Trang thông tin liên lạc của cựu Giáo Sư và học sinh Trung Học Cường Để Qui Nhơn

Trang Facebook của cuongde.org

  • hinhCu 1200
  • CD4 1200
  • DaiThinhDuong1200
  • NhaGiuXe1200

Tài Liệu

Tả Hữu Bằng thế

Tư thế trước đó

 

 

 

 

 

 

 

Động tác thứ nhất: Mủi chân phải xoay qua bên phải 45 độ, thân thể đồng thời chuyển qua bên phải 45 độ; Tùy theo chuyển thể, trọng tâm từ từ di qua chân phải, chân phải cong đầu gối lại hơi hạ mình xuống; chân trái nhấc lên hướng mắt cá của chân phải đi qua, đồng thời, bàn tay phải tùy theo thân chuyển đi xuống tới trước bụng rồi đi lên, tại trước ngực bên phải chuyển một vòng nhỏ qua bên phải, vào trong, qua bên trái, lòng bàn tay hướng xuống dưới; bàn tay trái cũng đồng thời đi qua trước bụng qua bên phải làm một vòng cung tới phía dưới của bàn tay phải, vừa đi vừa theo tay "chuyển ra ngoài", làm cho lòng bàn tay hướng về phía trên mé phải; hai lòng bàn tay tương đối nhau như ôm trái banh, cùi chỏ bên phải hơi chìm, thấp hơn cổ tay một chút, hai cánh tay thành hình cung. Mắt tùy theo thân thể chuyển động mà đi theo, nhãn thần hơi nhìn đến chỗ tay phải sẽ đi đến, và cũng cần nhìn tới tay phải

 

 

Động tác thứ hai: Chân phải tiếp tục từ từ hạ xuống, chân trái bước tới trước bên trái một bước, gót chân đụng mặt đất trước, tùy theo trọng tâm từ từ di chuyển qua chân trái mà toàn chân đạp xuống thực, mủi chân hướng về tây nam (dự bị thức, mặt hướng về nam), chân trái cong, chân phải duổi, thành "tả cung bộ".
Đương lúc chân trái bước tới trước, thân thể hơi chuyển qua bên trái, đương lúc gót chân trái chạm đất, thân thể từ từ quay qua bên phảị Đồng thời, cùi chỏ trái hơi co lại, dùng cánh tay trái kéo thành hình cung về bên trái đi lên đở, bàn tay trái ngang với vai, cổ tay hơi cong vào trong, lòng bàn tay hướng về bên phải phía trên; Bàn tay phải vẻ một hình cung về phía trước bẻ xuống tới ngang hông, lòng bàn tay hướng xuống dưới, ngón tay hướng về trước, và "tọa uyển", đốt ngón tay hơi bật lên trên. Mắt nhìn ngang về phía trước, nhãn thần cần phải để ý đến hai bàn tay chia ra hai bên. Động tác thứ nhất và thứ hai là tả bằng (đở bên trái), động tác thứ ba và thứ tư là hữu bằng (đở bên phải)

 

Động tác thứ ba: Trọng tâm từ từ toàn bộ chuyển qua chân trái, thân thể hơi chuyển qua trái, chân phải nhấc lên theo hình cong đi qua mắt cá chân trái, tùy theo thân chuyển, cùi chỏ bên trái héo lui về bên trái phía sau, tự nhiên đem theo bàn tay trái xuống tới trước ngực bên trái, vừa đi xuống cánh tay vừa xoay vào (nội tuyền) làm lòng bàn tay hướng về bên phải phía dưới; tay phải đồng thời vẻ hình cong về bên trái trước bụng, vừa đi cánh tay xoay ra (ngoại tuyền) làm lòng bàn tay hướng về phía bên trái phía trên, cùng tay trái làm thành hình ôm trái banh, hai tay hiện hình cong, nhãn thần thoáng qua tay trái đi xuống rồi từ từ nhìn qua tay phải, mắt nhìn ngang về phía trước

 

 

 

