh Kim tiết Hỏa), Canh kim còn ngồi trên đất Hỏa, dùng Bính thì Tý xung mất Ngọ, cho có dùng Hỏa, cũng không có vận nào bình an cả. Do đó cuộc đời hư bại như vôi, đến vận Ất Hợi, Thủy Mộc cùng đến, đi làm ăn mày.
乙丑 己卯 乙亥 壬午
戊寅 丁丑 丙子 乙亥 甲戌 癸酉
Bát tự:
Ất Kỷ Ất Nhâm
Sửu Mão Hợi Ngọ
Đại vận:
Mậu Đinh Bính Ất Giáp Quý
Dần Sửu Tý Hợi Tuất Dậu
此己土之财,通根在丑,得禄于午,似乎身财并旺,不知己土之财,比肩夺去,丑土之财,卯木克破,午火食神,亥水克之。壬水盖之,无从引化,所谓上下无情也。初逢戊寅丁丑,财逢生助,遗业颇丰;一交丙子,冲去午火,一败而尽;乙亥运,妻子俱卖,削发为僧,又不守清规,冻饿而死。
合此两造观之,则上下之情协与不协,富贵贫贱,遂判天渊,即于此证验焉。
Thử kỉ thổ chi tài,thông căn tại sửu,đắc lộc vu ngọ,tự hồ thân tài tịnh vượng,bất tri kỉ thổ chi tài,tỉ kiên đoạt khứ,sửu thổ chi tài,mão mộc khắc phá,ngọ hỏa thực thần,hợi thủy khắc chi。Nhâm thủy cái chi,vô tòng dẫn hóa,sở vị thượng hạ vô tình dã。Sơ phùng mậu dần đinh sửu,tài phùng sinh trợ,di nghiệp pha phong;nhất giao bính tí,xung khứ ngọ hỏa,nhất bại nhi tận;ất hợi vận, thê tử câu mại,tước phát vi tăng,hựu bất thủ thanh quy,đông ngạ nhi tử。
Dịch: Mệnh này có Tài Kỷ thổ thông căn ở Sửu, được lộc ở Ngọ, tựa hồ Than vài Tài đều vượng, có biết đâu Tài của Kỷ thổ bị Tỷ Kiên đoạt hết, Tài của Sửu bị Mão mộc khắc phá, Ngọ hỏa Thực Thần bị Hợi thủy khắc, Nhâm thủy lại phủ trên đầu, không có sức dẫn hóa, gọil à trên dưới vô tình nhĩ. Vận đầu gặp Mậu Dần, Đinh Sửu, Tài gặp sinh trợ, di nghiệp phong thịnh; qua đến vận Bính Tý, xung mất Ngọ hỏa, một lần là phá sạch; vận Ất Hợi, vợ con đều đem bán, cạo đầu đi tu, lại không thủ thanh quy, bị lạnh cóng mà chết.
Hợp thử lưỡng tạo quan chi,tắc thượng hạ chi tình hiệp dữ bất hiệp,phú quý bần tiện,toại phán thiên uyên,tức vu thử chứng nghiệm yên。
Dịch: Hợp hai mệnh này lại mà xem, thì trên dưới có tình hiệp điệu hay không, phú quý bần tiện, phán một bên trời một bên vực, tưc chứng nghiệm ngay ở đây.
左右贵乎同志。
Tả hữu quý hồ đồng chí.
【原注】上下左右,虽不全一气之物,须生化不错。
Nguyên chú: Thượng hạ tả hữu, tuy bất toàn nhất khí chi vật, tu sinh hóa bất thác.
【任氏曰】:
左右同志者,制化得宜,左右生扶,不杂乱者也。如杀旺身弱,有羊刃合之,或印绶化之;身旺杀弱,有财星生之,或官星助之;身杀两旺,有食神制之,或伤官敌之,此谓同志。若身弱而杀有财滋,财几为累矣;身旺而劫将官合,财官已忘矣。总之,日主所喜之神,必要贴身透露,喜杀而杀与财亲,忌杀而煞逢食制,喜印而印居官后,忌印而印让财先,喜财而遇食伤,忌财而遭比劫,日主所喜之神,得闲神相助,不争不忌,所忌之神,被闲神制伏,不肆不逞,此谓同志。宜细究之。
Nhâm thị viết: tả hữu đồng chí giả,chế hóa đắc nghi,tả hữu sanh phù,bất tạp loạn giả dã。Như sát vượng thân nhược,hữu dương nhận hợp chi,hoặc ấn thụ hóa chi;thân vượng sát nhược,hữu tài tinh sinh chi,hoặc quan tinh trợ chi;thân sát lưỡng vượng,hữu thực thần chế chi,hoặc thương quan địch chi,thử vị đồng chí。Nhược thân nhược nhi sát hữu tài tư,tài kỉ vi luy hĩ;thân vượng nhi kiếp tương quan hợp,tài quan dĩ vong hĩ。Tổng chi,nhật chủ sở hỉ chi thần,tất yêu thiếp thân thấu lộ,hỉ sát nhi sát dữ tài thân,kị sát nhi sát phùng thực chế,hỉ ấn nhi ấn cư quan hậu,kị ấn nhi ấn nhượng tài tiên,hỉ tài nhi ngộ thực thương,kị tài nhi tào tỉ kiếp,nhật chủ sở hỉ chi thần,đắc nhàn thần tương trợ,bất tranh bất kị,sở kị chi thần,bị nhàn thần chế phục, bất tứ bất sính,thử vị đồng chí。Nghi tế cứu chi.
Dịch: Nhâm thị nói: Tả hữu đồng chí, là chế hóa hợp nghi, trái phải sinh trợ, không có hỗn loạn. Như Sát vượng Thân nhược, có Dương Nhẫn hợp Sát, hoặc Ấn thụ hóa chi; Thân vượng Sát nhược, có Tài tinh sinh Sát, hoặc Quan tinh trợ Sát; Thân Sát đều vượng, có Thực Thần chế Sát, hoặc Thương Quan địch Sát, đấy là đồng chí. Nếu Thân nhược mà Sát có Tài sinh, Tài sẽ lụy hỷ; Thân vượng mà Kiếp có nhiều nữa thì Tài Quan sẽ chết mất. Tổng chi, hỷ thần của nhật chủ phải ở sát bên thấu ra, hỷ Sát mà Sát và Tài thân cận, kỵ Sát mà Sát bị Thực chế, hỷ Ấn mà Ấn ở sau Quan, kỵ Ấn mà Ấn không mạnh bằng Tài, hỷ Tài mà gặp Thực Thương, kỵ Tài mà gặp Tỷ Kiếp, hỷ thần của nhật chủ được nhàn thần tương trợ, không tranh không đố kỵ, kỵ thần đều bị nhàn thần chế phục, không ngông không cuồng, gọi là đồng chí. Nên xem xét kỹ.
壬申 丙午 庚午 庚辰
丁未 戊申 己酉 庚戌 辛亥 壬子
Bát tự:
Nhâm Bính Canh Canh
Thân Ngọ Ngọ Thìn
Đại vận:
Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm
Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý
此丙火之杀虽旺,壬水之根亦固,日主有比肩之助,辰土之生,谓身杀两停。用壬制杀,天干之同志者;地支之同志者,辰土也,一制一化,可谓有情。运喜金水之乡,仕途显赫,位至封疆。
Thử bính hỏa chi sát tuy vượng,nhâm thủy chi căn diệc cố,nhật chủ hữu tỉ kiên chi trợ,thìn thổ chi sinh, vị thân sát lưỡng đình。Dụng nhâm chế sát,thiên can chi đồng chí giả;địa chi chi đồng chí giả,thìn thổ dã, nhất chế nhất hóa,khả vị hữu tình。Vận hỉ kim thủy chi hương,sĩ đồ hiển hách,vị chí phong cương.
Dịch: Mệnh này Sát Bính hỏa tuy vượng, căn của Nhâm thủy cũng chắc, nhật chủ có Tỷ Kiên bang trợ, Thìn thổ sinh phù, gọi là Thân Sát bình quân. Dùng Nhâm làm Dụng thần chế Sát, thiên can đồng chí với nhau vậy; còn địa chi đồng chí là Thìn thổ, một chế một hóa, có thể gọi là hữu tình. Vận thích đất Kim Thủy, sĩ đồ hiển hách, làm đến vương hầu.
壬午 丙午 庚申 戊寅
丁未 戊申 己酉 庚戌 辛亥 壬子
Bát tự:
Nhâm Bính Canh Mậu
Ngọ Ngọ Thân Dần
Đại vận:
Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm
Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý
此造与前合观,大同小异,况乎日坐禄旺,壬水亦紧制杀,何彼则名利双收,此则终身不发?盖彼则壬水逢申之生地,制杀有权,此则壬水坐午之绝地,敌杀无力;彼则时干比劫帮身,又可生水,此则时上枭神克水,而不能生食。所谓左右不能同志者也。
Thử tạo dữ tiền hợp quan,đại đồng tiểu dị,huống hồ nhật tọa lộc vượng,nhâm thủy diệc khẩn chế sát,hà bỉ tắc danh lợi song thu,thử tắc chung thân bất phát? Cái bỉ tắc nhâm thủy phùng thân chi sinh địa,chế sát hữu quyền,thử tắc nhâm thủy tọa ngọ chi tuyệt địa,địch sát vô lực;bỉ tắc thời can tỉ kiếp bang thân,hựu khả sinh thủy,thử tắc thời thượng kiêu thần khắc thủy,nhi bất năng sinh thực。Sở vị tả hữu bất năng đồng chí giả dã。
Dịch: Mệnh này xem với mệnh trước, giống nhau nhiều hơn khác nhau, huống hồ nhật chủ tọa lộc vượng, Nhâm thủy cũng sát bên đó chế Sát, tại sao bên kia thì danh lợi đều có, bên này thì cả đời không khá nổi? Bởi vì, bên kia Nhâm thủy gặp đất sinh phù là Thân, chế Sát có lực, bên này Nhâm thủy ngòi trên tuyệt địa là Ngọ, không có sức địch lại Sát; bên kia thì can giờ Tỷ Kiếp bang trợ Thân, lại có thể sinh Thủy, bên này thì can giờ Kiêu thần khắc Thủy, không thể sinh Thực được. Gọi là trái phải không đồng chí hỷ.
始其所始,终其所终,富贵福寿,永乎无穷。
Thủy kỳ sở thủy, chung kỳ sở chung, phú quý phúc thọ, vĩnh hồ vô cùng.
【原注】年月为始,日时不反背之日地为终,年月不妒忌之,凡局中所喜之神,引于时支,有所归者,为始终得所,则富贵福寿,永乎无穷矣。
Nguyên chú: Niên nguyệt vi thủy, nhật thời bất phản bội chi nhật địa vi chung, niên nguyệt bất đố kỵ chi, phàm cục trung sở hỷ chi thần, dẫn vu thời chi, hữu sở quy giả, vi thủy chung đắc sở, tắc phú quý phúc thọ, vĩnh hồ vô cùng hỷ.
【任氏曰】:
始终之理,要干支流通,四柱生化不息之谓也。必须接续连珠,五行俱足,即多缺乏,或有合化之情,互相护卫,纯粹可观,所喜者逢生得地,所忌者受克无根。闲神不党忌物。忌物合化为功,四柱干支,一无弃物,纵有伤枭劫刃,亦来辅格助用。喜用有情,日元得气,未有不富贵福寿者也。
Thủy chung chi lí,yêu can chi lưu thông,tứ trụ sinh hóa bất tức chi vị dã。Tất tu tiếp tục liên châu,ngũ hành câu túc,tức đa khuyết phạp,hoặc hữu hợp hóa chi tình,hỗ tương hộ vệ,thuần túy khả quan,sở hỉ giả phùng sinh đắc địa,sở kị giả thụ khắc vô căn。Nhàn thần bất đảng kị vật。Kị vật hợp hóa vi công,tứ trụ can chi,nhất vô khí vật,túng hữu thương kiêu kiếp nhận,diệc lai phụ cách trợ dụng。Hỉ dụng hữu tình,nhật nguyên đắc khí,vị hữu bất phú quý phúc thọ giả dã.
Dịch: Lý của thủy chung, chính là can chi phải lưu thông, tứ trụ sinh hóa không ngừng. Phải tiếp tục liên châu, ngũ hành đầy đủ, dù có thiếu cũng hợp hóa hữu tình, hỗ tương bảo vệ, thuần túy khả quan, hỷ thần thì gặp sinh phù nằm hợp đất, kỵ thần thì bị khắc và không có căn rễ. Nhàn thần không bè đảng với kỵ thần. Kỵ vật hợp hóa thành có lợi, tứ trụ can chi, không có thứ gì là bỏ, cho dù là Thương, Kiêu, Kiếp, Nhẫn cũng lại xây dựng bổ ích. Hỷ thần dụng thần hữu tình, nhật nguyên được khí, chưa có chuyện không phú quý không phúc thọ hỷ.
壬寅 甲辰 丁亥 己酉
乙巳 丙午 丁未 戊申 己酉 庚戌 辛亥 壬子
Bát tự:
Nhâm Giáp Đinh Kỷ
Dần Thìn Hợi Dậu
Đại vận:
Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm
Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý
年干壬水为始,是支亥水为终。官生印,印生身,食神发用吐秀,财得食之覆,官逢财星之生。伤官虽当令,印缓制之有情,年月不反背,日时不妒忌,始终得所。贵至二品,富有百万,子孙济美,寿至八旬。
Niên can nhâm thủy vi thủy,thị chi hợi thủy vi chung。Quan sinh ấn,ấn sinh thân,thực thần phát dụng thổ tú,tài đắc thực chi phúc,quan phùng tài tinh chi sinh。Thương quan tuy đương lệnh,ấn thụ chế chi hữu tình,niên nguyệt bất phản bội,nhật thời bất đố kị,thủy chung đắc sở。Quý chí nhị phẩm,phú hữu bách vạn,tử tôn tề mĩ, thọ chí bát tuần.
Dịch: Can năm Nhâm thủy làm đầu, chi Hợi thủy làm cuối. Quan sinh Ấn, Ấn sinh Thân, Thực Thần phát dùng Thổ tú, Tài được phúc của Thực, Quan gặp Tài tinh sinh. Thương quan tuy đương lệnh, Ấn thụ chế Thương hữu tình, năm và tháng không bội phản nhau, ngày giờ không đố kỵ nhau, đầu và đuôi đều được an đốn. Quý đến nhị phẩm, phú đến trăm vạn, con cháu đều tốt, thọ đến 80.
戊戌 庚申 癸亥 乙卯
辛酉 壬戌 癸亥 甲子 乙丑 丙寅 丁卯 戊辰
Bát tự:
Mậu Canh Quý Ất
Tuất Thân Hợi Mão
Đại vận:
Tân Nhâm Quý Giáp Ất Bính Đinh Mậu
Dậu Tuất Hợi Tý Sửu Dần Mão Thìn
此造土生金,金生水,水生木,干支同流,但有相生之谊,而无争妒之风、戊戌中财星归库,官司清印正分明,食神吐秀逢生。乡榜出身,仕至黄堂,一妻二妾,子有十三,科第连绵,富有百万,寿过九旬。
Thử tạo thổ sinh kim,kim sinh thủy,thủy sinh mộc,can chi đồng lưu,đãn hữu tương sinh chi nghị,nhi vô tranh đố chi phong, mậu tuất trung tài tinh quy khố,quan ti thanh ấn chính phân minh,thực thần thổ tú phùng sinh。Hương bảng xuất thân,sĩ chí hoàng đường,nhất thê nhị thiếp,tử hữu thập tam,khoa đệ liên miên,phú hữu bách vạn,thọ quá cửu tuần.
Dịch: Mệnh này Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, can chi cùng đi một đường ngũ hành, lại có cái hữu nghị của tương sinh, mà không có cái đấu tranh của đố kỵ, Tài tinh Hỏa vào khố Tuất, Quan thanh (Chính Quan), Ấn chính (Chính Ấn) phân minh, Thực Thần vượng Trường Sinh ở Hợi. Xuất thân hương bản, làm quan đến hoàng đường, một vợ hai thiếp, mười ba con, đổ đạt liên miên, phú cả trăm vạn, thọ quá 90.
甲子 丙寅 己巳 辛未
丁卯 戊辰 己巳 庚午 辛未 壬申 癸酉 甲戌
Bát tự:
Giáp Bính Kỷ Tân
Tý Dần Tỵ Mùi
Đại vận:
Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý Giáp
Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất
此造天干木生火,火生土,土生金,地支水生木,木生火,火生土,土生金。且由支而生干,从地支则以年支子水生寅木为始,至时干辛金为终;从天干亦以年支子水生甲木为始,至时干辛金为终。天地同流。正所谓始其所始,终其所终也,是以科甲联登,仕至极品,夫妇齐美,子孙衍,科甲不绝,寿至九旬。
Thử tạo thiên can mộc sinh hỏa,hỏa sinh thổ,thổ sinh kim,địa chi thủy sinh mộc,mộc sinh hỏa,hỏa sinh thổ, thổ sinh kim。Thả do chi nhi sinh can,tòng địa chi tắc dĩ niên chi tí thủy sinh dần mộc vi thủy,chí thời can tân kim vi chung;tòng thiên can diệc dĩ niên chi tí thủy sinh giáp mộc vi thủy,chí thời can tân kim vi chung。Thiên địa đồng lưu。Chính sở vị thủy kì sở thủy,chung kì sở chung dã,thị dĩ khoa giáp liên đăng,sĩ chí cực phẩm,phu phụ tề mĩ,tử tôn diễn,khoa giáp bất tuyệt,thọ chí cửu tuần.
Dịch: Mệnh này thiên can Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, địa chi Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim. Với nữa, từ chi nhi sinh lên can, từ địa chi thì lấy chi năm Tí thủy sinh Dần mộc bắt đầu, cho đến can giờ là Tân kim chấm dứt; từ thiên can cũng lấy chi năm Tý thủy sinh Giáp mộc bắt đầu, cho đến can giờ Tân kim chấm dứt. Thiên địa cùng đi một đường. Chính là thủy kỳ sở thủy, chung kỳ sở chung, do đó mà khoa giáp liên tiếp đổ, làm quan đến cực phẩm, phu phụ đều giỏi, con cái đầy đàn, khoa giáp đổ đạt không ngớt, thọ đến 90.

Vui lòng Đăng nhập để tham gia cuộc hội thoại.