Động tác thứ tư: Chân phải bước về trước bên phải (hướng tây), gót chân chạm đất trước, tùy theo trọng tâm từ từ đi qua chân phải mà toàn bộ đạp thực xuống, cong chân phải, duổi chân trái, thành hữu cung bộ; Đồng thời, thân thể hơi chuyển về bên phảị Tùy theo thân chuyển, tay phải hướng về bên phải đở lên, bàn tay phải cao bằng vai, cùi chỏ thấp hơn bàn tay; bàn tay trái tùy theo tay phải đẩy ra về trước. Mắt nhìn ngang về phía trước, nhãn thần cần thoáng qua tay phải đở lên

 

 

 

 

Bản đồ chính diện của thế bằng

 

 

 

 

 

 

 

Chú Thích:

 

Những động tác trên, có nói về cánh tay xoay ra ("ngoại tuyền"), và xoay vào ("nội tuyền"), xin nói rõ ràng ở đây, về sau, sẽ không được giải thích nữạ

 

Cánh tay ngoại tuyền: nếu lấy lòng bàn tay hướng vào trong làm tỷ dụ, tức là xoay cánh tay làm cho ngón cái đi về mu bàn tay, làm cho lòng bàn tay hướng ra ngoài, cũng như là nói, làm xương "nhiêu" ly khai khỏi xương "xích", mà chuyển ra ngoài (từ hình bên cạnh sang hình dưới)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cánh tay nội tuyền: nếu lấy lòng bàn tay hướng ra ngoài làm tỷ dụ, tức là xoay cánh tay làm cho ngón cái đi về lòng bàn tay, làm cho lòng bàn tay hướng vào trong, cũng như là nói, làm xương "nhiêu" uốn vào với xương "xích", thành ra xoắn vào nhau (như từ hình bên cạnh sang hình trên)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Yếu điểm:

1. Lúc chuyển động thân thể phải dùng eo để làm trục, thân thể vẫn phải cần thẳng, những động tác của các chiêu sau đều như vậy cả

 

2. Động tác của thân, tay, chân đều cần nhẹ nhàng và chậm, tốc độ đều

 

3. Các động tác của thân, tay và chân tuy được diễn tả trước sau, nhưng phải cần bắt đầu và chấm dứt đồng thời, cần phải hiệp điệu nhất trí. Do đó mà "mười ba thế hành công tâm giải" có nói: "Thiết ký nhất động vô hữu bất động, nhất tĩnh vô hữu bất tĩnh" (Nhớ rõ là đã động là tất cả đều động, đã tĩnh à tất cả đều tĩnh)

 

4. "mười ba thế hành công tâm giải" yêu cầu "Tấn bộ như miêu hành" (bước như mèo đi). Do đó mà bước chân cần nhẹ nhàng. Tỷ như thế này, chân phải bước tới trước bên phải, cần phải dùng chân trái chìm hạ xuống vững vàng rồi chân phải mới hướng về phía trước duổi tới, mới không bị nặng nề. Đó chính là về bộ pháp biểu hiện sự "phân thanh hư thực" (phân biện rõ hư và thực)

 

5. Nếu là "cung bộ" thì đầu gối của chân cong không thể đi quá mủi chân; bàn chân của chân duổi phải hoàn toàn chạm mặt đất, chân cũng không được duổi thẳng hoàn toàn. Cung bộ, lấy chân cong làm thực, chân duổi làm hư; nhất thiết chân cong đảm nhiệm 7 phần trọng lượng, chân duổi ba phần. Đầu gối cùng mủi chân phải cùng một hướng.

 

6. Tay phải đở ra phải ngang bằng vai, không được cao hơn hay thấp hơn. Lúc đở xương vai không được đẩy ra trước, không thể đở ra trước quá, phải cần dùng thân thể phía trên di chuyển về phía trước, mà đầu gối chân phải cũng không được quá mủi chân, đồng thời thân thể không được chồm về trước

 

7. Lúc trọng tâm di chuyển về phía trước, chân, bụng, ngực, tay phải nhất trí không trước không sau tiến tới, tự nhiên "thượng hạ tương tùy" (trên dưới theo nhau), lúc biến chuyển động tác cũng cần duy trì "lập thân trung chính" (giữ thân hình thẳng)

 

Thêm bình luận


Đăng Nhập / Đăng Xuất