Trích Thiên Tủy chương V 14 09 2020 07:36 #2

CHƯƠNG VIII ĐỊA CHI
________________________________________
阳支动且强,速达显灾祥;阴支静且专,否泰每经年。
Dương chi động thả cường, tốc đạt hiển tai tường; âm chi tĩnh thả chuyên, bỉ thái mỗi kinh niên.
【原注】子、寅、辰、午、申、戌,阳也,其性动,其势强,其发至速,其灾祥至显;丑、卯、巳、未、酉、亥,阴也,其性静,其气专,发之不速,而否泰之验,每至经年而后见。
Nguyên chú: tý, dần, thìn, ngọ, thân, tuất, dương dã,kì tính động,kì thế cường,kì phát chí tốc,kì tai tường chí hiển;sửu, mão, tị, mùi, dậu, hợi,âm dã,kì tính tĩnh,kì khí chuyên,phát chi bất tốc,nhi bỉ thái chi nghiệm,mỗi chí kinh niên nhi hậu kiến.
【任氏曰】:
地支有以子至巳为阳,午至亥为阴者,此从冬至阳生、夏至阴生论;有以寅至未为阳,申至丑为阴者,此分木火为阳,金水为阴也。命家以子、寅、辰、午、申、戌为阳,丑、卯、巳、未、酉、亥为阴。若子从癸、午从丁,是体阳而用阴也;巳从丙,亥从壬,是体阴而用阳也。分别取用,亦惟刚柔健顺之理,与天干无异,但生克制化,其理多端,盖一支所藏或二干,或三干故耳。然以本气为主,寅必先甲而后及丙,申必先庚而后及壬,余支皆然。阳支性动而强,吉凶之验恒速;阴支性静而弱,祸福之应较迟。在局在运,均以此意消息之。
Nhâm thị viết: địa chi hữu dĩ tý chí tị vi dương,ngọ chí hợi vi âm giả,thử tòng đông chí dương sinh, hạ chí âm sinh luận;hữu dĩ dần chí mùi vi dương,thân chí sửu vi âm giả,thử phân mộc hỏa vi dương,kim thủy vi âm dã。Mệnh gia dĩ tý, dần, thìn, ngọ, thân, tuất vi dương,sửu, mão, tị, mùi, dậu, hợi vi âm。 Nhược tý tòng quý, ngọ tòng đinh,thị thể dương nhi dụng âm dã;tị tòng bính, hợi tòng nhâm,thị thể âm nhi dụng dương dã。 Phân biệt thủ dụng,diệc duy cương nhu kiện thuận chi lí,dữ thiên can vô dị, đãn sinh khắc chế hóa,kì lí đa đoan,cái nhất chi sở tàng hoặc nhị can,hoặc tam can cố nhĩ。Nhiên dĩ bản khí vi chủ,dần tất tiên giáp nhi hậu cập bính,thân tất tiên canh nhi hậu cập nhâm,dư chi giai nhiên。Dương chi tính động nhi cường,cát hung chi nghiệm hằng tốc;âm chi tính tĩnh nhi nhược,họa phúc chi ứng giác trì。Tại cục tại vận,quân dĩ thử ý tiêu tức chi.
Dịch: Nhâm thị nói: địa chi có chỗ cho là Tý tới Tị là dương, Ngọ tới Hợi là âm, đó là theo luận cứ đông chí dương sinh, hạ chí âm sinh; có chỗ cho là Dần tới Mùi là dương, Thân tới Sửu là âm, đó là luận cứ chia mộc hỏa làm dương, kim thủy làm âm. Các nhà toán mệnh thì lấy Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất làm dương, Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi làm âm. Còn Tý thì theo Quý, và Ngọ thì theo Đinh, là thể thì dương mà dụng thì là âm; Tỵ theo Bính, Hợi theo Nhâm, đó là thể thì âm mà dụng thì dương. Phân biệt để dùng thì cũng theo cái lý cương nhu, kiện thuận không khác gì thiên can, có điều sinh khắc chế hóa, lý lẽ có hơi phức tạp, bởi vì chi có tàng khi một, khi hai, hoặc ba ngũ hành. Nhưng bản chí làm chủ, Dần thì trước tiên là Giáp, sau đó là Bính, Thân thì trước là Canh sau mới tới Nhâm, còn dư các chi khác đều như vậy. Tính dương vốn động mà cường, lành dữ ứng nghiệm thần tốc; tính âm thì tĩnh mà nhược, họa phúc ứng nghiệm chậm hơn. Trong mệnh hoặc trong vận đều có một ý cả.
生方怕动库宜开,败地逢冲仔细推。
Sinh phương phạ động khố nghi khai,bại địa phùng xung tử tế thôi.
【原注】寅、申、巳、亥生方也,忌冲动;辰、戌、丑、未四库也,宜冲开。子、午、卯、酉四败也,有逢合而喜冲者,不若生地之必不可冲也;有逢冲而喜合者,不若库地之必不可闲也。须仔细详之。
Nguyên chú: dần, thân, tị, hợi sinh phương dã,kị xung động; thìn, tuất, sửu, mùi tứ khố dã,nghi xung khai. Tý, ngọ, mão, dậu tứ bại dã,hữu phùng hợp nhi hỉ xung giả,bất nhược sinh địa chi tất bất khả xung dã;hữu phùng xung nhi hỉ hợp giả,bất nhược khố địa chi tất bất khả nhàn dã。Tu tử tế tường chi.
【任氏曰】:
旧说云,金水能冲木火,木火不能冲金水,此论天干则可,论地支则不可。盖地支之气多不专,有他气藏在内也。须看他气乘权得势,即木火亦岂不能冲金水乎?生方怕动者,两败俱伤也。假如寅申逢冲,申中庚金,克寅中甲木,寅中丙火,未尝不克申中庚金;申中壬水,克寅中丙火,寅中戊土,未尝不克申中壬水。战克不静故也。库宜开者,然亦有宜不宜,详在杂气章中。败地逢冲仔细推者,子、午、卯、酉之专气也,用金水则可冲,用木火则不可冲。然亦须活看,不可执一。倘用春夏之金水,则金水之气休囚,木火之势旺相,金水岂不反伤乎?宜参究之。
Nhâm thị viết: cựu thuyết vân,kim thủy năng xung mộc hỏa, mộc hỏa bất năng xung kim thủy,thử luận thiên can tắc khả,luận địa chi tắc bất khả。Cái địa chi chi khí đa bất chuyên,hữu tha khí tàng tại nội dã。Tu khán tha khí thừa quyền đắc thế,tức mộc hỏa diệc khởi bất năng xung kim thủy hồ? sinh phương phạ động giả, lưỡng bại câu thương dã。Giả như dần thân phùng xung,thân trung canh kim,khắc dần trung giáp mộc,dần trung bính hỏa,vị thường bất khắc thân trung canh kim;thân trung nhâm thủy, khắc dần trung bính hỏa,dần trung mậu thổ,vị thường bất khắc thân trung nhâm thủy。Chiến khắc bất tĩnh cố dã。Khố nghi khai giả,nhiên diệc hữu nghi bất nghi,tường tại tạp khí chương trung。Bại địa phùng xung tử tế thôi giả,tý, ngọ, mão, dậu chi chuyên khí dã,dụng kim thủy tắc khả xung, dụng mộc hỏa tắc bất khả xung。Nhiên diệc tu hoạt khán,bất khả chấp nhất。 Thảng dụng xuân hạ chi kim thủy,tắc kim thủy chi khí hưu tù,mộc hỏa chi thế vượng tướng,kim thủy khởi bất phản thương hồ? nghi tham cứu chi.
Dịch: Nhâm thị nói: thuyết xưa nói rằng, Kim Thủy có thể xung Mộc Hỏa, nhưng Mộc Hỏa không xung được Kim Thủy, nếu luận thiên can thì được, nhưng địa chi thì không. Bởi địa chi có nhiều khí không chuyên như thiên can, bản khí còn có dư khí, thừa khí. Phải xem các khí kia có đương lệnh hay không, Mộc Hỏa cũng đâu phải không xung được Kim Thủy sao? Sinh phương (Dần Thân Tỵ Hợi) sợ động là vì sợ hai bên đều chết. Giả như Dần Thân gặp xung, trong Thân có Canh Kim khắc Giáp mộc trong Dần, Bính hỏa trong Dần đâu phải là không khắc Canh kim trong Thân; Nhâm thủy trong Thân khắc Bính hỏa trong Dần, Mậu thổ trong Dần đâu phải là không khắc Nhâm thủy trong Thân. Do đó mà không lúc nào là không khắc nhau. Khố (Thìn Tuất Sửu Mùi) nên khai nhưng cũng có lúc nên có lúc không nên, sẽ nói rõ ở chương tạp khí. Bại địa (Tý Ngọ Mão Dậu) hợp xung phải xem xét kỹ càng là vì Tý Ngọ Mão Dậu chỉ có một khí, dùng Kim Thủy thì có thể xung, dùng Mộc Hỏa thì không thể xung. Nhưng cũng phải nhìn cho thoáng, không thể nhất định phải thế. Nếu dùng Kim Thủy của mùa xuân mùa hạ thì khí của Kim Thủy hưu tù, thế của Mộc Hỏa vượng, Kim Thủy e là ngược lại bị tổn thương thì có? Phải tham cứu kỹ càng.
甲寅 壬申 癸巳 癸亥
癸酉 甲戌 己亥 丙子 丁丑 戊寅 己卯 庚辰
Bát tự:
Giáp Nhâm Quý Quý
Dần Thân Tỵ Hợi
Đại vận:
Quý Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh
Dậu Tuất Hợi Tý Sửu Dần Mão Thìn
秋水通源,金当令,水重重,木囚逢冲,不足为用。火虽休而紧贴日支,况秋初余气未息,用神必在巳火。巳亥逢冲,群劫纷争,所以连克三妻,无子。兼之运走北方水地,以致破耗异常;至戊寅己卯,运转东方,喜用合宜,得其温饱;庚运制伤生劫,又逢酉年,喜用两伤,不禄。
Thu thủy thông nguyên,kim đương lệnh,thủy trùng trùng,mộc tù phùng xung,bất túc vi dụng。Hỏa tuy hưu nhi khẩn thiếp nhật chi,huống thu sơ dư khí vị tức,dụng thần tất tại tị hỏa。Tị hợi phùng xung,quần kiếp phân tranh,sở dĩ liên khắc tam thê,vô tử。Kiêm chi vận tẩu bắc phương thủy địa,dĩ trí phá háo dị thường;chí mậu dần kỉ mão,vận chuyển đông phương,hỉ dụng hợp nghi, đắc kì ôn bão;canh vận chế thương sinh kiếp,hựu phùng dậu niên,hỉ dụng lưỡng thương,bất lộc.
Dịch: Thủy mùa thu thông nguồn, Kim đương lệnh, Thủy trùng điệp, Mộc bị tù lại gặp xung, không đủ để làm dụng thần. Hỏa tuy hưu nhưng núp trong chi ngày, huống hồ sơ thu dư khí của Hỏa còn chưa hết, dụng thần phải là Tỵ hỏa. Tỵ Hợi gặp xung, quần Kiếp tranh Tài, do đó mà khắc liên tiếp ba vợ, không có con. Thêm vào đó, vận đi hướng bắc đất Thủy, đến nổi tổn phá hư hao dị thường; đến vận Mậu Dần, Kỷ Mão, vận chuyển qua phương đông, hỷ thần dụng thần đều tốt, được ấm áp bão bọc; vận Canh kim khắc Thương sinh Kiếp, lại gặp năm Dậu, hỷ thần dụng thần đều bị tổn thương, không qua được.
癸巳 癸亥 甲寅 壬申
壬戌 辛酉 庚申 己未 戊午 丁巳
Bát tự:
Nhâm Quý Giáp Nhâm
Tỵ Hợi Dần Thân
Đại vận:
Nhâm Tân Canh Kỷ Mậu Đinh
Tuất Dậu Thân Mùi Ngọ Tỵ
甲寅日元,生于孟冬,寒木必须用火。柱中四逢旺水伤用,无土砥定,似乎不美,妙在寅亥临合,巳火绝处逢生,此即兴发之机。然初运西方金地,有伤体用,碌碌风霜,奔驰未遇;四旬外运转南方火土之地,助起用神,弃印就财,财发数万,娶妾,连生四子。由是观之,印绶作用,逢财为祸不小,不如就财,发福最大。
Giáp dần nhật nguyên,sinh vu mạnh đông,hàn mộc tất tu dụng hỏa。Trụ trung tứ phùng vượng thủy thương dụng,vô thổ chỉ định,tự hồ bất mĩ,diệu tại dần hợi lâm hợp,tị hỏa tuyệt xử phùng sinh,thử tức hưng phát chi cơ。Nhiên sơ vận tây phương kim địa,hữu thương thể dụng,lục lục phong sương,bôn trì vị ngộ;tứ tuần ngoại vận chuyển nam phương hỏa thổ chi địa,trợ khởi dụng thần,khí ấn tựu tài,tài phát số vạn,thú thiếp,liên sinh tứ tử。Do thị quan chi,ấn thụ tác dụng,phùng tài vi họa bất tiểu,bất như tựu tài,phát phúc tối đại.
Dịch: Nhật chủ Giáp Dần, sinh vào mạnh đông, Mộc lạnh phải cần dùng đến Hỏa. Trong trụ có 4 Thủy tổn thương dụng thần, không có Thổ để chế, tựa hồ không hay, diệu là Dần Hợi lục hợp thành Mộc, Tỵ hỏa gặp đường sống trong đất chết, đấy là cơ hội hưng thịnh lên. Nhưng vận lúc đầu ở phương tây đất Kim, khắc Thân và tổn dụng thần, chạy ngược chạy xuôi bên ngoài không gặp thời thế; bốn mươi ngoài vận chuyển qua phương nam là đất của Hỏa, bang trợ dụng thần, bỏ Ấn lấy Tài, phát tài số vạn, lấy thiếp sinh luôn 4 đứa con trai. Do đó có thể thấy, Ấn Thụ tác dụng gặp Tài là khắc gây họa vô cùng, gặp Thực Thương sinh Tài là phát phúc tối đa.
辛卯 丁酉 戊子 戊午
丙申 乙未 甲午 癸巳 壬辰 辛卯
Bát tự:
Tân Đinh Mậu Mậu
Mão Dậu Tý Ngọ
Đại vận:
Bính Ất Giáp Quý Nhâm Tân
Thân Mùi Ngọ Tỵ Thìn Mão
伤官用印,喜神即是官星,非俗论土金伤官忌官星也。卯酉冲,则印绶无生助之神;子午冲,使伤官得以肆逞。地支金旺水生,木火冲克已尽,天干火土虚脱,以致读书未遂,碌碌经营。然喜水不透,为人文采风流,精于书法。更兼中运天干金水,未免有志难伸。凡伤官佩印喜用在木火者,忌见金水也。
Thương quan dụng ấn,hỉ thần tức thị quan tinh,phi tục luận thổ kim thương quan kị quan tinh dã。Mão dậu xung,tắc ấn thụ vô sinh trợ chi thần;tý ngọ xung,sử thương quan đắc dĩ tứ sính。Địa chi kim vượng thủy sinh, mộc hỏa xung khắc dĩ tận,thiên can hỏa thổ hư thoát,dĩ trí độc thư vị toại,lục lục kinh doanh。Nhiên hỉ thủy bất thấu,vi nhân văn thái phong lưu,tinh vu thư pháp。Cánh kiêm trung vận thiên can kim thủy,vị miễn hữu chí nan thân。Phàm thương quan bội ấn hỉ dụng tại mộc hỏa giả, kị kiến kim thủy dã.
Dịch: Thương Quan vượng, dụng thần là Ấn, hỷ thần chính là Quan tinh Mộc, không phải như người ta thường nói là Thương Quan vượng thì kỵ có Quan tinh. Mão Dậu xung, thì Ấn Thụ không có chỗ sinh cho (Mộc sinh Hỏa Dụng thần); Tý Ngọ xung làm Thương Quan Kim tha hồ vùng vẫy. Địa chi Kim vượng Thủy sinh, Mộc và Hỏa bị xung khắc cạn kiệt, thiên can Hỏa Thổ bị mất căn, đến nổi đọc sách không thành tài, chỉ buôn bán nho nhỏ. Nhưng may mà Thủy không thấu, bình thời văn thái phong lưu, giỏi về thư pháp. Lại thêm vào vận giữa chừng gặp thiên can Kim Thủy, không khỏi có chí mà không đi đến đâu. Phàm Thương Quan vượng mà có Ấn là Hỷ Dụng thần ở Mộc Hỏa, kỵ gặp Kim Thủy.
辛未 辛丑 戊辰 壬戌
庚子 己亥 戊戌 丁酉 丙申 乙未
Bát tự:
Tân Tân Mậu Nhâm
Mùi Sửu Thìn Tuất
Canh Kỷ Mậu Đinh Bính Ất
Tý Hợi Tuất Dậu Thân Mùi
此造非支全四库之美,所喜者辛金吐秀,丑中元神透出,泄其精英,更妙木火伏而不见,纯清不混。至酉运,辛金得地,中乡榜;后因运行南方,木火并旺,用神之辛金受伤,由举而进,而不能选。
Thử tạo phi chi toàn tứ khố chi mĩ,sở hỉ giả tân kim thổ tú,sửu trung nguyên thần thấu xuất,tiết kì tinh anh, cánh diệu mộc hỏa phục nhi bất kiến,thuần thanh bất hỗn。Chí dậu vận,tân kim đắc địa,trúng hương bảng;hậu nhân vận hành nam phương,mộc hỏa tịnh vượng, dụng thần chi tân kim thụ thương,do cử nhi tiến,nhi bất năng tuyển.
Dịch: Mệnh này không phải là được Thìn Tuất Sửu Mùi mà đẹp, cái may là Tân kim vượng và Thổ tú, nguyên thần trong Sửu thấu ra, phát tiết tinh anh (Sửu tàng Kỷ thổ, Quý thủy, Tân kim tất cả đều thấu thiên can), lại hay nữa là Mộc và Hỏa nằm ẩn trong chi không thấy, thuần thanh không bị hỗn tạp. Đến vận Dậu, Tân kim đắc địa, trúng bảng thi Hương; sau này vận đi về phương nam, Mộc và Hỏa đều vượng; Dụng thần Tân kim bị tổn thương, được cử lên, nhưng không được chọn.
戊辰 壬戌 辛未 己丑
癸亥 甲子 乙丑 丙寅 丁卯 戊辰
Bát tự:
Mậu Nhâm Tân Kỷ
Thìn Tuất Mùi Sửu
Đại vận:
Quý Giáp Ất Bính Đinh Mậu
Hợi Tý Sửu Dần Mão Thìn
此满局印绶,土重金埋,壬水用神伤尽,未辰虽藏乙木无冲,或可借用,以待运来引出,乃被丑戌冲破,藏金暗相砍伐,以至克妻无子。由此论之,四库必要冲者,执一之论也,全在天干调剂得宜,更须用神有力,岁运辅助,庶无偏枯之病也。
Thử mãn cục ấn thụ,thổ trọng kim mai,nhâm thủy dụng thần thương tận,Mùi Thìn tuy tàng Ất Mộc vô xung,hoặc khả tá dụng,dĩ đãi vận lai dẫn xuất,nãi bị Sửu Tuất xung phá,tàng kim ám tương khảm phạt,dĩ chí khắc thê vô tử。Do thử luận chi,tứ khố tất yêu xung giả, chấp nhất chi luận dã,toàn tại thiên can điều tề đắc nghi,cánh tu dụng thần hữu lực,tuế vận phụ trợ,thứ vô thiên khô chi bệnh dã.
Dịch: Mệnh cục này đầy Ấn thụ thổ, Thổ nhiều chôn Kim, Nhâm thủy làm Dụng thần bị tổn thương sạch, Mùi Thìn tuy có tàng Ất mộc không bị xung, có thể dùng tạm, chờ vận đến dẫn ra, lại bị Sửu và Tuất bị Mùi và Thìn xung phá, Kim tàng trong đó chạy ra chém Mộc, đến nổi khắc vợ không có con. Do đó mà thấy, Thìn Tuất Sửu Mùi chắc chắn là xung chỉ là một trong những luận cứ, toàn là do thiên can điều hòa hợp lý, lại thêm dụng thần phải có sức lực, thêm tuế vận phò trợ, tiếp nữa tứ trụ có bị bệnh thiên khô không.
支神只以冲为重,刑与穿兮动不动
Chi thần chỉ dĩ xung vi trọng, hình dữ xuyên hề động bất động
【原注】冲者必是相克,及四库兄弟之冲,所以必动;至于刑穿之间,又有相生相合者存,所以有动不动之异
Nguyên chú: Xung giả tất thị tương khắc, nãi tứ khố huynh đệ chi xung, sở dĩ tất động; chí vu hình xuyên chi gián, hựu hữu tương sinh tương hợp giả tồn, sở dĩ hữu động bất động chi dị.
【任氏曰】:
地支逢冲,犹天干之相克也,须视其强弱喜忌而论之。至于四库之冲,亦有宜不宜,如三月之辰,乙木司令,逢戌冲,则戌中辛金,亦能伤乙木;六月之未,丁火司令,逢丑冲,则丑中癸水,亦能伤丁火。按三月之乙、六月之丁,虽属退气,若得司令,竟可为用,冲则受伤,不足用矣。所谓暮库逢冲则发者,后人之谬也。暮者,坟暮之意;库者,木火金水收藏埋根之地,譬如得气之坟,未开动而发福者也
Nhâm thị viết: địa chi phùng xung,do thiên can chi tương khắc dã,tu thị kì cường nhược hỉ kị nhi luận chi。Chí vu tứ khố chi xung,diệc hữu nghi bất nghi,như tam nguyệt chi Thìn,Ất mộc ti lệnh,phùng Tuất xung,tắc Tuất trung Tân kim,diệc năng thương Ất mộc;lục nguyệt chi Mùi, Đinh hỏa ti lệnh,phùng Sửu xung,tắc Sửu trung Quý thủy, diệc năng thương Đinh hỏa。Án tam nguyệt chi Ất, lục nguyệt chi Đinh, tuy thuộc thoái khí,nhược đắc ti lệnh,cánh khả vi dụng,xung tắc thụ thương,bất túc dụng hĩ。Sở vị mộ khố phùng xung tắc phát giả,hậu nhân chi mậu dã。Mộ giả,phần mộ chi ý;khố giả,mộc hỏa kim thủy thu tàng mai căn chi địa,thí như đắc khí chi phần,vị khai động nhi phát phúc giả dã
Dịch: Nhâm thị nói: địa chi gặp xung, là do thiên can khắc nhau, phải xem cường nhược hỷ kỵ ra sao mà suy luận. Còn Thìn Tuất Sửu Mùi xung nhau, cũng có chỗ được và không được, như Thìn tháng 3, Ất mộc đương lệnh, gặp Tuất xung, thì Tân kim trong Tuất cũng có thể tổn thương Ất mộc; Mùi tháng 6, Đinh Hỏa đương lệnh, gặp Sửu xung, thì Quý thủy trong Sửu cũng có thể tổn thương Đinh hỏa. Án Ất tháng 3, Đinh tháng 6, tuy đang thoái khí, nhưng nếu đương lệnh, vẫn có thể là dụng thần, nếu bị xung tức bị thụ thương, không thể là dụng thần được. Còn có câu mộ khố gặp xung thì sẽ phát, đấy là lời nói láo của những kẻ sau này. Mộ, là chỉ mộ phần; khố, là chỉ chỗ dấu căn của mộc hỏa kim thủy, tỷ như phần mộ được khí, chưa mở ra là đã phát phúc rồi.
如木火金水之天干,地支无寅、卯、巳、午、申、酉、亥、子之禄旺,全赖辰戌丑未之身库通根,逢冲则微根拨尽,未有冲动而强旺者也。如不用司令,以土为喜神,冲之有益无损,盖土动则发生矣。刑之义无所取,如亥刑亥、辰刑辰、酉刑酉、午刑午,谓之自刑,本支见本支,自谓同气,何以相刑?子刑卯,卯刑子,是谓相生,何以相刑?戌刑未,未刑丑,皆为土气,更不当刑。寅刑巳,亦是相生,寅申相刑,即冲何必再刑?又曰子卯一刑也,寅巳申二刑也,丑戌未三刑也,故称三刑,又有自刑,此皆俗谬,姑置之。穿,即害也,六害由六合而来,冲我合神,故为之害,如子合丑而未冲,丑合子而午冲之类。子未之害,无非相克,丑午寅亥之害,乃是相生,何以为害?且刑既不足为凭,而害之义,尤为穿凿。总以论其生克为是,至于破之义,非害即刑也,尤属不经,削之可也
Như mộc hỏa kim thủy chi thiên can,địa chi vô dần, mão, tị, ngọ, thân, dậu, hợi, tý chi lộc vượng,toàn lại thìn tuất sửu mùi chi thân khố thông căn,phùng xung tắc vi căn bạt tận,vị hữu xung động nhi cường vượng giả dã。Như bất dụng ti lệnh,dĩ thổ vi hỉ thần,xung chi hữu ích vô tổn,cái thổ động tắc phát sinh hĩ。Hình chi nghĩa vô sở thủ,như hợi hình hợi, thìn hình thìn, dậu hình dậu, ngọ hình ngọ,vị chi tự hình,bản chi kiến bản chi,tự vị đồng khí,hà dĩ tương hình?Tý hình mão,mão hình tý,thị vị tương sinh,hà dĩ tương hình? Tuất hình mùi,mùi hình sửu,giai vi thổ khí,cánh bất đương hình。Dần hình tị, diệc thị tương sinh,dần thân tương hình,tức xung hà tất tái hình?hựu viết tý mão nhất hình dã,dần tị thân nhị hình dã,sửu tuất mùi tam hình dã,cố xưng tam hình,hựu hữu tự hình,thử giai tục mậu,cô trí chi。Xuyên,tức hại dã,lục hại do lục hợp nhi lai,xung ngã hợp thần, cố vi chi hại, như tý hợp sửu nhi mùi xung,sửu hợp tý nhi ngọ xung chi loại。Tý Mùi chi hại,vô phi tương khắc,sửu ngọ dần hợi chi hại,nãi thị tương sinh,hà dĩ vi hại? thả hình kí bất túc vi bằng,nhi hại chi nghĩa,vưu vi xuyên tạc。Tổng dĩ luận kì sinh khắc vi thị,chí vu phá chi nghĩa, phi hại tức hình dã,vưu thuộc bất kinh,tước chi khả dã.
Dịch: Như thiên can mộc, hỏa, kim, thủy mà không có địa chi dần, mão, tị, ngọ, thân, dậu, hợi, tý làm căn, chỉ dựa vào thìn tuất sửu mùi làm căn với thân, gặp xung thì căn nhỏ bé đó sẽ bị bật tận gốc, chẳng có chuyện xung động mà cường vượng được. Như nếu không dùng dụng thần, lấy thổ làm hỷ thần, xung thổ sẽ có ích không có tổn hại, bởi thổ động là phát sinh. Còn hình không thấy có nghĩa lý gì để nói, như hợi hình hợi, thìn hình thìn, dậu hình dậu, ngọ hình ngọ, gọi là tự hình, địa chi gặp chính nó, tức là đồng khí, tại sao lại tương hình? Tuất hình Mùi, Mùi hình Sửu, đều là khí Thổ, lại càng không thể là hình. Dần hình Tỵ, cũng là tương sinh, Dần Thân tương hình, đã xung rồi sao còn hình nữa? Lại nói Tý Mão là hình thứ nhất, Dần Tỵ Thân là hình thứ hai, Sửu Tuất Mùi là hình thứ ba, do đó gọi là tam hình, còn có ự hình, đều là nói ngoa, nên bỏ qua một bên. Xuyên, còn gọi là hại, lục hại là do lục hợp mà ra, xung ta không cho ta hợp tức là hại, như Tý hợp Sửu mà Mùi xung Sửu, Sửu hợp Tý mà Ngọ xung Tý vân vân. Mùi hại Tý, chính là tương khắc, Sửu Ngọ, Dần Hợi hại nhau, chính là tương sinh, tại sao lại gọi là hại? Với lại hình đã không có gì để làm bằng, nghĩa lý của hại lại càng xuyên tạc. Phải nên luận mệnh dùng sinh khắc là đủ, còn nói đến phá nữa, không hại thì hình, lại càng không ra đường lối gì, bỏ đi có thể được.
丙子 辛卯 壬子 癸卯
壬辰 癸巳 甲午 乙未 丙申 丁酉
Bát tự:
Bính Tân Nhâm Quý
Tý Mão Tý Mão
Đại vận:
Nhâm Quý Giáp Ất Bính Đinh
Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu
壬子日元,支逢两刃,干透癸辛,五行无土,年干丙火临绝,合辛化水,最喜卯旺提纲,泄其菁英,能化劫刃之顽。秀气流行,为人恭而有礼,和而中节。至甲运,木之元神发露,科甲连登;午运得卯木泄水生火,及乙未丙运,官至郡守,仕途平顺。以俗论之,子卯为无礼之刑,且伤官羊刃逢刑,必至傲慢无礼,凶恶多端矣。
Nhâm tý nhật nguyên,chi phùng lưỡng nhẫn,can thấu quý tân,ngũ hành vô thổ,niên can bính hỏa lâm tuyệt, hợp tân hóa thủy,tối hỉ mão vượng đề cương,tiết kì tinh anh,năng hóa kiếp nhẫn chi ngoan。Tú khí lưu hành,vi nhân cung nhi hữu lễ,hòa nhi trung tiết。Chí giáp vận,mộc chi nguyên thần phát lộ,khoa giáp liên đăng;ngọ vận đắc mão mộc tiết thủy sinh hỏa,cập ất mùi bính vận,
quan chí quận thủ,sĩ đồ bình thuận。Dĩ tục luận chi,tý mão vi vô lễ chi hình,thả thương quan dương nhẫn phùng hình,tất chí ngạo mạn vô lễ,hung ác đa đoan hĩ.
Dịch: Nhật chủ Nhâm Tý, địa chi có hai dương nhẫn Tý, can thấu Quý Tân, ngũ hành không có Thổ, can năm Bính hỏa tọa đất Tuyệt, hợp Tân hóa Thủy, thích nhất là nguyệt lệnh Mão, tiết tinh anh của Thủy, hóa được Kiếp Tài, Dương Nhẫn hung mãnh. Tú khí lưu hành (ý nói Kim Thủy thông?), con người cung cẩn mà có lễ độ, hòa mà trúng tiết (trung dung). Đến vận Giáp, nguyên thần của Mộc phát lộ (Giáp thấu can), trúng tuyển khoa giáp mấy lần; vận Ngọ (5 năm sau) được Mão mộc tiết Thủy sinh Hỏa, đến vận Ất Mùi, Bính, làm quan đến quận thú, con đường hoạn quan bình thản thuận lợi. Thầy bói thường thường hay luận rằng, Tý Mão là hình vô lễ, Thương Quan, Dương Nhẫn gặp hình là sẽ chỉ tới con người ngạo mạn vô lễ hung ác nhiều chuyện xấu hỷ.
辛未 乙未 庚辰 丁亥
甲午 癸巳 壬辰 辛卯 庚寅 己丑
Bát tự:
Tân Ất Canh Đinh
Mùi Mùi Thìn Hợi
Đại vận:
Giáp Quý Nhâm Tân Canh Kỷ
Ngọ Tỵ Thìn Mão Dần Sửu
庚辰日元,生于季夏,金进气,土当权,喜其丁火司令,元神发露而为用神,能制辛金之劫。未为火之余气,辰乃木之余气,财官皆通根有气,更妙亥水润土养金而滋木,四柱无缺陷。运走东南,金水虚,木火实,一生无凶无险。辰运午年,财、印皆有生扶,中乡榜,由琴堂而迁司马。寿至丑运。
Canh thìn nhật nguyên,sinh vu quý hạ,kim tiến khí,thổ đương quyền,hỉ kì đinh hỏa ti lệnh,nguyên thần phát lộ nhi vi dụng thần,năng chế tân kim chi kiếp。 Mùi vi hỏa chi dư khí,thìn nãi mộc chi dư khí,tài quan giai thông căn hữu khí,cánh diệu hợi thủy nhuận thổ dưỡng kim nhi tư mộc,tứ trụ vô khuyết hãm。Vận tẩu đông nam,kim thủy hư,mộc hỏa thật,nhất sinh vô hung vô hiểm。Thìn vận ngọ niên,tài, ấn giai hữu sinh phù,trúng hương bảng,do cầm đường nhi thiên ti mã。Thọ chí sửu vận.
Dịch: Nhật chủ Canh Thìn, sinh vào cuối hạ (Mùi), Kim tiến khí, Thổ đương quyền, thích Đinh hỏa đương lệnh, thấu can ở Đinh nên lấy làm Dụng thần, có thể chế ngự Kiếp Tài Tân kim. Mùi có dư khí của Hỏa, Thìn có dư khí của Mộc, Tài Quan đều có căn có khí, lại hay nữa là Hợi thủy làm nhuận Thổ dưỡng Kim lại sinh Mộc, tứ trụ không bị thiếu hay lõm. Vận đi hướng đông nam, Kim Thủy hư nhược, Mộc Hỏa thực chất, một đời không có hung hiểm. Vận Thìn, năm Ngọ, Tài, Ấn đều có có sinh phù, đổ thi Hương, từ cầm đường qua Tư Mã. Thọ đến vận Sửu.
辛丑 乙未 庚辰 丁丑
甲午 癸巳 壬辰 辛卯 庚寅 己丑
Bát tự:
Tân Ất Canh Đinh
Sửu Mùi Thìn Sửu
Đại vận:
Giáp Quý Nhâm Tân Canh Kỷ
Ngọ Tỵ Thìn Mão Dần Sửu
此与前造大同小异,财官亦通根有气,前则丁火司令,此则己土司令。更嫌丑时,丁火熄灭,则年干辛金肆逞,冲去未中木火微根,财官虽有若无。初运甲午,木火并旺,荫庇有余;一交癸巳,克丁拱丑,伤劫并旺,刑丧破耗;壬辰运,妻子两伤,家业荡然无存,削发为僧。以俗论之,丑未冲开财官两库,名利两全也。
Thử dữ tiền tạo đại đồng tiểu dị,tài quan diệc thông căn hữu khí,tiền tắc đinh hỏa ti lệnh,thử tắc kỉ thổ ti lệnh。Canh hiềm sửu thời,đinh hỏa tức diệt,tắc niên can tân kim tứ sính,xung khứ mùi trung mộc hỏa vi căn,tài quan tuy hữu nhược vô。Sơ vận giáp ngọ,mộc hỏa tịnh vượng,ấm tí hữu dư;nhất giao quý tị,khắc đinh củng sửu,thương kiếp tịnh vượng,hình tang phá háo;nhâm thìn vận,thê tử lưỡng thương,gia nghiệp đãng nhiên vô tồn,tước phát vi tăng。Dĩ tục luận chi,sửu mùi xung khai tài quan lưỡng khố,danh lợi lưỡng toàn dã.
Mệnh này so với mệnh trước giống nhiều hơn khác, Tài Quan cũng đều có căn có khí, mệnh trước thì Đinh Hỏa đương lệnh, mệnh này thì Kỷ thổ đương lệnh. Canh kim và Sửu làm mờ Đinh hỏa ở giờ, can năm Tân kim có gốc Kim trong Sửu tung hoành, Sửu Mùi xung hết Mộc Hỏa trong Mùi, Tài Quan tuy có mà không. Vận đầu Giáp Ngọ, Mộc Hỏa đều vượng, tuổi thơ đùm bọc; chạy qua Quý Tỵ, Đinh hỏa bị khắc bởi Tỵ (Dậu) Sửu củng Kim, Thương Quan và Kiếp Tài đêu vượng, nhà cửa tan nác; vận Nhâm Thìn, Thủy vượng, vợ con đều bị tổn thương, sản nghiệp sạch bách, cắt tóc đi tu. Nếu thầy bói thường luận thì, Sửu Mùi xung khai Tài Quan hai khố, danh lợi đều có đủ.
暗冲暗会尤为喜,彼冲我兮皆冲起
Ám xung ám hội vưu vi hỷ
Bỉ xung ngã hề giai xung khởi
【原注】如柱中无所缺之局,取多者暗冲暗会,冲起暗神,而来会合暗神,比明冲明会尤佳,子来冲午,寅与戌会午是也。是日为我,提纲为彼;提纲为我,年时为彼;四柱为我,运途为彼;运途为我,岁月为彼。如我寅彼申,申能克寅,是彼冲我;我子彼午,子能克午,是我冲彼。皆为冲起
Nguyên chú: như trụ trung vô sở khuyết chi cục,thủ đa giả ám xung ám hội,xung khởi ám thần,nhi lai hội hợp ám thần,tỉ minh xung minh hội vưu giai,tí lai xung ngọ, dần dữ tuất hội ngọ thị dã。Thị nhật vi ngã,đề cương vi bỉ;đề cương vi ngã,niên thời vi bỉ;tứ trụ vi ngã,vận đồ vi bỉ;vận đồ vi ngã,tuế nguyệt vi bỉ。Như ngã dần bỉ thân,thân năng khắc dần,thị bỉ xung ngã;ngã tí bỉ ngọ,tí năng khắc ngọ,thị ngã xung bỉ。Giai vi xung khởi.
【任氏曰】:
支中逢冲,固非美事,然八字缺陷者多,停匀者少。木火旺,金水必乏矣;金水旺,木火必乏矣。若旺而有余者冲去之,衰而不足者会助之为美。如四柱无冲会之神,得岁运暗来冲会尤为喜也。盖有病得良剂以生也。然冲有彼我之分,会有去来之理。彼我者,不必分年时为彼,日月为我,亦不必分四柱为我,岁运为彼也,总之喜神是我,忌神为彼可也。如喜神是午,逢子冲,是彼冲我,喜与寅戌会为吉;喜神是子逢午冲,是我冲彼,忌寅与戌会为凶。如喜神是子,有申得辰会而来之为吉;喜神是亥,有未得卯会而去之则凶。宁可我去冲彼,不可彼来冲我。我去冲彼,谓之冲起;彼来冲我,谓之不起。水火之冲会如此,余可类推
Nhâm thị viết: Chi trung phùng xung,cố phi mĩ sự, nhiên bát tự khuyết hãm giả đa,đình quân giả thiểu。Mộc hỏa vượng,kim thủy tất phạp hĩ;kim thủy vượng,mộc hỏa tất phạp hĩ。Nhược vượng nhi hữu dư giả xung khứ chi,suy nhi bất túc giả hội trợ chi vi mĩ。Như tứ trụ vô xung hội chi thần,đắc tuế vận ám lai xung hội vưu vi hỉ dã。Cái hữu bệnh đắc lương tề dĩ sinh dã。Nhiên xung hữu bỉ ngã chi phân,hội hữu khứ lai chi lí。Bỉ ngã giả,bất tất phân niên thời vi bỉ,nhật nguyệt vi ngã,diệc bất tất phân tứ trụ vi ngã,tuế vận vi bỉ dã,tổng chi hỉ thần thị ngã,kị thần vi bỉ khả dã。Như hỉ thần thị ngọ,phùng tí xung,thị bỉ xung ngã,hỉ dữ dần tuất hội vi cát;hỉ thần thị tí phùng ngọ xung,thị ngã xung bỉ,kị dần dữ tuất hội vi hung。Như hỉ thần thị tí,hữu thân đắc thìn hội nhi lai chi vi cát;hỉ thần thị hợi,hữu mùi đắc mão hội nhi khứ chi tắc hung。Ninh khả ngã khứ xung bỉ,bất khả bỉ lai xung ngã。Ngã khứ xung bỉ, vị chi xung khởi;bỉ lai xung ngã, vị chi bất khởi。Thủy hỏa chi xung hội như thử,dư khả loại thôi.
Dịch: Nhâm thị nói: Gặp xung trong chi, chắc chắn không phải là điều hay, nhưng đa phần bát tự đều bị khuyết lõm, ít có bát tự được quân bình. Mộc Hỏa vượng, thì Kim Thủy thiếu; Kim Thủy vượng thì Mộc Hỏa sẽ thiếu. Nếu vượng mà nhiều xung nó đi, thì suy mà không đủ sẽ bang trợ nó là chuyện hay. Nếu tứ trụ không có xung không có hội, khi có vận, và lưu niên lại xung và hội thì càng hay nữa. Bởi có bệnh mà được thuốc để sống lại. Nhưng xung cũng phân ra ta và họ, hội cũng có cái lý lại và bỏ đi. Họ và ta, không cần phải phân ra họ là giờ, ta là ngày và tháng, cũng chẳng cần phân tứ trụ là ta, vận tuế là họ, tổng chi, hỷ thần là ta mà kỵ thần là họ là được rồi. Như hỷ thần là Ngọ, gặp Tý xung, là họ xung ta, hỷ thần hội với Dần Tuất (thành cục Hỏa) là lành. Hỷ thần là Tý gặp Ngọ xung, là ta xung họ, kỵ Dần Tuất hội với Ngọ (thành cục Hỏa) là dữ. Như hỷ thần là Tý, có Thân được Thìn lại hội là lành; hỷ thần là Hợi, có Mùi được Mão lại hội mà bị khử đi thì gọi là dữ. Thà là ta xung họ, không được để họ xung ta. Ta xung họ gọi là xung được; họ xung ta, gọi là không được xung. Thủy Hỏa xung hội như vậy, ta có thể loại suy ra.
庚戌 乙酉 甲寅 庚午
丙戌 丁亥 戊子 己丑 庚寅 辛卯
Bát tự:
Canh Ất Giáp Canh
Tuất Dậu Dần Ngọ
Đại vận:
Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân
Tuất Hợi Tý Sửu Dần Mão
此造干透两庚,正当秋令,支会火局,虽制杀有功,而克泄并见。且庚金锐气方盛,制之以威,不若化之以德。化之以德者,有益于日主也;制之以威者,泄日主之气也。由此推之,不喜会火局也,反以火为病矣。故子运辰年大魁天下。子运冲破火局,去午之旺神也,引通庚金之性,益我日主之气;辰年湿土,能泄火气,拱我子水,培日主之根源也。
Thử tạo can thấu lưỡng canh,chính đương thu lệnh,chi hội hỏa cục,tuy chế sát hữu công,nhi khắc tiết tịnh kiến。Thả canh kim nhuệ khí phương thịnh,chế chi dĩ uy, bất nhược hóa chi dĩ đức。Hóa chi dĩ đức giả,hữu ích vu nhật chủ dã;chế chi dĩ uy giả,tiết nhật chủ chi khí dã。 Do thử thôi chi,bất hỉ hội hỏa cục dã,phản dĩ hỏa vi bệnh hĩ。Cố tí vận thìn niên đại khôi thiên hạ。Tí vận xung phá hỏa cục,khứ ngọ chi vượng thần dã,dẫn thông canh kim chi tính,ích ngã nhật chủ chi khí;thìn niên thấp thổ, năng tiết hỏa khí,củng ngã tí thủy,bồi nhật chủ chi căn nguyên dã.
Dịch: Mệnh này Canh kim thấu 2 can, Kim đương lệnh, địa chi Dần Ngọ Tuất tam hợp thành Hỏa cục, tuy chế Sát có công, nhưng phải có cả khắc và tiết. Với lại Canh kim thế đang vượng thịnh, chế Kim dùng uy không bằng hóa Kim bằng đức. Hóa Kim, có ích cho nhật chủ (Thủy hóa Kim sinh Mộc); chế Kim sẽ tiết khí của nhật chủ. Do đó mà suy ra là không nên hội Hỏa cục, ngược lại đó là bệnh Hỏa nhỉ. Vì thế mà vận Tý, năm Thìn, thống nhất thiên hạ. Vận Tý xung phá Hỏa cục, khử đi vượng thần Ngọ, dẫn thông Canh kim qua Thủy, tăng khí của nhật chủ Giáp mộc; Năm Thìn là Thổ ướt, có thể tiết Hỏa khí, bán hợp cục Thủy (Thân Tý Thìn), bồi dưỡng căn nguyên nhật chủ.
丁巳 癸丑 丁卯 丙午
壬子 辛亥 庚戌 己酉 戊申 丁未
Bát tự:
Đinh Quý Đinh Bính
Tỵ Sửu Mão Ngọ
Đại vận:
Nhâm Tân Canh Kỷ Mậu Đinh
Tý Hợi Tuất Dậu Thân Mùi
丁火虽生季冬,比劫重重,癸水退气,无力制劫,不足为用。必以丑中辛金为用,得丑土包藏,泄劫生财,为辅用之喜神也。所嫌者,卯木生劫夺食为病,以致早年妻子刑伤。初运壬子辛亥,暗冲巳午之火,荫庇有余。庚戌运暗来拱合午火,刑伤破耗;至己酉会金局冲去卯木之病,财发十余万。由此观之,暗冲其忌神,暗会其喜神,发福不浅;暗冲其喜神,暗会其忌神,为祸非轻。暗冲暗会之理,其可忽乎?
Đinh hỏa tuy sinh quý đông,tỉ kiếp trùng trùng,quý thủy thoái khí,vô lực chế kiếp,bất túc vi dụng。Tất dĩ sửu trung tân kim vi dụng,đắc sửu thổ bao tàng,tiết kiếp sinh tài,vi phụ dụng chi hỉ thần dã。Sở hiềm giả,mão mộc sinh kiếp đoạt thực vi bệnh,dĩ trí tảo niên thê tử hình thương。Sơ vận nhâm tí tân hợi,ám xung tị ngọ chi hỏa, ấm tí hữu dư。Canh tuất vận ám lai củng hợp ngọ hỏa, hình thương phá háo;chí kỉ dậu hội kim cục xung khứ mão mộc chi bệnh,tài phát thập dư vạn。Do thử quan chi,ám xung kì kị thần,ám hội kì hỉ thần,phát phúc bất thiển;ám xung kì hỉ thần,ám hội kì kị thần,vi họa phi khinh。 Ám xung ám hội chi lí,kì khả hốt hồ.
Dịch: Đinh hỏa tuy sinh cuối đông, Tỷ Kiếp trùng điệp, Quý thủy thoái khí, không có sức chế Kiếp Tài, không đủ làm Dụng thần. Phải lấy Kim trong Sửu làm dụng thần, được Sửu thổ bao bọc, lại có Thổ tiết Kiếp sinh Tài, làm hỷ thần phụ giúp cho dụng thần. Chỉ hiềm là, Mão mộc kề bên sinh Kiếp đoạt Thực thổ làm bệnh, đến nổi lúc đầu vợ con đều bị tổn thương. Vận đầu Nhâm Tý, Tân Hợi, ám xung Tý Ngọ khử Hỏa của Ngọ, tuổi thơ no đủ. Vận Canh Tuất ám củng Ngọ Tuất Hỏa, thương tổn, hao phá; đến vận Kỷ Dậu ám hội Tỵ Dậu Sửu cục Kim, Mão Dậu xung mất đi Mão (là bệnh đoạt Thực), mới phát tài hơn mười vạn. Do đó mà thấy, ám xung kỵ thần, ám hội hỷ thần, phát phúc không ít; ám xung hỷ thần, ám hội kỵ thần, gây họa không nhỏ. Cái lý ám xung ám hội, thật không thể sơ hốt được.
庚寅 辛巳 丙寅 辛卯
壬午 癸未 甲申 乙酉 丙戌 丁亥
Bát tự:
Canh Tân Bính Tân
Dần Tỵ Dần Mão
Đại vận:
Nhâm Quý Giáp Ất Bính Đinh
Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi
丙火生于孟夏,地支两寅一卯,巳火乘权,引出寅中丙火,天干虽逢庚辛,皆虚浮无根。初运壬午癸未无根之水,能泄金气,地支午未南方,又助旺火,财之气克泄已尽,祖业虽丰,刑丧早见。甲运临申,本无大患,因流年木火,又刑妻克子,家计萧条。一交申字,暗冲寅木之病,天干浮财通根,如枯苗得雨,勃然而兴。及乙酉十五年,自财数倍于祖业,申运驿马逢财,出外大利,经营得财十余万。丙戌运丙子年,凶多吉少,得风疾不起,比肩争财,乃临绝地,子水不足以克火,反生寅卯之木故也。
Bính hỏa sinh vu mạnh hạ,địa chi lưỡng dần nhất mão,tị hỏa thừa quyền,dẫn xuất dần trung bính hỏa,thiên can tuy phùng canh tân,giai hư phù vô căn。Sơ vận nhâm ngọ quý mùi vô căn chi thủy,năng tiết kim khí,địa chi ngọ mùi nam phương,hựu trợ vượng hỏa,tài chi khí khắc tiết dĩ tận,tổ nghiệp tuy phong,hình tang tảo kiến。Giáp vận lâm thân,bản vô đại hoạn,nhân lưu niên mộc hỏa,hựu hình thê khắc tử,gia kế tiêu điều。Nhất giao thân tự,ám xung dần mộc chi bệnh,thiên can phù tài thông căn,như khô miêu đắc vũ,bột nhiên nhi hưng。Cập ất dậu thập ngũ niên,tự tài số bội vu tổ nghiệp,thân vận dịch mã phùng tài,xuất ngoại đại lợi,kinh doanh đắc tài thập dư vạn。Bính tuất vận bính tí niên,hung đa cát thiểu,đắc phong tật bất khởi,tỉ kiên tranh tài, nãi lâm tuyệt địa,tí thủy bất túc dĩ khắc hỏa,phản sinh dần mão chi mộc cố dã.
Dịch: Bính Hỏa sinh vào đầu mùa hạ, địa chi có 2 Dần 1 Mão, Tỵ Hỏa đương lệnh, đẩy Bính hỏa trong Dần ra, thiên can tuy có Canh Tân kim, nhưng không có căn. Vận đầu Nhâm Ngọ, Quý Mùi Thủy không có căn chỉ tiết khí Kim, địa chi Ngọ Mùi hướng nam, trợ thêm cho Hỏa vượng, khắc Tài kiệt quệ, tổ nghiệp tuy nhiều đã sớm hao hết. Vận Giáp Thân, vốn không có đại hoạn, bởi lưu niên có Mộc Hỏa, nên hình vợ khắc con, gia kế tiêu điều. Rồi vừa đến chữ Thân, ám xung ngay Dần, khử đi bệnh Hỏa vượng, thiên can Tài hư phù có được căn Kim, như mạ khô được mưa rào, bùng lên hưng thịnh. Đến vận Ất Dậu được 15 năm, tụ tài còn gấp bội tổ nghiệp, vận Thân Dịch Mã gặp Tài, lợi xuất ngoại, kinh doanh phát tài hơn mười vạn. Vận Bính Tuất năm Bính Tý, dữ nhiều lành ít, bị bệnh tê thấp không dậy nổi, Tỷ Kiên tranh Tài, lâm vào tuyệt địa, nguyên do Tý thủy không đủ chế Hỏa, ngược lại còn sinh thêm Mộc.
旺者冲衰衰者拔,衰神冲旺旺神发
Vượng giả xung suy suy giả bạt
Suy thần xung vượng vượng thần phát
【原注】子旺午衰,冲则午拔不能立;子衰午旺,冲则午发而为福。余仿此
Nguyên chú: Tý vượng ngọ suy, xung tắc ngọ bạt bất năng lập; Tý suy ngọ vượng, xung tắc ngọ phát nhi vi phúc. Dư phảng thử
【任氏曰】:
十二支相冲,各支中所藏互相冲克,在原局为明冲,在岁运为暗冲。得令者冲衰则拔,失时者冲旺无伤。冲之者有力,则能去之,去凶神则利,去吉神则不利;冲之者无力,则反激之,激凶神则为祸,激吉神虽不为祸,亦不能获福也。如日主是午,或喜神是午,支中有寅卯巳未戌之类,遇子冲谓衰神冲旺,无伤;日主午,或喜神是午,支中有申酉亥子丑辰之类,遇子冲,谓旺者冲衰则拔。余支皆然。然以子、卯、午、酉、寅、申、巳、亥八支为重,辰、戌、丑、未较轻。如子午冲,子中癸水冲午中丁火,如午旺提纲,四柱无金而有木,则午能冲子;卯酉冲,酉中辛金,冲卯中乙木,如卯旺提纲,四柱有火而无土,则卯亦能冲酉;寅申冲,寅中甲木丙火,被申中庚金壬水所克,然寅旺提纲,四柱有火,则寅亦能冲申矣;巳亥冲,巳中丙火戊土,被亥中甲木壬水所克,然巳旺提纲,四柱有木,则巳亦能冲亥矣。必先察其衰旺,四柱有无解救,或抑冲,或助泄,观其大势,究其喜忌,则吉凶自验矣。至于四库兄弟之冲,其蓄藏之物,看其四柱干支,有无引出。如四柱之干支,无所引出,及司令之神,又不关切,虽冲无害,合而得用亦为喜。原局与岁运皆同此论
Nhâm thị viết: thập nhị chi tương xung,các chi trung sở tàng hỗ tương xung khắc, tại nguyên cục vi minh xung,tại tuế vận vi ám xung。Đắc lệnh giả xung suy tắc bạt,thất thời giả xung vượng vô thương。Xung chi giả hữu lực,tắc năng khứ chi,khứ hung thần tắc lợi,khứ cát thần tắc bất lợi;xung chi giả vô lực,tắc phản kích chi,kích hung thần tắc vi họa,kích cát thần tuy bất vi họa, diệc bất năng hoạch phúc dã。Như nhật chủ thị ngọ,hoặc hỉ thần thị ngọ,chi trung hữu dần mão tị mùi tuất chi loại, ngộ tí xung vị suy thần xung vượng,vô thương;nhật chủ ngọ,hoặc hỉ thần thị ngọ,chi trung hữu thân dậu hợi tí sửu thìn chi loại,ngộ tí xung, vị vượng giả xung suy tắc bạt。Dư chi giai nhiên。Nhiên dĩ tí, mão, ngọ, dậu, dần, thân, tị, hợi bát chi vi trọng,thìn, tuất, sửu, mùi giác khinh。Như tí ngọ xung,tí trung quý thủy xung ngọ trung đinh hỏa,như ngọ vượng đề cương,tứ trụ vô kim nhi hữu mộc,tắc ngọ năng xung tí;mão dậu xung,dậu trung tân kim,xung mão trung ất mộc,như mão vượng đề cương,tứ trụ hữu hỏa nhi vô thổ,tắc mão diệc năng xung dậu;dần thân xung,dần trung giáp mộc bính hỏa,bị thân trung canh kim nhâm thủy sở khắc,nhiên dần vượng đề cương,tứ trụ hữu hỏa,tắc dần diệc năng xung thân hĩ;tị hợi xung,tị trung bính hỏa mậu thổ,bị hợi trung giáp mộc nhâm thủy sở khắc,nhiên tị vượng đề cương,tứ trụ hữu mộc, tắc tị diệc năng xung hợi hĩ。Tất tiên sát kì suy vượng,tứ trụ hữu vô giải cứu,hoặc ức xung,hoặc trợ tiết,quan kì đại thế,cứu kì hỉ kị,tắc cát hung tự nghiệm hĩ。Chí vu tứ khố huynh đệ chi xung,kì súc tàng chi vật,khán kì tứ trụ can chi,hữu vô dẫn xuất。Như tứ trụ chi can chi,vô sở dẫn xuất,cập ti lệnh chi thần,hựu bất quan thiết,tuy xung vô hại,hợp nhi đắc dụng diệc vi hỉ。Nguyên cục dữ tuế vận giai đồng thử luận.
Dịch: Nhâm thị nói: 12 chi tương xung, ngũ hành trong chi hỗ tương xung khắc qua lại, trong mệnh cục gọi là minh xung, ở tuế và vận gọi là ám xung. Chi đắc lệnh xung chi suy sẽ nhổ mất chi suy, chi thất thời xung chi vượng không sao cả. Chi xung nó có lực sẽ khử nó đi, khử hung thần thì có lợi, khử cát thần thì bất lợi; Chi xung nó không có lực sẽ bị nó phản kích, hung thần phản kích là có họa, cát thần phản kích không có họa nhưng cũng không được phúc gì. Ví dụ như nhật chủ là Ngọ, hoặc hỷ thần là Ngọ, trong trụ có Dần Mão Tỵ Mùi Tuất, gặp Tý xung gọi là suy thần xung vượng thần, không sao cả; Nhật chủ Ngọ, hoặc hỷ thần là Ngọ, trong trụ có Thân Dậu Hợi Tý Sửu, gặp Tý xung, gọi là vượng thần xung suy thần, xung là bị nhổ đi. Các chi khác đều như thế. Nhưng lấy Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Dần, Thần, Tỵ, Hợi tàm chi là nặng, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi nhẹ hơn. Như Tý Ngọ xung, Quý thủy trong Tý xung Đinh hỏa trong Ngọ, nếu Ngọ vượng đương lệnh, tứ trụ không có Kim mà có Mộc, thì Ngọ cũng có thể xung Tý; Mão Dậu xung, Tân kim trong Dậu xung Ất mộc trong Mão, nếu Mão vượng đương lệnh, tứ trụ có Hỏa mà không có Thổ, thì Mão cũng có thể xung Dậu; Dần Thân xung, Giáp mộc, Bính hỏa trong Dần bị Can kim, Nhâm thủy trong Thân khắc, nhưng Dần vượng đương lệnh, tứ trụ có Hỏa, thì Dần cũng có thể xung Thân hỷ; Tỵ Hợi xung, Bính hỏa, Mậu thổ trong Tỵ bị Nhâm thủy, Giáp mộc trong Hợi khắc, nhưng nếu Tỵ vượng đương lệnh, tứ trụ có Mộc, thì Tỵ cũng có thể xung được Hợi. Phải trước hết xem xét các ngũ hành suy vượng ra sao, tứ trụ có giải cứu được không, hoặc nhổ đi chi xung, hoặc bang trợ chi nhược, xem đại thế ra sao, xét hỷ kỵ thế nào, thì lành dữ sẽ tự nghiệm ra hỷ. Còn tứ khố Thìn Tuất Sửu Mùi xung nhau, ngũ hành nằm trong chi, xem tứ trụ can chi có dẫn ra được không. Như nếu tứ trụ can chi không dẫn ra được ngũ hành gì, còn thần dương lệnh thì cũng không quan thiết, tuy xung cũng không sao, hợp mà dùng được thì cũng là vui. Nguyên cục và tuế vận đều luận như thế cả.
戊辰 辛酉 丙午 癸巳
壬戌 癸亥 甲子 乙丑 丙寅 丁卯
Bát tự:
Mậu Tân Bính Quý
Thìn Dậu Ngọ Tỵ
Đại vận:
Nhâm Quý Giáp Ất Bính Đinh
Tuất Hợi Tý Sửu Dần Mão
此造旺财当令,加以年上食神生助,日逢时禄,不为无根,所以身出富家。时透癸水,巳火失势,逢酉邀而拱金矣。五行无木,全赖午火帮身,则癸水为病明矣。一交子运,癸水得禄,子辰拱水,酉金党子冲午,四柱无解救之神,所谓“旺者冲衰衰者拔”,破家亡身。若运走东南木火之地,岂不名利两全乎?
Thử tạo vượng tài đương lệnh,gia dĩ niên thượng thực thần sinh trợ,nhật phùng thời lộc,bất vi vô căn,sở dĩ thân xuất phú gia。Thời thấu quý thủy,tị hỏa thất thế,phùng dậu yêu nhi củng kim hĩ。Ngũ hành vô mộc,toàn lại ngọ hỏa bang thân,tắc quý thủy vi bệnh minh hĩ。Nhất giao tí vận,quý thủy đắc lộc,tí thìn củng thủy,dậu kim đảng tí xung ngọ,tứ trụ vô giải cứu chi thần,sở vị vượng giả xung suy suy giả bạt,phá gia vong thân。Nhược vận tẩu đông nam mộc hỏa chi địa,khởi bất danh lợi lưỡng toàn hồ.
Dịch: Mệnh này Tài vượng đương lệnh, thêm vào đó, Thực Thần ở trụ năm sinh trợ, nhật chủ có lộc ở giờ, không phải là không có căn, do đó mà sinh trong gia đình giàu có. Trụ giờ thấu Quý thủy, Tị hỏa thất thế, gặp Dậu muốn bán hợp cục Kim (Tỵ Dậu Sửu). Ngũ hành không có Mộc, toàn nhờ vào Ngọ hỏa trợ thân, bệnh Quý thủy rõ ràng hỷ. Một khi vào vận Tý, Quý thủy được lộc, Tý Thìn bán hợp cục Thủy, Dậu kim một đảng với Tý lại xung Ngọ, tứ trụ không có ngũ hành giải cứu, chính là hành vượng xung hành suy, hành suy bị nhổ đi, nhà phá mạng vong. Nếu vận đi về hướng đông nam đất của Mộc Hỏa, không phải là danh lợi đều có sao.
庚寅 壬午 丁卯 癸卯
癸未 甲申 乙酉 丙戌 丁亥 戊子
Bát tự:
Canh Nhâm Đinh Quý
Dần Ngọ Mão Mão
Đại vận:
Quý Giáp Ất Bính Đinh Mậu
Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý
此财官虚露无根,枭比当权得势,以四柱观之,贫夭之命。前造身财并旺,反遭破败无寿,此则财官休囚,劫业有寿,不知彼则无木,逢水冲则拔,此则有水,遇火劫有救。至甲申乙酉运,庚金禄旺,壬癸逢生,又冲去寅卯之木,所谓“衰神冲旺旺神发”,骤然发财巨万。“命好不如运好”,信斯言也!
Thử tài quan hư lộ vô căn,kiêu tỉ đương quyền đắc thế,dĩ tứ trụ quan chi,bần yểu chi mệnh。Tiền tạo thân tài tịnh vượng,phản tào phá bại vô thọ,thử tắc tài quan hưu tù,kiếp nghiệp hữu thọ,bất tri bỉ tắc vô mộc,phùng thủy xung tắc bạt,thử tắc hữu thủy,ngộ hỏa kiếp hữu cứu。Chí giáp thân ất dậu vận,canh kim lộc vượng,nhâm quý phùng sinh,hựu xung khứ dần mão chi mộc,sở vị suy thần xung vượng vượng thần phát,sậu nhiên phát tài cự vạn。Mệnh hảo bất như vận hảo,tín tư ngôn dã.
Dịch: Mệnh này Tài Quan lộ trên can mà không có rễ, Kiêu và Tỷ đương quyền đắc thế, xem tứ trụ, là một mệnh vừa bần vừa yểu. Mệnh trước Thân và Tài đều vượng, ngược lại lại bị phá hư không thọ, mệnh này thì Tài Quan bị hưu tù, nhưng Kiếp có thọ (nhật chủ có căn), có biết đâu, mệnh trước không có Mộc, gặp Thủy xung là bị nhổ đi, mệnh này có Thủy gặp Hỏa, Kiếp Tài cứu được. Đến vận Giáp Thân, Ất Dậu, Canh kim lộc vượng, Nhâm và Quý được sinh, lại xung đi mộc của Dần (Dần Thân), Mão (Mão Dậu), gọi là ngũ hành suy xung ngũ hành vượng, ngũ hành vượng hưng phát lên, thình lình phát tài cự vạn. Mệnh tốt không bằng vận tốt, thật tin câu đó.

Vui lòng Đăng nhập để tham gia cuộc hội thoại.

Trích Thiên Tủy chương V 31 08 2020 05:03 #3

CHƯƠNG VII THIÊN CAN
________________________________________
五阳皆阳丙为最,五阴皆阴癸为至。
Ngũ dương giai dương bính vi tối
Ngũ âm giai âm quý vi chí
【原注】甲、丙、戊、庚、壬为阳,独丙火秉阳之精,而为阳中之阳;乙、丁、己、辛、癸为阴,独癸水秉阴之精,而为阴中之阴。
Nguyên chú: Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm vi dương, độc Bính hỏa bỉnh dương chi tinh, nhi vi dương trung chi dương; Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý vi âm, độc Quý thủy bỉnh âm chi tinh, nhi vi âm trung chi âm.
【任氏曰】:
Nhâm thị viết:
丙乃纯阳之火,万物莫不由此而发,得此而敛;癸乃纯阴之水,万物莫不由此而生,得此而茂。阳极则阴生,故丙辛化水;阴极则阳生,故戊癸化火。阴阳相济,万物有生生之妙。
Bính nãi thuần dương chi hỏa, vạn vật mạc bất do thử nhi phát, đắc thử nhi liễm; Quý nãi thuần âm chi thủy, vạn vật mạc bất do thử nhi sinh, đắc thử nhi mậu. Dương cực tắc âm sinh, cố Bính Tân hóa thủy; Âm cực tắc dương sinh, cố Mậu Quý hóa hỏa. Âm dương tương tế, vạn vật hữu sinh sinh chi diệu.
Dịch: Bính là hỏa của thuần dương, vạn vật đều từ đó mà phát ra, được đó mà thu nhận; Quý là thủy của thuần dương, vạn vật đều từ đó mà sinh ra, được đó mà sinh sôi nãy nở. Dương cực thì âm sinh, do đó mà Bính Tân hóa thành thủy; Âm cực thì dương sinh, do đó mà Mậu Quý hóa thành hỏa. Âm dương hỗ tương với nhau, vạn vật cứ thế mà sinh nở diệu kỳ.
夫十干之气,以先天言之,固一原同出,以后天言之,亦一气相包。甲乙一木也,丙丁一火也,戊己一土也,庚辛一金也,壬癸一水也,即分别所用,不过阳刚阴柔,阳健阴顺而已。窃怪命家作歌为赋,比拟失伦,竟以甲木为梁栋,乙木为花果;丙作太阳,丁作灯烛;戊作城墙,己作田园;庚为顽铁,辛作珠玉;壬为江河,癸为雨露。相沿已久,牢不可破,用之论命,诚大谬也。如谓甲为无根死木,乙为有根活木,同是木而分生死,岂阳木独禀死气,阴木独禀生气乎?又谓活木畏水泛,死木不畏水泛,岂活木遇水且漂,而枯槎遇水反定乎?论断诸干,如此之类,不一而足,当尽避之,以绝将来之谬。
Phu thập can chi khí, dĩ tiên thiên ngôn chi, cố nhất nguyên đồng xuất, dĩ hậu thiên ngôn chi, diệc nhất khí tương bao. Giáp Ất nhất mộc dã, Bính Đinh nhất hỏa dã, Mậu Kỷ nhất thổ dã, Canh Tân nhất kim dã, Nhâm Quý nhất thủy dã, tức phân biệt sở dụng, bất quá dương cương âm nhu, dương kiện âm thuận nhi dĩ. Thiết quái mệnh gia tác ca vi phú, tỷ ức thất luận, cánh dĩ Giáp mộc vi lương đống, Ất mộc vi hoa quả; Bính tác thái dương, Đinh tác đăng chúc; Mậu tác thành tường, kỷ tác điền viên; Canh vi ngoan thiết, Tân vi châu ngọc; Nhâm vi giang hà, Quý vi vũ lộ. Tương duyên dĩ cửu, lao bất khả phá, dụng chi luận mệnh, thành đại mậu dã. Như vị Giáp vi vô căn tử mộc, Ất vi hữu căn hoạt mộc, đồng thị Mộc nhi phân sinh tử, khởi dương mộc độc bẩm tử khí, âm mộc độc ẩm sinh khí hồ? Hựu vị hoạt mộc úy thủy phiếm, tử mộc bất úy thủy phiếm, khởi hoạt mộc ngộ thủy thả phiêu, nhi khô tra ngộ thủy phản định hồ? Luận đoán chư can, như thử chi loại, bất nhất nhi túc, đương tận tỵ chi, dĩ tuyệt tương lai chi mậu.
Dịch: Bởi khí của thập can, tiên thiên mà nói, là đồng xuất ở một nguồn, hậu thiên mà nói, là được một khí bao bọc. Giáp Ất cùng là Mộc, Bính Đinh cùng là hỏa, Mậu Kỷ cùng là thổ, Canh Tân cùng là kim, Nhâm Quý cùng là thủy, phân biệt để dùng, chẳng qua dương thì cương mà âm thì nhu, dương thì kiện mà âm thì thuận thế thôi. Riêng trách những mệnh gia làm bài ca bài phú, so sánh âm dương trật lất, đi cho Giáp mộc là gỗ rường cột, Ất mộc là hoa quả; cho Bính là mặt trời, Đinh là đèn đuốc; Mậu là thành, tường còn Kỷ là ruộng vườn; Canh là sắt thép còn Tân là châu ngọc; Nhâm là sông bể còn Quý là mưa, sương. Truyền xuông lâu ngày, chắc nịch không thể phá bỏ, dùng nó để đoán mệnh, thành ra láo nặng. Như cho Giáp là cây khô không có căn, Ất là cây sống có căn, cũng cùng là mộc mà chia ra sống chết, có phải dương mộc là chỉ bẩm thụ tử khí, còn âm mộc thì bẩm thụ sinh khí đâu? Lại cho hoạt mộc là sợ thủy tràn ngập, tử mộc không sợ thủy ngập, có phải hoạt mộc gặp thủy là trôi nổi còn bè gỗ gặp thủy ngược lại vững chắc đâu? Luận đoán thiên can như thế, không thể là đầy đủ, phải tránh né, để tương lai khỏi bị sai lầm.
五阳从气不从势,五阴从势无情义。
Ngũ dương tòng khí bất tòng thế
Ngũ âm tòng thế vô tình nghĩa
【原注】五阳得阳之气,即能成乎阳刚之势,不畏财杀之势;五阴得阴之气,即能成乎阴顺之义,故木盛则从木,火盛则从火,土盛则从土,金盛则从金,水盛则从水。于情义之所在者,见其势衰,则忌之矣,盖妇人之情也。如此,若得气顺理正者,亦未必从势而忘义,虽从亦必正矣。
Nguyên chú: ngũ dương đắc dương chi khí, tức năng thành hồ dương cương chi thế, bất úy Tài Sát chi thế; ngũ âm đắc âm chi khí, tức năng thành hồ âm thuận chi nghĩa, cố mộc thịnh tắc tòng mộc, hỏa thịnh tắc tòng hỏa, thổ thịnh tắc tòng thổ, kim thịnh tắc tòng kim, thủy thịnh tắc tòng thủy. Vu tình nghĩa chi sở tại giả, kiến kỳ thế suy, tắc kỵ chi hỷ, cái phụ nhân chi tình dã. Như thử, nhược đắc khí thuận lý chính giả, diệc vị tất tòng thế nhi vong nghĩa, tuy tòng diệc tất chính hỷ.
【任氏曰】:
五阳气避,光亨之象易观;五阴气翕,包含之蕴难测。五阳之性刚健,故不畏财煞,而有测隐之心,其处世不苟且;五阴之性柔顺,故见势忘义,而有鄙吝之心,其处世多骄谄。是以柔能克制刚,刚不能制克柔也。大抵趋利忘义之徒,皆阴气之为戾也;豪侠慷慨之人,皆阳气之独钟。然尚有阳中之阴、阴中之阳,又有阳外阴内、阴外阳内,亦当辨之。阳中之阴,外仁义而内奸诈;阴中之阳,外凶险而内仁慈;阳外阴内者,包藏祸心;阴外阳内者,秉持直道。此人品之端邪?故不可以不辨。要在气势顺正,四柱五行停匀,庶不偏倚,自无损人利己之心。凡持身涉世之道,趋避必先知人,故云"择其善者而从之",即此意也。
Nhâm thị viết:
Ngũ dương khí tỵ, quang hanh chi tượng dị quan; ngũ âm khí hấp, bao hàm chi uẩn nan trắc. Ngũ dương chi tính cương kiện, cố bất úy Tài, Sát, nhi hữu trắc ẩn chi tâm, kỳ xử thế bất cẩu thả; ngũ âm chi tính nhu thuận, cố kiến thế vong nghĩa, nhi hữu bỉ lận chi tâm, kỳ xử thế đa kiêu siểm. Thị dĩ nhu năng khắc cương, cương bất năng chế khắc nhu dã. Đại để xu lợi vong nghĩa chi đồ, giai âm khí chi vi lệ dã; hào hiệp khảng khái chi nhân, giai dương khí chi độc chủng. Nhiên thượng hữu dương trung chi âm, âm trung chi dương, hựu hữu dương ngoại âm nội, âm ngoại dương nội, diệc đương biện chi. Dương trung chi âm, ngoại nhân nghĩa nhi nội gian trá; âm trung chi dương, ngoại hung hiểm nhi nội nhân từ; dương ngoại âm nội giả, bao tàng họa tâm; âm ngoại dương nội giả, bỉnh trì trực đạo. Thử nhân phẩm chi đoan tà? Cố bất khả dĩ bất biện. Yêu tại khí thế thuận chính, tứ trụ ngũ hành đình quân, thứ bất thiên ỷ, tự vô tổn nhân lợi kỷ chi tâm. Phàm trì thân thiệp thế chi đạo, xu tỵ tất tiên tri nhân, cố vân “trạch kỳ thiện giả nhi tòng chi”, tức thử ý dã.
Dịch: Năm dương can, khí vốn thiên tỵ một bên, hình tượng rõ ràng dễ thấy; năm âm can, khí hòa hợp, khó thấy được rõ ràng. Tính của năm dương can cương kiện, cho nên không sợ Tài hoặc Sát, tâm có trắc ẩn, xử thế không cẩu thả; tính của năm âm nhu thuân, do đó thấy xu thế là quên nghĩa, tâm có bỉ lận, xử thế đa phần siểm nịnh. Vì vậy mà nhu có thể khắc cương, nhưng cương không khắc nhu được. Đại để là những kẻ xu lợi vong nghĩa đều là do khí âm ngược ngạo gây ra; những tay hào hiệp khẳng khái, đều từ một thứ khí dương mà có. Nhưng cũng có thứ trong dương có âm, trong âm có dương, lại có thứ bên ngoài là dương bên trong là âm, bên ngoài là âm bên trong là dương, cũng phải biện biệt rõ ràng. Trong dương có âm, bề ngoài nhân nghĩa mà bên trong gian trá; trong âm có dương, bề ngoài hung hiểm mà bên trong nhân từ; bên ngoài dương bên trong âm, ôm ấp tai họa trong lòng; bên ngoài âm bên trong dương, kẻ vẫn duy trì chính khí. Không phải đấy là đầu mối của nhân phẩm chăng? Vì vậy mà không thể không phân biệt cho rõ ràng. Điểm chính yếu là khí thế thuận và chính, tứ trụ ngũ hành quân bình, sau đó là không thiên không ỷ, thì không có lòng tổn thương người ta để có lợi cho mình. Phàm là đạo để giữ thân giữa đời là, thân sơ phải biết người ta ra sao, do đó mà nói “Chọn cái tốt mà theo”, chính là cái ý đó.
甲木参天,脱胎要火。春不容金,秋不容土。火炽乘龙,水宕骑虎。地润天和,植立千古。
Giáp mộc tham thiên, thoát thai yêu hỏa. Xuân bất dung kim, thu bất dung thổ. Hỏa xí thừa long, thủy đãng kỵ hỗ. Địa nhuận thiên hòa, thực lập thiên cổ.
【原注】纯阳之木,参天雄壮。火者木之子也,旺木得火而愈敷荣。生于春则欺金,而不能容金也;生于秋则助金,而不能容土也。寅午戌,丙丁多见而坐辰,则能归;申子辰,壬癸多见而坐寅,则能纳。使土气不干,水气不消,则能长生矣。
Nguyên chú: thuần dương chi mộc, tham thiên hùng tráng. Hỏa giả mộc chi tử dã, vượng mộc đắc hỏa nhi dũ phu vinh. Sinh vu xuân tắc khi kim, nhi bất năng dung kim dã; sinh vu thu tắc trợ kim, nhi bất năng dung thổ dã. Dần Ngọ Tuất, Bính Đinh đa kiến nhi tọa Thìn, tắc năng quy; Thân Tý Thìn, Nhâm Quý đa kiến nhi tọa Dần, tắc năng nạp. Sử thổ khí bất can, thủy khí bất tiêu, tắc năng trường sinh hỷ.
【任氏曰】:
甲为纯阳之木,体本坚固,参天之势,又极雄壮。生于春初,木嫩气寒,得火而发荣;生于仲春,旺极之势,宜泄其菁英。所谓强木得火,方化其顽。克之者金,然金属休囚,以衰金而克旺木,木坚金缺,势所必然,故春不容金也。生于秋,失时就衰,但枝叶虽凋落渐稀,根气却收敛下达,受克者土。秋土生金泄气,最为虚薄。以虚气之土,遇下攻之木,不能培木之根,必反遭其倾陷,故秋不容土也。柱中寅午戌全,又透丙丁,不惟泄气太过,而木且被焚,宜坐辰,辰为水库,其土湿,湿土能生木泄火,所谓火炽乘龙也。申子辰全又透壬癸,水泛木浮,宜坐寅,寅乃火土生地,木之禄旺,能纳水气,不致浮泛,所谓水宕骑虎也。如果金不锐,土不燥,火不烈,水不狂,非植立千古而得长生者哉!
Nhâm thị viết: Giáp vi thuần dương chi mộc, thể bản kiên cố, tham thiên chi thế, hựu cực hùng tráng. Sinh vu xuân sơ, mộc nộn khí hàn, đắc hỏa nhi phát vinh; sinh vi trọng xuân, vượng cực chi thế, nghi tiết kỳ tinh anh. Sở vị cường mộc đắc hỏa, phương hóa kỳ ngoan. Khắc chi giả kim, nhiên kim thuộc hưu tù, dĩ suy kim nhi khắc vượng mộc, mộc kiên kim khuyết, thế sở tất nhiên, cố xuân bất dung kim dã. Sinh vu thu, thất thời tựu suy, đản chi diệp tuy điêu lạc tiệm hy, căn khí khước thu liễm hạ đạt, thụ khắc giả thổ. Thu thổ sinh kim tiết khí, tối vi hư bạc. Dĩ hư khí chi thổ, ngộ hạ công chi mộc, bất năng bồi mộc chi căn, tất phản tào kỳ khuynh hãm, cố thu bất dung thổ dã. Trụ trung Dần Ngọ Tuất toàn, hựu thấu Bính Đinh, bất duy tiết khí thái quá, nhi mộc thả bị phần, nghi tọa Thìn, Thìn vi thủy khố, kỳ thổ thấp, thấp thổ năng sinh mộc tiết hỏa, sở vị hỏa xí thừa long dã. Thân Tý Thìn hựu thấu Nhâm Quý, thủy phiếm mộc phù, nghi tọa Dần, Dần nãi hỏa thổ sinh dã, mộc chi lộc vượng, năng nạp thủy khí, bất trí phù phiếm, sở vị thủy đãng kỵ hỗ. Như quả kim bất nhuệ, thổ bất táo, hỏa bất liệt, thủy bất cuồng, phi thực lập thiên cổ nhi đắc trường sinh giả tai!
Dịch: Nhâm thị nói: Giáp là mộc thuần dương, bản chất kiên cố, hình thế ngất trời, lại cực kỳ hùng tráng. Sinh vào đầu xuân, mộc còn non khí còn lạnh, được hỏa thì sẽ phồn thịnh lên; sinh vào giữa xuân, hình thế cực vượng, nên bớt đi tinh anh của mộc. Cường mộc được hỏa chính là mới có thể hóa đi sức mãnh liệt của mộc. Kim là ngũ hành khắc mộc, nhưng kim đang hưu tù, lấy kim suy mà khắc mộc vượng, mộc cứng kim gãy, là chuyện tất nhiên, do đó mà xuân bất dung kim. Sinh vào mùa thu, mộc thất thời nên suy bại, nhưng cành lá tuy rụng dần, khí của căn lại thu hết xuống dưới, bị khắc chính là thổ. Thổ mùa thu sinh kim tiết khí, vô cùng bạc nhược Thổ bạc nhược lại bị căn của mộc khắc, không thể đối phó được căn mộc, tất sẽ bị mộc áp bức, do đó mà thu bất dung thổ. Trong trụ có Dần Ngọ Tuất cục hỏa thấu can Bính Đinh, thì không những hỏa tiết khí mộc quá độ, mà mộc còn bị đốt cháy, nên tọa Thìn, Thìn là khố thủy, thổ ướt, thổ ướt sinh được mộc và tiết hỏa, gọi là hỏa xí thừa long vậy. Thân Tý Thìn cục thủy thấu can Nhâm Quý, thủy tràn lan mộc trôi nổi, nên tọa Dần, Dần là ngũ hành sinh hỏa sinh thổ, lại có căn mộc, có thể nạp khí thủy không đến nổi bị trôi nổi, do đó mà gọi là thủy đãng kỵ hỗ. Như nếu kim không bén, thổ không khô, hỏa không mãnh liệt, thủy không tràn ngập, không phải là thực lập thiên cổ nhi đắc trường sinh sao!
乙木虽柔,刲羊解牛。怀丁抱丙,跨凤乘猴。虚湿之地,骑马亦忧。藤萝系甲,可春可秋。
Ất mộc tuy nhu, khuê dương giải ngưu, hoài Đinh bão Bính, khóa phượng thừa hầu. Hư thấp chi địa, kỵ mã diệc ưu. Đằng la hệ giáp, khả xuân khả thu.
【原注】乙木者,生于春如桃李,夏如禾稼,秋如桐桂,冬如奇葩。坐丑未能制柔土,如割宰羊、解割牛然,只要有一丙丁,则虽生申酉之月,亦不胃之;生于子月,而又壬癸发透者,则虽坐午,亦能发生。故益知坐丑未月之为美。甲与寅字多见,弟从兄义,譬之藤萝附乔木,不畏斫伐也。
Nguyên chú: Ất mộc giả, sinh vu xuân như đào lý, hạ như hòa giá, thu như đồng quế, đông như kỳ ba. Tọa Sửu Mùi năng chế nhu thổ, như cát tể dương, giải cát ngưu nhiên, chỉ yêu hữu nhất Bính Đinh, tắc tuy sinh Thân Dậu chi nguyệt, diệc bất vị chi; sinh vu Tý nguyệt, nhi hựu Nhâm Quý phát thấu giả, tắc tuy tọa Ngọ, diệc năng phát sinh. Cố ích tri tọa Sửu Mùi nguyệt chi vi mỹ. Giáp dữ Dần tự đa kiến, đệ tòng huynh nghĩa, tỷ chi đằng la phụ kiều mộc, bất úy khảm phạt giả.
【任氏曰】:
乙木者,甲之质,而承甲之生气也。春如桃李,金克则凋;夏如禾稼,水滋得生;秋如桐桂,金旺火制;冬如奇葩,火湿土培。生于春宜火者,喜其发荣也;生于夏宜水者,润地之燥也;生于秋宜火者,使其克金也;生于冬宜火者,解天之冻也。割羊解牛者,生于丑未月,或乙未乙丑日,未乃木库,得以蟠根,丑乃湿土,可以受气也。怀丁抱丙,跨凤乘猴者,生于申酉月,或乙酉日,得丙丁透出天干,有水不相争克,制化得宜,不畏金强。虚湿之地,骑马亦忧者,生于亥子月,四柱无丙丁,又无戌未燥土,即使年支有午,亦难发生也。天干甲透,地支寅藏,此谓藤萝系松柏,春固得助,秋亦合扶,故可春可秋,言四季皆可也。
Nhâm thị viết: Ất mộc giả, Giáp chi chất, nhi thừa Giáp chi sinh khí dã. Xuân như đào lý, kim khắc tắc điêu; hạ như hòa giá, thủy tư tắc sinh; thu như đồng quế, kim vượng hỏa chế; đông như kỳ ba, hỏa thấp thổ bồi. Sinh vu xuân nghi hỏa giả, hỷ kỳ phát vinh dã; sinh vu hạ nghi thủy giả, nhuận địa chi táo dã; sinh vu thu nghi hỏa giả, sử kỳ khắc kim dã; sinh vu đông nghi hỏa giả, giải thiên chi đông dã. Cát dương giải ngưu giả, sinh vu Sửu Mùi nguyệt, hoặc Ất Mùi, Ất Sửu nhật, Mùi nãi mộc khố, đắc dĩ bàn căn, Sửu nãi thấp thổ, khả dĩ thụ khí dã. Hoài Đinh bão Bính, khóa phượng thừa hầu giả, sinh vu Thân Dậu nguyệt, hoặc Ất Dậu nhật, đắc Bính Đinh thấu xuất thiên can, hữu thủy bất tương tranh khắc, chế hóa đắc nghi, bất úy kim cường. Hư thấp chi địa, kỵ mã diệc ưu giả, sinh vu Hợi Tý nguyệt, tứ trụ vô Bính Đinh, hựu vô Tuất Mùi táo thổ, tức sử niên chi hữu Ngọ, diệc nan phát sinh dã. Thiên can Giáp thấu, địa chi Dần tàng, thử vị đằng la hệ tòng bá, xuân cố đắc trợ, thu diệc hợp phù, cố khả xuân khả thu, ngôn tứ quý giai khả dã.
Dịch: Nhâm thị nói: Ất mộc có chất của Giáp, mà thừa hưởng sinh khí của Giáp. Xuân như đào lý, kim mà khắc là điêu tàn; hạ như lúa má, thủy tưới vào là sinh sôi nảy nở; thu như cây ngô đồng cây quế, kim vượng cần hỏa chế; đông như hoa cỏ dị kỳ, cần có hỏa có thổ ướt bồi dưỡng. Sinh vào mùa xuân cần hỏa, là để tươi tốt lên; sinh vào mùa hạ cần thủy là làm ướt thổ khô; sinh vào mùa thu cần hỏa là để khắc kim; sinh vào mùa đông cần hỏa là để làm tan cái lạnh của mùa đông. Cắt dê mỗ bò là sinh tháng Sửu tháng Mùi, hoặc ngày Ất Mùi, Ất Sửu, Mùi là khố của mộc, được như thế để quấn rễ vào, Sửu là đất ướt, có thể giữ được khí. Ôm Đinh bọc Bính, cỡi phượng đèo khỉ là sinh vào tháng Thân, Dậu, hoặc ngày Ất Dậu, được Bính Đinh thấu can, có thủy mà không bị tranh khắc, chế hóa tốt lành, sẽ không sợ gì kim cường. Đất ướt, cỡi ngựa cũng vẫn lo là sinh vào tháng Hợi tháng Tý, tứ trụ không có Bính Đinh, lại không có thổ khô của Tuất Mùi, thì cho dù chi năm là Ngọ, cũng khó mà sinh sôi nổi. Thiên can thấu Giáp, địa chi có Dần, chính là cây leo quấn vào tòng bá, xuân được bang trợ, thu cũng có phù giúp, do đó mà xuân thu đều được cả, ý nói là bốn mùa đều thích hợp.
丙火猛烈,欺霜侮雪。能煅庚金,逢辛反怯。土众成慈,水猖显节。虎马犬乡,甲木若来,必当焚灭(一本作虎马犬乡,甲来成灭)。
Bính hỏa mãnh liệt, khi sương vụ tuyết. Năng đoán canh kim, phùng tân phản khiếp. Thổ chúng thành từ, thủy xương hiển tiết. Hỗ mã khuyển hương, Giáp Mộc nhược lai, tất đương phần diệt (nhất bản tác hỗ mã khuyển hương, Giáp lai thành diệt)
【原注】火阳精也,丙火灼阳之至,故猛烈,不畏秋而欺霜,不畏冬而侮雪。庚金虽顽,力能煅之,辛金本柔,合而反弱。土其子也,见戊己多而成慈爱之德;水其君也,遇壬癸旺而显忠节之风。至于未遂炎上之性,而遇寅午戌三位者,露甲木则燥而焚灭也。
Nguyên chú: Hỏa dương tinh dã, Bính hỏa chước dương chi chí, cố mãnh liệt, bất úy thu nhi khi sương, bất úy đông nhi vụ tuyết. Canh kim tuy ngoan, lực năng đoán chi, tân kim bản nhu, hợp nhi phản nhược. Thổ kỳ tử dã, kiến mậu kỷ đa nhi thành từ ái chi đức; thủy kỳ quân dã, ngộ nhâm quý vượng nhi hiển trung tiết chi phong. Chí vu vị toại viêm thượng chi tính, nhi ngộ dần ngọ tuất tam vị giả, lộ giáp mộc tắc táo nhi phần diệt dã.
【任氏曰】:
丙乃纯阳之火,其势猛烈,欺霜侮雪,有除寒解冻之功。能煅庚金,遇强暴而施克伐也;逢辛反怯,合柔顺而寓和平也。土众成慈,不凌下也;水猖显节,不援上也。虎马犬乡者,支坐寅午戌,火势已过于猛烈,若再见甲木来生,转致焚灭也。由此论之,泄其威,须用己土;遏其焰,必要壬水;顺其性,还须辛金。己土卑湿之体,能收元阳之气;戊土高燥,见丙火而焦坼矣。壬水刚中之德,能制暴烈之火;癸水阴柔,逢丙火而涸干矣。辛金柔软之物,明作合而相亲,暗化水而相济;庚金刚健,刚又逢刚,势不两立。此虽举五行而论,然世事人情,何莫不然!
Nhâm thị viết: Bính nãi thuần dương chi hỏa, kỳ thế mãnh liệt, khi sương vụ tuyết, hữu trừ hàn giải đông chi công. Năng đoán Canh kim, ngộ cường bạo nhi thi khắc phạt dã; Phùng tân phản khiếp, hợp nhu thuận nhi ngụ hòa bình dã. Thổ chúng thành từ, bất lăng hạ dã; thủy xương hiển tiết, bất viên thượng dã. Hỗ mã khuyển hương giả, chi tọa dần ngọ tuất, hỏa thế dĩ quá vu mãnh liệt, nhược tái kiến giáp mộc lai sinh, chuyển trí phần diệt dã. Do thử luận chi, tiết kỳ oai, tu dụng kỷ thổ; át kỳ diễm, tất yêu nhâm thủy; thuận kỳ tính, hoàn tu tân kim. Kỷ thổ ty thấp chi thể, năng thu nguyên dương chi khí, mậu thổ cao táo, kiến bính hỏa nhi tiêu sách hỷ. Nhâm thủy cương trung chi đức, năng chế bạo liệt chi hỏa; Quý thủy âm nhu, phùng bính hỏa nhi hạc can hỷ. Tân kim nhu nhuyễn chi vật, minh tác hợp nhi tương thân, ám hóa thủy nhi tương tế; canh kim cương kiện, cương hựu phùng cương, thế bất lưỡng lập, thử tuy cử ngũ hành nhi luận, nhiên thế sự nhân tình, hà mạc bất nhiên!
Dịch: Nhâm thị nói: Bính là hỏa của thuần dương, thế rất mãnh liệt, khinh sương, khi tuyết, có công năng trừ hàn tan đông. Có thể luyện được Kim, gặp cường bạo sẽ khắc dẹp; Gặp Tân ngược lại bị khiếp, hợp với nhu thuận ôm lấy hòa bình. Thổ chúng thành từ, là không khinh ép phía dưới; thủy xương hiển tiết là không nương tựa phía trên (thủy là Quan của hỏa). Hỗ mã khuyển hương là địa chi có Dần Ngọ Tuất, thế hỏa sẽ mãnh liệt quá độ, nếu còn gặp Mộc lại sinh, sẽ chuyển sang đốt Mộc thành than. Vì vậy mà luận rằng, muốn tiết hỏa phải dùng Kỷ thổ; muốn dẹp ngọn lửa xuống phải dùng Nhâm thủy; muốn thuận theo tính của hỏa thì dùng Tân kim. Kỷ thổ thể thấp và ướt, có thể thu được khí nguyên dương của hỏa, Mậu thổ thì cao và khô, gặp Bính hỏa là tiêu nứt ra. Nhâm thủy là đức cương và trung, có thể chế ngự được hỏa bạo liệt; Quý thủy âm nhu, gặp Bính hỏa sẽ khô queo. Tân kim là vật nhu nhuyễn, ngoài thì hợp với Bính thành vợ chồng, trong thì hóa Bính thành ra thủy hỏa tương tế; Canh kim cương kiện, cương lại gặp cương, thế không đội trời chung, tuy là nói chuyện ngũ hành, nhưng thế sự nhân tình, không phải là cũng thế sao!
丁火柔中,内性昭融。抱乙而孝,合壬而忠。旺而不烈,衰而不穷,如有嫡母,可秋可冬。
Đinh hỏa nhu trung, nội tính chiêu dung. Bão ất nhi hiếu, hợp Nhâm nhi trung. Vượng nhi bất liệt, suy nhi bất cùng, như hữu đích mẫu, khả thu khả đông.
【原注】丁干属阴,火性虽阴,柔而得其中矣。外柔顺而内文明,内性岂不昭融乎?乙非丁之嫡母也,乙畏辛而辛抱之,不若丙抱甲而反能焚甲木也,不若乙抱丁而反能晦丁火也,其孝异乎人矣。壬为丁之正君也,壬畏戊而丁合之,外则抚恤戊土,能使戊土不欺壬也,内则暗化木神,而使戊土不敢抗乎壬也,其忠异乎人矣。生于秋冬,得一甲木,则倚之不灭,而焰至无穷也,故曰可秋可冬。皆柔之道也。
Nguyên chú: Đinh can thuộc âm, hỏa tính tuy âm, nhu nhi đắc kỳ trung hỷ. Ngoại nhu thuận nhi nội văn minh, nội tính khởi bất chiêu dung hồ? Ất phi đinh chi đích mẫu dã, ất úy tân nhi tân bão chi, bất nhược bính bão giáp nhi phản năng phần giáp mộc dã, bất nhược ất bão đinh nhi phản năng hối đinh hỏa dã, kỳ hiếu dị hồ nhân hỷ. Nhâm vi đinh chi chính quân dã, nhâm úy mậu nhi đinh hợp chi, ngoại tắc phủ tuất mậu thổ, năng sử mậu thổ bất khi nhâm dã, nội tắc ám hóa mộc thần, nhi sử mậu thổ bất cảm kháng hồ nhâm dã, kỳ trung dị hồ nhân hỷ. Sinh vu thu đông, đắc nhất giáp mộc, tắc ỷ chi bất diệt, nhi diễm chí vô cùng dã, cố viết khả thu khả đông. Giai nhu chi đạo dã.
【任氏曰】:
丁非灯烛之谓,较丙火则柔中耳。内性昭融者,文明之象也。抱乙而孝,明使辛金不伤乙木也;合壬而忠,暗使戊土不伤壬水也。惟其柔中,故无太过不及之弊,虽时当乘旺,而不至赫炎;即时值就衰,而不至于熄灭。干透甲乙,秋生不畏金;支藏寅卯,冬产不忌水。
Nhâm thị viết: Đinh phi đăng chúc chi vị, giác bính hỏa tắc nhu trung nhĩ. Nội tính chiêu dung giả, văn minh chi tượng dã. Bão ất nhi hiếu, minh sử tân kim bất thương ất mộc dã; hợp nhâm nhi trung, ám sử mậu thổ bất thương nhâm thủy dã. Duy kỳ nhu trung, cố vô thái quá bất cập chi táng, tuy thời đương thừa vượng, nhi bất chí hách viêm; tức thời trị tựu suy, nhi bất chí vu tức diệt. Can thấu giáp ất, thu sinh bất úy kim; chi tàng dần mão, đông sản bất kỵ thủy.
Dịch: Nhâm thị nói: Đinh không phải là đèn đuốc gì cả, so với Bính hỏa thì nhu và trung nhĩ. Nội tính chiêu dung là hình tượng của văn minh. Bão ất nhi hiếu, là rõ ràng làm tân kim không tổn thương đến Ất mộc; hợp Nhâm nhi trung, là ám làm Mậu thổ không tổn thương đến Nhâm thủy (là chính quan của Đinh). Bởi vì nhu và trung cho nên không bị sai lầm chuyện thái quá bất cập, tuy có lúc rất vượng, nhưng không đến nổi nóng quá mức, cho dù có lúc suy, cũng không đến mức tắt đi. Can thấu Giáp Ất, sinh ra hỏa không sợ kim; địa chi có Dần Mão, mùa đông vẫn sinh hỏa được không sợ thủy.
戊土固重,既中且正。静翕动辟,万物司命。水润物生,火燥物病。若在艮坤,怕冲宜静。
Mậu thổ cố trọng, ký trung thả chính, tĩnh hấp động tích, vạn vật tư mệnh. Thủy nhuận vật sinh, hỏa táo vật bệnh. Nhược tại cấn khôn, phạ xung nghi tĩnh.
【原注】戊土非城墙堤岸之谓也,较己特高厚刚燥,乃己土发源之地,得乎中气而且正大矣。春夏则气辟而生万物,秋冬则气翕而成万物,故为万物之司命也。其气属阳,喜润不喜燥,坐寅怕申,坐申怕寅。盖冲则根动,非地道之正也,故宜静。
Nguyên chú: Mậu thổ phi thành tường đê ngạn chi vị dã, giác kỉ đặc cao hậu cương táo, nãi kỉ thổ phát nguyên chi địa, đắc hồ trung khí nhi thả chính đại hĩ。Xuân hạ tắc khí tích nhi sinh vạn vật,thu đông tắc khí hấp nhi thành vạn vật,cố vi vạn vật chi tư mệnh dã。Kì khí thuộc dương,hỉ nhuận bất hỉ táo,tọa dần phạ thân,tọa thân phạ dần。Cái xung tắc căn động,phi địa đạo chi chính dã,cố nghi tĩnh
【任氏曰】:
戊为阳土,其气固重,居中得正。春夏气动而避,则发生,秋冬气静而翕,则收藏,故为万物之司命也。其气高厚,生于春夏,火旺宜水润之,则万物发生,燥则物枯;生于秋冬,水多宜火暖之,则万物化成,湿则物病。艮坤者,寅申之月也。春则受克,气虚宜静;秋则多泄,体薄怕冲。或坐寅申日,亦喜静忌冲。又生四季月者,最喜庚申辛酉之金,秀气流行,定为贵格,己土亦然。如柱见木火,或行运遇之,则破矣。
Nhâm thị viết: Mậu vi dương thổ,kì khí cố trọng,cư trung đắc chính。Xuân hạ khí động nhi tị,tắc phát sinh,thu đông khí tĩnh nhi hấp,tắc thu tàng,cố vi vạn vật chi tư mệnh dã。Kì khí cao hậu,sinh vu xuân hạ,hỏa vượng nghi thủy nhuận chi,tắc vạn vật phát sinh,táo tắc vật khô;sinh vu thu đông,thủy đa nghi hỏa noãn chi,tắc vạn vật hóa thành,thấp tắc vật bệnh。Cấn khôn giả,dần thân chi nguyệt dã。Xuân tắc thụ khắc,khí hư nghi tĩnh;thu tắc đa tiết,thể bạc phạ xung。Hoặc tọa dần thân nhật,diệc hỉ tĩnh kị xung。Hựu sinh tứ quý nguyệt giả,tối hỉ canh thân tân dậu chi kim,tú khí lưu hành,định vi quý cách,kỉ thổ diệc nhiên。Như trụ kiến mộc hỏa,hoặc hành vận ngộ chi,tắc phá hĩ。
Dịch: Mậu là dương thổ, khí chắc mà nặng, ở giữa trung chính. Xuân hạ khí động nên tránh né, do đó mà phát sự sinh, thu đông khí tĩnh nên hòa hợp, do đó mà thu tàng lại, nên vạn vật từ đó mà có. Khí của Mậu cao và dày, sinh vào xuân hạ, hỏa vượng nên có thủy làm ướt thổ, thì vạn vật sinh sôi nảy nở, khô thì sẽ héo; sinh vào thu đông, thủy nhiều phải có hỏa làm ấm, thì vạn vật sẽ sinh hóa, ẩm ướt là sẽ bị bệnh. Cấn Khôn là chỉ tháng Dần tháng Thân. Xuân thì bị khắc, khí hư nên cần tĩnh; thu thì bị tiết, thể mỏng nên sợ bị xung. Nếu ngày tọa Dần Thân cũng thích tĩnh mà kỵ xung. Còn sinh vào tháng Thìn Tuất Sửu Mùi, thích nhất là kim của Canh Thân, Tân Dậu, tú khí lưu hành, thành là quý cách, Kỷ thổ cũng thế. Như trong trụ có mộc hỏa, hoặc trong vận gặp, sẽ bị phá quý cách.
己土卑湿,中正蓄藏。不愁木盛,不畏水狂。火少火晦,金多金光。若要物旺,宜助宜帮。
Kỉ thổ ti thấp,trung chính súc tàng。Bất sầu mộc thịnh,bất úy thủy cuồng。Hỏa thiểu hỏa hối,kim đa kim quang。Nhược yêu vật vượng,nghi trợ nghi bang。
【原注】
己土卑薄软湿,乃戊土枝叶之地,亦主中正而能蓄藏万物。柔土能生木,非木所能克,故不愁木盛;土深而能纳水,非水所能荡,故不畏水狂。无根之火,不能生湿土,故火少而火反晦;湿土能润金气,故金多而金光彩,反清莹可观。此其无为而有为之妙用。若要万物充盛长旺,惟土势深固,又得火气暖和方可。

Kỉ thổ ti bạc nhuyễn thấp,nãi mậu thổ chi diệp chi địa,diệc chủ trung chính nhi năng súc tàng vạn vật。Nhu thổ năng sinh mộc,phi mộc sở năng khắc,cố bất sầu mộc thịnh;thổ thâm nhi năng nạp thủy,phi thủy sở năng đãng,cố bất úy thủy cuồng。Vô căn chi hỏa, bất năng sinh thấp thổ,cố hỏa thiểu nhi hỏa phản hối;thấp thổ năng nhuận kim khí,cố kim đa nhi kim quang thải,phản thanh oánh khả quan。Thử kì vô vi nhi hữu vi chi diệu dụng。Nhược yêu vạn vật sung thịnh trường vượng,duy thổ thế thâm cố,hựu đắc hỏa khí noãn hòa phương khả。
【任氏曰】:
己土为阴湿之地,中正蓄藏,贯八方而旺四季,有滋生不息之妙用焉。不愁木盛者,其性柔和,木藉以培养,木不克也。不畏水狂者,其体端凝,水得以纳藏,水不冲也。火少火晦者,丁火也,阴土能敛火,晦火也。金多金光者,辛金也,湿土能生金,润金也。柱中土气深固,又得丙火去其阴湿之气,更足以滋生万物,所谓宜助宜帮者也。
Nhâm thị viết: kỉ thổ vi âm thấp chi địa,trung chính súc tàng,quán bát phương nhi vượng tứ quý,hữu tư sinh bất tức chi diệu dụng yên。Bất sầu mộc thịnh giả,kì tính nhu hòa,mộc tạ dĩ bồi dưỡng,mộc bất khắc dã。Bất úy thủy cuồng giả,kì thể đoan ngưng,thủy đắc dĩ nạp tàng,thủy bất xung dã。Hỏa thiểu hỏa hối giả,đinh hỏa dã,âm thổ năng liễm hỏa,hối hỏa dã。Kim đa kim quang giả,tân kim dã,thấp thổ năng sinh kim,nhuận kim dã。Trụ trung thổ khí thâm cố,hựu đắc bính hỏa khứ kì âm thấp chi khí,cánh túc dĩ tư sinh vạn vật,sở vị nghi trợ nghi bang giả dã.
Dịch: Nhâm thị nói: kỷ thổ là đất ướt thuộc âm, trung chính súc tàng, đạt tới tám phương làm vượng tứ quý (Thìn Tuất Sửu Mùi), dùng để nuôi dưỡng vạn vật diệu kỳ không ngơi. Không sợ mộc thịnh, là vì tính của kỷ nhu hòa, mộc có chỗ bồi dưỡng, mộc không khắc kỷ. Không sợ thủy mãnh liệt là vì thể của kỷ đoan chính ngưng tụ, thủy có chỗ để yên ổn, thủy không xung. Hỏa ít, hỏa tối, là Đinh hỏa, âm thổ có thể phủ lên làm hỏa mờ. Kim nhiều kim sáng, là tân kim, thổ ướt có thể sinh kim, làm nhuận kim. Trong trụ có khí thổ sâu và chắc, lại được Bính hỏa khử khí ướt và âm, là có thể đủ sinh sôi vạn vật, gọi là cần được bang trợ mới tốt.
庚金带煞,刚健为最。得水而清,得火而锐。土润则生,土干则脆。能赢甲兄,输于乙妹。
Canh kim đái sát, cương kiện vi tối. Đắc thủy nhi thanh, đắc hỏa nhi nhuệ. Thổ nhuận tắc sinh, thổ can tắc thúy. Năng doanh giáp huynh, thâu vu ất muội.
【原注】庚金乃天上之太白,带杀而刚健。健而得水,则气流而清;刚而得火,则气纯而锐。有水之土,能全其生;有火之土,能使其脆。甲木虽强,力足伐之;乙木虽柔,合而反弱。
Nguyên chú: Canh kim nãi thiên thượng chi thái bạch, đái sát nhi cương kiện。Kiện nhi đắc thủy,tắc khí lưu nhi thanh;cương nhi đắc hỏa,tắc khí thuần nhi nhuệ。Hữu thủy chi thổ,năng toàn kì sinh;hữu hỏa chi thổ,năng sử kì thúy。Giáp mộc tuy cường,lực túc phạt chi;ất mộc tuy nhu,hợp nhi phản nhược.
【任氏曰】:
庚乃秋天肃杀之气,刚健为最。得水而清者,壬水也,壬水发生,引通刚杀之性,便觉淬厉晶莹。得火而锐者,丁火也,丁火阴柔,不与庚金为敌,良冶销熔,遂成剑戟,洪炉煅炼,时露锋砧。生于春夏,其气稍弱,遇丑辰之湿土则生,逢未戌之燥土则脆。甲木正敌,力能伐之;与乙相合,转觉有情。乙非尽合庚而助暴,庚亦非尽合乙而反弱也,宜详辨之。
Nhâm thị viết: canh nãi thu thiên túc sát chi khí,cương kiện vi tối。Đắc thủy nhi thanh giả,nhâm thủy dã,nhâm thủy phát sinh,dẫn thông cương sát chi tính,tiện giác thối lệ tinh oánh. Đắc hỏa nhi nhuệ giả,đinh hỏa dã,đinh hỏa âm nhu,bất dữ canh kim vi địch,lương dã tiêu dung,toại thành kiếm kích,hồng lô đoán luyện,thời lộ phong châm。Sinh vu xuân hạ,kì khí sảo nhược,ngộ sửu thìn chi thấp thổ tắc sinh,phùng mùi tuất chi táo thổ tắc thúy。Giáp mộc chính địch,lực năng phạt chi;dữ ất tương hợp,chuyển giác hữu tình。Ất phi tận hợp canh nhi trợ bạo,canh diệc phi tận hợp ất nhi phản nhược dã,nghi tường biện chi.
Dịch: Nhâm thị nói: Canh là khí tiêu sát của mùa thu, cương kiện là nhất. Được thủy sẽ trong, là Nhâm thủy, Nhâm thủy được sinh, dẫn thông tính cương và sát, bớt đi hung mãnh mà thành sáng ngời. Được hỏa sẽ bén nhọn, là Đinh hỏa, Đinh hỏa âm nhu, không đối địch với Canh kim, nung luyện kim tạo thành kiếm kích, nung nấu trong lò, sẽ có lúc thành bén nhọn. Sinh vào mùa xuân mùa hạ, khí của canh kim có nhược đi, gặp Sửu là thổ ướt sẽ được sinh, gặp Mùi hay Tuất là thổ khô sẽ trở thành mềm đi. Giáp mộc đối địch với Canh kim sẽ bị chặt gãy; nhưng Canh kim hợp với Ất mộc, thành ra hữu tình. Ất không phải là hợp với Canh mà tận tình biến ra hết thành Kim, mà Kim cũng không phải là hợp với Ất mà thành ra tận tình biến ra nhược, phải biện biệt rõ ràng.
辛金软弱,温润而清。畏土之叠,乐水之盈。能扶社稷,能救生灵。热则喜母,寒则喜丁。
Tân kim nhuyễn nhược,ôn nhuận nhi thanh。Úy thổ chi điệp,lạc thủy chi doanh。Năng phù xã tắc,năng cứu sinh linh。Nhiệt tắc hỉ mẫu,hàn tắc hỉ đinh.
【原注】辛乃阴金,非珠玉之谓也。凡温软清润者,皆辛金也。戊己土多而能埋,故畏之;壬癸水多而必秀,故乐之。辛为丙之臣也,合丙化水,使丙火臣服壬水,而安扶社稷;辛为甲之君也,合丙化水,使丙火不焚甲木,而救援生灵。生于九夏而得己土,则能晦火而存之;生于隆冬而得丁火,则能敌寒而养之。故辛金生于冬月,见丙火则男命不贵,虽贵亦不忠;女命克夫,不克亦不和。见丁男女皆贵且顺。
Nguyên chú: tân nãi âm kim,phi châu ngọc chi vị dã。Phàm ôn nhuyễn thanh nhuận giả,giai tân kim dã。Mậu kỉ thổ đa nhi năng mai,cố úy chi;Nhâm quý thủy đa nhi tất tú,cố lạc chi。Tân vi bính chi thần dã,hợp bính hóa thủy,sử bính hỏa thần phục nhâm thủy,nhi an phù xã tắc;tân vi giáp chi quân dã,hợp bính hóa thủy,sử bính hỏa bất phần giáp mộc,nhi cứu viện sanh linh。Sinh vu cửu hạ nhi đắc kỉ thổ,tắc năng hối hỏa nhi tồn chi;sinh vu long đông nhi đắc đinh hỏa,tắc năng địch hàn nhi dưỡng chi。Cố tân kim sinh vu đông nguyệt,kiến bính hỏa tắc nam mệnh bất quý,tuy quý diệc bất trung;nữ mệnh khắc phu,bất khắc diệc bất hòa。Kiến đinh nam nữ giai quý thả thuận.
【任氏曰】:
辛金乃人间五金之质,故清润可观。畏土之叠者,戊土太重,而涸水埋金;乐水之盈者,壬水有余,而润土养金也。辛为甲之君也,丙火能焚甲木,合而化水,使丙火不焚甲木,反有相生之象;辛为丙之臣也,丙火能生戊土,合丙化水,使丙火不生戊土,反有相助之美。岂非扶社稷救生灵乎?生于夏而火多,有己土则晦火而生金;生于冬而水旺,有丁火则温水而养金。所谓热则喜母,寒则喜丁也。
Nhâm thị viết: Tân kim nãi nhân gian ngũ kim chi chất, cố thanh nhuận khả quan。Úy thổ chi điệp giả,mậu thổ thái trọng, nhi hạc thủy mai kim;lạc thủy chi doanh giả,Nhâm thủy hữu dư,nhi nhuận thổ dưỡng kim dã。Tân vi giáp chi quân dã,Bính hỏa năng phần Giáp mộc,hợp nhi hóa Thủy,sử Bính hỏa bất phần Giáp mộc,phản hữu tương sinh chi tượng;Tân vi Bính chi thần dã,Bính hỏa năng sinh Mậu thổ,hợp Bính hóa Thủy,sử Bính hỏa bất sinh Mậu thổ,phản hữu tương trợ chi mỹ。Khởi phi phù xã tắc cứu sinh linh hồ?sinh vu hạ nhi Hỏa đa,hữu Kỉ thổ tắc hối Hỏa nhi sinh kim;sinh vu đông nhi Thủy vượng,hữu Đinh hỏa tắc ôn Thủy nhi dưỡng kim。Sở vị nhiệt tắc hỉ mẫu,hàn tắc hỉ Đinh dã.
Dịch: Nhâm thị nói: Tân kim có cái chất của ngũ kim trên nhân gian, do đó mà thanh mà nhuận dễ nhìn. Sợ thổ dày là vì Mậu thổ nặng quá, làm khô Thủy mà chôn Kim; thích Thủy tràn đầy, là vì có nhiều Thủy sẽ làm ướt Thổ nuôi Kim. Tân là vua của Giáp, là vì Bính hỏa có thể đốt Giáp mộc mà Tân hợp với Bính hóa ra Thủy, đã làm cho Hỏa không đốt Giáp mộc mà ngược lại còn có vẻ tương sinh với nhau; Tân là thần của Bính, là vì Bính hỏa có thể sinh Mậu thổ, Tân hợp với Bính hóa thành Thủy, làm cho Bính không còn phải sinh Mậu thổ, có cái đẹp tương trợ. Do đó không phải là bang trợ xã tắc, cứu sinh linh sao? Sinh vào mùa hạ mà nhiều Hỏa, có Kỷ thổ sẽ làm mờ Hỏa và sinh Kim; sinh vào mùa đông mà Thủy vượng, có Đinh hỏa sẽ làm ấm Thủy nuôi dưỡng Kim. Do đó mà nói là, nóng thì thích mẹ, lạnh thì thích Hỏa.
壬水通河,能泄金气,刚中之德,周流不滞。通根透癸,冲天奔地。化则有情,从则相济。
Nhâm thủy thông hà,năng tiết kim khí,cương trung chi đức,chu lưu bất trệ。Thông căn thấu quý,xung thiên bôn địa。Hóa tắc hữu tình,tòng tắc tương tế
【原注】壬水即癸水之发源,昆仑之水也;癸水即壬水之归宿,扶桑之水也。有分有合,运行不息,所以为百川者此也,亦为雨露者此也,是不可歧而二之。申为天关,乃天河之口,壬水长生于此,能泄西方金气。周流之性,冲进不滞,刚中之德犹然也。若申子辰全而又透癸,则其势冲奔,不可遏也。如东海本发端于天河,复成水患,命中遇之,若无财官者,其祸当何如哉!合丁化木,又生丁火,则可谓有情;能制丙火,不使其夺丁之爱,故为夫义而为君仁。生于九夏,则巳、午、未、申火土之气,得壬水熏蒸而成雨露,故虽从火土,未尝不相济也。
Nguyên chú: nhâm thủy tức quý thủy chi phát nguyên,côn luân chi thủy dã;quý thủy tức nhâm thủy chi quy túc,phù tang chi thủy dã。Hữu phân hữu hợp,vận hành bất tức,sở dĩ vi bách xuyên giả thử dã,diệc vi vũ lộ giả thử dã,thị bất khả kì nhi nhị chi。Thân vi thiên quan,nãi thiên hà chi khẩu,nhâm thủy trường sinh vu thử,năng tiết tây phương kim khí。Chu lưu chi tính,xung tiến bất trệ, cương trung chi đức do nhiên dã。Nhược thân tý thìn toàn nhi hựu thấu quý,tắc kì thế xung bôn,bất khả át dã。Như đông hải bản phát đoan vu thiên hà,phục thành thủy hoạn,mệnh trung ngộ chi,nhược vô tài quan giả,kì họa đương hà như tai! hợp đinh hóa mộc,hựu sinh đinh hỏa,tắc khả vị hữu tình;năng chế bính hỏa,bất sử kì đoạt đinh chi ái,cố vi phu nghĩa nhi vi quân nhân。Sinh vu cửu hạ,tắc tị, ngọ, mùi, thân hỏa thổ chi khí,đắc nhâm thủy huân chưng nhi thành vũ lộ,cố tuy tòng hỏa thổ,vị thường bất tương tế dã.
【任氏曰】:
壬为阳水。通河者,即天河也,长生在申,申在天河之口,又在坤方,壬水生此,能泄西方肃杀气,所以为刚中之德也。百川之源,周流不滞,易进而难退也。如申子辰全,又透癸水,其势泛滥,纵有戊己之土,亦不能止其流,若强制之,反冲激而成水患,必须用木泄之,顺其气势,不至于冲奔也。合丁化木,又能生火,不息之妙,化则有情也。生于四、五、六月,柱中火土并旺,别无金水相助。火旺透干则从火,土旺透干则从土,调和润泽,仍有相济之功也。
Nhâm thị viết: Nhâm vi dương thủy。Thông hà giả, tức thiên hà dã,trường sinh tại Thân, Thân tại thiên hà chi khẩu,hựu tại Khôn phương,Nhâm thủy sinh thử,năng tiết tây phương túc sát khí,sở dĩ vi cương trung chi đức dã。Bách xuyên chi nguyên,chu lưu bất trệ,dị tiến nhi nan thối dã。Như Thân Tý Thìn đầy đủ,hựu thấu Quý thủy,kì thế phiếm lạm,túng hữu Mậu kỉ chi thổ,diệc bất năng chỉ kì lưu,nhược cường chế chi,phản xung kích nhi thành thủy hoạn,tất tu dụng mộc tiết chi,thuận kì khí thế,bất chí vu xung bôn dã。Hợp Đinh hóa Mộc,hựu năng sinh hỏa,bất tức chi diệu,hóa tắc hữu tình dã。Sinh vu tứ, ngũ, lục nguyệt,trụ trung hỏa thổ tịnh vượng,biệt vô kim thủy tương trợ。Hỏa vượng thấu can tắc tòng hỏa,thổ vượng thấu can tắc tòng thổ,điều hòa nhuận trạch,nhưng hữu tương tế chi công dã.
Dịch: Nhâm thị nói: Nhâm là dương Thủy. Thông hà tức là thiên hà, trường sinh ở Thân, Thân là cửa khẩu của thiên hà, lại ở cửa Khôn, Nhâm thủy sinh ở đây, là có thể tiết được khí tiêu sát ở phương tây (là Kim), do đó mà có cái đức cương và trung vậy. Nguồn của trăm con sông, chu lưu không ngừng nghỉ, dễ tiến mà khó lùi hỷ. Nếu đầy đủ Thân Tý Thìn tam hợp cục Thủy hướng về nguyên Quý thủy, thế Thủy sẽ tràn lan, cho dù có thổ của Mậu cũng không thể nào ngưng được dòng nước chảy, nếu miễn cưỡng áp chế sẽ thành thủy hoạn, phải nên dùng Mộc tiết Thủy, thuận theo thế Thủy, do đó không đến nổi quá mãnh liệt. Hợp Đinh sẽ hóa thành Mộc, Mộc lại sinh được Hỏa, sinh rồi sinh không ngơi nghỉ, bởi vậy mà nói, hóa thì hữu tình. Sinh vào tháng 4, 5, 6, (Tỵ Ngọ Mùi) Hỏa và Thổ trong trụ đều vượng, không có Kim và Thủy tương trợ. Hỏa vượng thấu can thì tòng Hỏa, Thổ vượng thấu can thì tòng Thổ, điều hòa bồi dưỡng, nhưng có công hiệu của tương tế vậy.
癸水至弱,达于天津。得龙而运,功化斯神。不愁火土,不论庚辛。合戊见火,化象斯真。
Quý thủy chí nhược,đạt vu thiên tân。Đắc long nhi vận,công hóa tư thần。Bất sầu hỏa thổ,bất luận canh tân。Hợp mậu kiến hỏa,hóa tượng tư chân.
【原注】癸水乃阴之纯而至弱,故扶桑有弱水也。达于天津,随天而运,得龙以成云雨,乃能润泽万物,功化斯神。凡柱中有甲乙寅卯,皆能运水气,生木制火,润土养金,定为贵格,火土虽多不畏。至于庚金,则不赖其生,亦不忌其多。惟合戊土化火也,戊生寅,癸生卯,皆属东方,故能生火。此固一说也,不知地不满东南,戊土之极处,即癸水之尽处,乃太阳起方也,故化火。凡戊癸得丙丁透者,不论衰旺,秋冬皆能化火,最为真也。
Nguyên chú: quý thủy nãi âm chi thuần nhi chí nhược,cố phù tang hữu nhược thủy dã。Đạt vu thiên tân,tùy thiên nhi vận,đắc long dĩ thành vân vũ,nãi năng nhuận trạch vạn vật,công hóa tư thần。Phàm trụ trung hữu giáp ất dần mão,giai năng vận thủy khí,sinh mộc chế hỏa,nhuận thổ dưỡng kim,định vi quý cách,hỏa thổ tuy đa bất úy。Chí vu canh kim,tắc bất lại kì sinh,diệc bất kị kì đa. Duy hợp mậu thổ hóa hỏa dã,mậu sinh dần,quý sinh mão,giai thuộc đông phương,cố năng sanh hỏa。Thử cố nhất thuyết dã,bất tri địa bất mãn đông nam,mậu thổ chi cực xử,tức quý thủy chi tận xử,nãi thái dương khởi phương dã,cố hóa hỏa。Phàm mậu quý đắc bính đinh thấu giả, bất luận suy vượng,thu đông giai năng hóa hỏa,tối vi chân dã.
【任氏曰】:
癸水非雨露之谓,乃纯阴之水。发源虽长,其性极弱,其势最静,能润土养金,发育万物,得龙而运,变化不测。所谓逢龙即化,龙即辰也,非真龙而能变化也。得辰而化者,化辰之原神发露也,凡十干逢辰位,必干透化神,此一定不易之理也。不愁火土者,至弱之性,见火土多即从化矣;不论庚辛者,弱水不能泄金气,所谓金多反浊,癸水是也。合戊见火者,阴极则阳生,戊土燥厚,柱中得丙火透露,引出化神,乃为真也。若秋冬金水旺地,纵使支遇辰龙,干透丙丁,亦难从化,宜细详之。
Nhâm thị viết: quý thủy phi vũ lộ chi vị,nãi thuần âm chi thủy。Phát nguyên tuy trường,kì tính cực nhược,kì thế tối tĩnh,năng nhuận thổ dưỡng kim,phát dục vạn vật,đắc long nhi vận,biến hóa bất trắc。Sở vị phùng long tức hóa,long tức thìn dã,phi chân long nhi năng biến hóa dã。Đắc thìn nhi hóa giả, hóa thìn chi nguyên thần phát lộ dã,phàm thập can phùng thìn vị,tất can thấu hóa thần,thử nhất định bất dịch chi lí dã。Bất sầu hỏa thổ giả,chí nhược chi tính,kiến hỏa thổ đa tức tòng hóa hĩ;bất luận canh tân giả,nhược thủy bất năng tiết kim khí,sở vị kim đa phản trọc,quý thủy thị dã。Hợp mậu kiến hỏa giả,âm cực tắc dương sinh,mậu thổ táo hậu,trụ trung đắc bính hỏa thấu lộ,dẫn xuất hóa thần,nãi vi chân dã。Nhược thu đông kim thủy vượng địa,túng sử chi ngộ thần long,can thấu bính đinh,diệc nan tòng hóa,nghi tế tường chi.
Dịch: Nhâm thị nói: Quý thủy không phải gọi là mưa hay sương gì cả, chính là thủy thuần âm. Nguồn phát nguyên tuy dài, tính chất rất nhược, thế thủy rất tĩnh, có thể ướt Thổ, dưỡng Kim, dinh dưỡng vạn vật, được rồng sẽ chuyển động, biến hóa khôn lường. Nói là gặp rồng là hóa, rồng chính là Thìn, không phải rồng thật mà biến hóa được. Được Thìn là hóa được, nghĩa là nguyên thần của Thìn phát lộ ra, phàm thập can ở ngôi vị Thìn sẽ thấu hóa được dễ dàng, đây là cái lý bất di bất dịch. Không sợ Hỏa Thổ, bởi vì tính chất chí nhược, gặp Hỏa Thổ nhiều là theo hóa; bất kể Canh hoặc Tân, Quý thủy đều không tiết được, gọi là Kim nhiều thì ngược lại bị đục nước, chính là Quý thủy vậy. Hợp Mậu thành Hỏa nghĩa là âm cực thì dương sinh, Mậu thổ khô dày, trong trụ có Bính Hỏa thấu lộ, sẽ dẫn ra được hóa thần Hỏa. Gặp mùa thu và đông, Kim Thủy ở đất vượng, cho dù có gặp Thìn, can thấu Bính Đinh, cũng khó mà hóa được, phải xem kỹ.

Vui lòng Đăng nhập để tham gia cuộc hội thoại.

Trích Thiên Tủy chương V 24 08 2020 16:35 #4

《滴天髓阐微》上篇第06章 配合
CHƯƠNG VI PHỐI HỢP
________________________________________
配合干支仔细详,定人福祸与灾祥。
Phối hợp can chi tử tế tường
Định nhân phúc họa dữ tai tường
【原注】天干地支,相为配合,仔细推详其进退之机,则可以断人之祸福灾祥矣。
Nguyên chú: thiên can địa chi, tương vi phối hợp, tử tế thôi tường kỳ tiến thoái chi cơ, tắc khả dĩ đoán nhân chi họa phúc tai tường hỷ.
【任氏曰】:
此章乃辟谬之要领也。配合干支,必须正理搜寻详推,与衰旺喜忌之理,不可将四柱干支弗论,专从奇格、异局、神杀等类妄谈,以致祸福无凭,吉凶不验。命中至理,只存用神,不拘财、官、印绶、比劫、食伤、枭杀,皆可为用,勿以名之美者为佳,恶者为憎。果能审日主之衰旺,用神之喜忌,当抑则抑,当扶则扶,所谓去留舒配,取裁确当,则运途否泰,显然明白,祸福灾祥,无不验矣。
Nhâm thị viết: Thử chương nãi tích mậu chi yếu lĩnh dã. Phối hợp can chi, tất tu chính lý sưu tầm tường thôi, dữ suy vượng hỷ kỵ chi lý, bất khả tương tứ trụ can chi phất luận, chuyên tòng kỳ cách, dị cuộc, thần sát đẵng loại vọng đàm, dĩ trí họa phúc vô bằng, cát hung bất nghiệm. Mệnh trung chí lý, chỉ tồn Dụng thần, bất câu Tài, Quan, Ấn Thụ, Tỷ Kiếp, Thực Thương, Kiêu Sát, giai khả vi dụng, vật dĩ danh chi mỹ giả vi giai, ố giả vi tăng. Quả năng thẩm nhật chủ chi suy vượng, Dụng thần chi kỷ kỵ, đương ức tắc ức, đương phù tắc phù, sở vị khứ lưu thư phối, thủ tài xác đương, tắc vận đồ bĩ thái, hiển nhiên minh bạch, họa phúc tai tường, vô bất nghiệm hỷ.
Dịch: Nhâm thị nói: chương này chính là yếu quyết để tránh nói sàm. Phối hợp can chi, cần phải tìm kiếm suy luận theo lý chính đáng, cùng với lý luận suy vượng, hỷ kỵ, không thể bỏ qua can chi của tứ trụ không bàn, chuyên đi theo cách cuộc lạ kỳ, những loại thần sát mà bàn luận tầm sàm, để đến nổi họa phúc nói không bằng cớ, lành dữ nói không ứng nghiệm. Lý trong mệnh chỉ có Dụng thần, không câu chấp phải là Tài hay Quan hay Ấn Thụ hay Tỷ Kiếp hay Thực Thương hay Kiêu Sát, đều có thể làm Dụng thần, đừng có thấy tên đẹp là lành, tên xấu là dữ. Nếu có thể xét đoán nhật chủ suy vượng ra sao, Dụng thần hỷ kỵ chỗ nào, chỗ nào phải ức thì ức, chỗ nào phải bang trợ thì bang trợ, cái gọi là bỏ, giữ, thêm, phối hợp, giữ và bỏ thích đáng thì con đường vận mệnh lành hay dữ, hiển nhiên rõ ràng trước mắt, họa hay phúc, tai họa hay cát tường không gì không ứng nghiệm.
甲子 戊辰 庚申 壬午
己巳 庚午 辛未 壬申 癸酉 甲戌 乙亥 丙子 
Bát tự:
Giáp Mậu Canh Nhâm
Tý Thìn Thân Ngọ
Đại vận:
Kỷ Canh Tân Nhâm Quý Giáp Ất Bính
Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý
此造以俗论之,干透三奇之美,支逢拱贵之荣,且又会局不冲,官星得用,主名利双收。然庚申生于季春,水本休囚,原可用官,嫌其支会水局,则坎增其势,而离失其威,官星必伤,不足为用。欲以强众敌寡而用壬水,更嫌三奇透戊,枭神夺食,亦难作用。甲木之财,本可借用,疏土卫水,泄伤生官,似乎有情,不知甲木退气,戊土当权,难以疏通。纵用甲木,亦是假神,不过庸碌之人。况运走西南甲木休囚之地,虽有祖业,亦一败而尽,且不免刑妻克子,孤苦不堪。以三奇拱贵等格论命,而不看用神者,皆虚谬耳。
Thử tạo dĩ tục luận chi, can thấu tam kỳ chi mỹ, chi phùng củng quý chi vinh, thả hựu hội cuộc bất xung, quan tinh đắc dụng, chủ danh lợi song thu. Nhiên Canh Thân sinh vu Quý Xuân, thủy bản hưu tù, nguyên khả dụng Quan, hiềm kỳ chi hội thủy cục, tắc khảm tăng kỳ thế, nhi ly thất kỳ oai, Quan tinh tắc thương, bất túc vi dụng. Dục dĩ cường chúng địch quả nhi dụng Nhâm thủy, cánh hiềm tam kỳ thấu Mậu, Kiêu thần đoạt Thực, diệc nan tác dụng. Giáp mộc chi Tài, bản khả tá dụng, sơ thổ vệ thủy, tiết Thương sinh Quan, tựa hồ hữu tình, bất tri Giáp mộc thoái khí, Mậu thổ đương quyền, nan dĩ sơ thông. Túng dụng Giáp mộc, diệc thị giả thần, bất quá dung lộc chi nhân. Huống vận tẩu tây nam Giáp mộc hưu tù chi địa, tuy hữu tổ nghiệp, diệc nhất bại nhi tận, thả bất miễn hình thê khắc tử, cô khổ bất kham. Dĩ tam kỳ củng quý đẵng cách luận mệnh, nhi bất khán dụng thần giả, giai hư mậu nhĩ.
Dịch: Mệnh này bình thường luận là “can thấu tam kỳ chi mỹ, chi phùng củng quý chi vinh”, phía trên là tam kỳ, phía dưới là củng quý, với lại nữa, Thân Tý Thìn hợp cục Thủy không bị xung, Quan tinh hỏa được dùng, chính là được vừa danh vừa lợi. Nhưng Canh Thân sinh nhằm cuối Xuân, thủy vốn hưu tù, tưởng là dùng Quan nhưng hiềm có cục thủy, Khảm thủy tăng thế lực, Ly hỏa mất đi oai thế, Quan tinh sẽ bị tổn thương, không thể lấy làm dụng thần. Muốn lấy cường chúng địch quả thì dùng Nhâm thủy làm Dụng thần, lại hiềm tam kỳ có Mậu thổ, Kiêu thần thổ sẽ đoạt Thực thần thủy, cũng không được. Giáp mộc Tài có thể dùng được, có ít thổ chế thủy, tiết Nhâm Thương sinh Quan hỏa, tựa hồ hữu tình, có biết đâu Giáp mộc thoái khí, Mậu thổ đương quyền, khó mà làm chuyện thông quan được. Cho dù dùng Mộc làm Dụng thần, cũng chỉ là giả thần thành ra một người tầm thường. Huống gì vận đi về đường tây nam là chỗ hưu tù của Giáp mộc, tuy có tổ nghiệp, cũng một lần bại là mất hết, với lại không khỏi bị hình vợ khắc con (dụng thần Giáp Tài bị khắc), cô khổ không kham nổi. Lấy cách cục tam kỳ củng quý để luận mệnh mà không xem Dụng thần, đều là giả dối láo toét nhĩ.
丙子 己亥 乙丑 壬午 
庚子 辛丑 壬寅 癸卯 甲辰 乙巳 丙午 丁未 
Bát tự:
Bính Kỷ Ất Nhâm
Tý Hợi Sửu Ngọ
Đại vận:
Canh Tân Nhâm Quý Giáp Ất Bính Đinh
Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi
此造初看,一无可取,天干壬丙一克,地支子午遥冲,且寒木喜阳,正遇水势泛滥,火气克绝,似乎名利无成。余细推之,三水二土二火,水势虽旺,喜无金;火本休囚,喜有土卫,谓儿能救母;况天干壬水生乙木,丙火生己土,各立门户,相生有情,必无争克之意。地支虽北方,然喜己土原神透出,通根禄旺,互相兹护,其势足以止水卫火,正谓有病得药。且一阳后万物怀胎,木火进气,以伤官秀气为用。中年运走东南,用神生旺,必是甲第中人。交寅,火生木旺,运登甲榜,入翰苑,是以青云直上。 
Thử tạo sơ khán, nhất vô khả thủ, thiên can Nhâm Bính nhất khắc, địa chi Tý Ngọ dao xung, thả hàn mộc hỷ dương, chính ngộ thủy thế phiếm lạm, hỏa khí khắc tuyệt, tựa hồ danh lợi vô thành. Dư tế thôi chi, tam thủy nhị thổ nhị hỏa, thủy thế tuy vượng, hỷ vô kim; hỏa bản hưu tù, hỷ hữu thổ vệ, vị nhi năng cứu mẫu; huống thiên can Nhâm thủy sinh Ất mộc, Bính hỏa sinh Kỷ thổ, các lập môn hộ, tương sinh hữu tình, tất vô tranh khắc chi ý. Địa chi tuy bắc phương, nhiên hỷ Kỷ thổ nguyên thần thấu xuất, thông căn lộc vượng, hỗ tương tư hộ, kỳ thế túc dĩ chỉ thủy vệ hỏa, chính vị hữu bệnh đắc dược. Thả nhất dương hậu vạn vật hoài thai, mộc hỏa tiến khí, dĩ thương quan tú khí vi dụng. Trung niên vận tẩu đông nam, dụng thần sinh vượng, tất thị giáp đệ trung nhân. Giao Dần, hỏa sinh mộc vượng, vận đăng giáp bảng, nhập hàn uyển, thị dĩ thanh vân trực thượng.
Dịch: Mệnh này mới nhìn, không được một cái gì, thiên can Nhâm, Bính khắc nhau là một, địa chi Tý Ngọ xung nhau ở xa, với lại âm mộc thích dương lại gặp thủy thế tràn lan, hỏa khí bị khắc một góc, tựa hồ danh lợi không thành. Ta xem kỹ, 3 thủy, 2 thổ, 2 hỏa, thủy thế tuy vượng, may mà không có kim; hỏa vốn hưu tù, may mà có thổ bảo vệ, gọi là con (thổ) có thể cứu mẹ (hỏa); huống hồ thiên can Nhâm thủy sinh Ất mộc, Bính hỏa sinh Kỷ thổ, mỗi hành tự lập môn hộ, tương sinh có tình, không tranh khắc nhau. Địa chi tuy ở phương bắc nhưng may là Kỷ thổ thấu can, thông căn lộc vượng ở Sửu, hỗ tương sinh (hỏa sinh thổ) và hộ vệ (thổ bảo vệ hỏa từ thủy), hình thế đủ để ngưng thủy và vệ hỏa (dụng thần), chính là mắc bệnh mà có thuốc. Vả lại, một dương có rồi vạn vật hoài thai, mộc hỏa tiến khí, lấy Thương Quan làm Dụng thần. Trung niên vận đi về đông nam, Dụng thần vượng lên, chính là người đổ đạt. Qua Dần, mộc vượng sinh hỏa, được đăng giáp bảng, vào hàn uyển, do đó con đường mây thênh thang tới trước.
由此两造观之,配合干支之理,其可忽乎?
Do thử lưỡng tạo quan chi, phối hợp can chi chi lý, kỳ khả hốt hồ?
Dịch: Xét hai mệnh tạo ở trên thấy là, cái lý phối hợp can chi, không thể hốt lược qua được.

Vui lòng Đăng nhập để tham gia cuộc hội thoại.

Trích Thiên Tủy chương V 01 08 2020 10:52 #5

《滴天髓阐微》上篇第05章 理气
CHƯƠNG V LÝ KHÍ
________________________________________
理承气行岂有常,进兮退兮宜抑扬。
Lý thừa khí hành khởi hữu thường
Tiến hề thoái hề nghi ức dương
【原注】阖关往来皆是气,而理行乎其间。行之始而进,进之极则为退之机,如三月之甲木是也;行之盛而退,退之极则为进之机,如九月之甲木是也。学者宜抑扬其浅深,斯可以言命也。
Nguyên chú: Hạp quan vãng lai giai thị khí, nhi lý hành hồ kỳ gián. Hành chi thủy nhi tiến, tiến chi cực tắc vi thoái chi cơ, như tam nguyệt chi giáp mộc thị dã; hành chi thịnh nhi thoái, thoái chi cực tắc vi tiến chi cơ, như cửu nguyệt chi giáp mộc thị dã. Học giả nghi ức dương kỳ thiển thâm, tư khả dĩ ngôn mệnh dã.
【任氏曰】:
进退之机,不可不知也。非长生为旺,死绝为衰,必当审明理气之进退,庶得衰旺之真机矣。凡五行旺相休囚,按四季而定之。将来者进,是谓相;进而当令,是谓旺;功成者退,是谓休;退而无气,是谓囚。须辨其旺相休囚,以知其进退之机。为日主,为喜神,宜旺相,不宜休囚;为凶煞,为忌神,宜休囚,不宜旺相。然相妙于旺,旺则极盛之物,其退反速,相则方长之气,其进无涯也。休甚乎囚,囚则既极之势,必将渐生;休则方退之气,未能遽复也。此理气进退之正论也,爰举两造为例。
Nhâm thị viết: Tiến thoái chi cơ, bất khả bất tri dã. Phi trường sinh vi vượng, tử tuyệt vi suy, tất đương thẩm minh lý khí chi tiến thoái, thứ đắc suy vượng chi chân cơ hỷ. Phàm ngũ hành vượng tướng hưu tù, án tứ quý nhi định chi. Tương lai giả tiến, thị vị tướng; tiến nhi đương lệnh, thị vị vượng; công thành giả thoái, thị vị hưu; thoái nhi vô khí, thị vị tù. Tu biện kỳ vượng tướng hưu tù, dĩ tri kỳ tiến thoái chi cơ. Vi nhật chủ, vi hỷ thần, nghi vượng tướng, bất nghi hưu tù; Vi hung sát, vi kỵ thần, nghi hưu tù, bất nghi vượng tướng. Nhiên tướng diệu vu vượng, vượng tắc cực thịnh chi vật, kỳ thoái phản tốc, tướng tắc phương trưởng chi khí, kỳ tiến vô nhai dã. Hưu thậm hồ tù, tù tắc ký cực chi thế, tất tương tiệm sinh; hưu tắc phương thoái chi khí, vị năng cự phục dã. Thử lý khí tiến thoái chi chính luận dã, viên cử lưỡng tạo vi lệ.
Dịch: Cơ tiến thoái không thể không biết. Không phải cứ trường sinh là vượng, tử tuyệt là suy, phải xem xét tiến thoái của lý khi, rồi mới biết được cái cơ chân thật của suy và vượng hỷ. Phàm ngũ hành vượng tướng hưu tù là theo bốn mùa mà định rõ. Ngũ hành đang tiến gọi là tướng; tiến mà đương lệnh gọi là vượng; xong việc thoái lui là hưu; lui mà vô khí gọi là tù. Phải biện biệt rõ ràng vượng tướng hưu tù, để biết cai cơ tiến thoái của ngũ hành. Là nhật chủ hay hỷ thần thì nên vượng tướng, không nên hưu tù; là hung sát hay kỵ thần thì nên hưu tù, không nên vượng tướng. Nhưng tướng thì hay hơn vượng, vượng tức là thứ đã tới mức cực thịnh, thoái lui sẽ rất nhanh, tướng thì là khí đang trưởng thành, mức tiến còn chưa biết. Hưu thì kém hơn tù, tù là thế đã tới cực hạn, sẽ bắt đầu sinh; hưu thì chỉ mới vừa thoái, còn một thời gian mới trở lại được. Đây là luận cứ chính thống của sự tiến thoái của lý khí, bây giờ xin cử hai mệnh tạo làm ví dụ.
丁亥 庚戌 甲辰 壬申
己酉 戊申 丁未 丙午 乙巳 甲辰 癸卯 壬寅 
Bát tự:
Đinh Canh Giáp Nhâm
Hợi  Tuất Thìn Thân
Đại vận:
Kỷ Mậu Đinh Bính Ất Giáp Quý Nhâm
Dậu Thân Mùi Ngọ Tỵ Thìn Mão Dần
甲木休困已极,庚金禄旺克之,一点丁火,难以相对,加之两财生杀,似乎杀重身轻,不知九月甲木进气,壬水贴身相生,不伤丁火。丁火虽弱,通根身库,戌乃燥土,火之本根,辰乃湿土,木之余气。天干一生一制,地支又遇长生,四柱生化有情,五行不争不妒。至丁运科甲连登,用火敌杀明矣。虽久任京官,而宦资丰存,皆一路南方运也。  
Giáp mộc hưu khốn dĩ cực, Canh kim lộc vượng khắc chi, nhất điểm Đinh hỏa, nan dĩ tương đối, gia chi lưỡng Tài sinh Sát, tựa hồ Sát trọng Thân khinh, bất tri cửu nguyệt Giáp mộc tiến khí, Nhâm thủy thiếp Thân tương sinh, bất thương Đinh hỏa. Đinh hỏa tuy nhược, thông căn thân khố, Tuất nãi táo thổ, hỏa chi bản căn, Thìn nãi thấp thổ, mộc chi dư khí. Thiên can nhất sinh nhất chế, địa chi hựu ngộ trường sinh, tứ trụ sinh hóa hữu tình, ngũ hành bất tranh bất đố. Chí vu vận khoa giáp liên đăng, dụng hỏa địch sát minh hỷ. Tuy cửu nhiệm kinh quan, nhi hoạn tư phong tồn, giai nhất lộ nam phương vận dã.
Dịch: Giáp mộc hưu khốn cực kỳ, Canh kim lộc vượng khắc mộc, một chút Đinh hỏa khó đối địch với kim, thêm vào 2 Tài sinh Sát, tựa hồ là trường hợp Sát nặng Thân khinh, có biết đâu, Giáp mộc tháng 9 đang tiến khí, Nhâm thủy sát bên Thân tương sinh, thủy xa không tổn thương đến Đinh hỏa. Đinh hỏa tuy nhược, có Tuất dư khí hỏa, Thìn là thổ ướt, dư khí của mộc. Nhật chủ mộc một bên sinh một bên chế, có địa chi Hợi là trường sinh, tứ trụ sinh hóa có tình, ngũ hành không tranh chấp, không đố kỵ. Vận khoa giáp liên tiếp đổ mấy kỳ, Dụng thần là hỏa để địch với kim rõ ràng hỷ. Tuy 9 lần nhiệm quan ở kinh đô, mà vẫn có tiền để dành, đều là một đường vận ở phương nam.
乙亥 庚辰 甲戌 壬申  
己卯 戊寅 丁丑 丙子 乙亥 甲戌 癸酉 壬申  
Bát tự:
Ất Canh Giáp Nhâm
Hợi Thìn Tuất Thân
Đại vận:
Kỷ Mậu Đinh Bính Ất Giáp Quý Nhâm
Mão Dần Sửu Tý Hợi Tuất Dậu Thân
此与前大同小异。以俗论之,“甲以乙妹妻庚,凶为吉兆”,含合忘冲,较之前造更佳,何彼则翰苑,此则寒袷?不知乙庚合而化金,反助其暴。彼则甲辰,辰乃湿土,能生木,此则甲戌,戌燥土不能生木;彼则申辰拱化,此则申戌生杀;彼则甲木进气,而庚金退,此则庚金进气,而甲木退。推此两造,天渊之隔,进退之机,不可不知也。
Thử dữ tiền đại đồng tiểu dị. Dĩ tục luận chi, “Giáp dĩ ất muội thê Canh, hung vi cát triệu”, hàm hợp vong xung, giác chi tiền tạo cánh giai, hà bĩ tắc hàn uyển, thử tắc hàn giáp? Bất tri Ất Canh hợp nhi hóa kim, phản trợ kỳ bạo. Bĩ tắc Giáp Thìn, Thìn nãi thấp thổ, năng sinh mộc, thử tắc Giáp Tuất, Tuất táo thổ bất năng sinh mộc; bĩ tắc Thân Thìn củng (thôi thúc) hóa (thủy sinh Thân), thử tắc Thân Tuất sinh Sát; bĩ tắc Giáp mộc tiến khí, nhi Canh kim thoái, thử tắc Canh kim tiến khí, nhi Giáp mộc thoái. Thôi thử lưỡng tạo, thiên uyên chi cách, tiến thoái chi cơ, bất khả bất tri dã.
Dịch: Mệnh này so với mệnh trước giống nhiều khác ít. Lấy lẽ thường mà luận thì, “Giáp đem em gái Ất gã cho Canh, hung là điềm lành”, ý nói ham hợp quên xung, còn đẹp hơn mệnh trước, nhưng sao mệnh đó lại là hàn uyển (thi đổ) còn mệnh này lại hàn giáp (lạnh lẽo quấn áo)? Có biết đâu, Ất Canh hợp hóa thành kim, ngược lại còn bang trợ cho bạo chúa kim. Bên kia thì Giáp Thìn, Thìn là thổ ướt sinh được mộc, bên này thì Giáp Tuất, Tuất là thổ khô không thể sinh mộc; bên kia là Thân Thìn thôi thúc bán hợp cục Thủy sinh mộc, bên này thì Thân Tuất sinh Sát kim; bên kia là Giáp mộc tiến khí, còn Canh kim thì thoái khí, bên này thì Canh kim tiến khí còn Giáp mộc thoái khí. Suy hai mệnh tạo đó, thật là một trời một vực, cơ tiến thoái, không thể không biết.

Vui lòng Đăng nhập để tham gia cuộc hội thoại.

  • Trang:
  • 1

Đăng Nhập / Đăng Xuất