Trang thông tin liên lạc của cựu Giáo Sư và học sinh Trung Học Cường Để Qui Nhơn

Trang Facebook của cuongde.org

  • NhaGiuXe1200
  • DaiThinhDuong1200
  • CD4 1200
  • hinhCu 1200
  • Trang:
  • 1
  • 2

CHỦ ĐỀ: Giang Hồ Kỳ Tình Lục chương 261

Giang Hồ Kỳ Tình Lục chương 261 24 07 2020 18:10 #1

Thiên 2 为政 Vi chính
2.1

【原文】
子曰:“为政以德①,譬如北辰②,居其所③而众星共④之。”
【注释】
①为政以德:以,用的意思。此句是说统治者应以道德进行统治,即“德 治”。
②北辰:北极星。
③所:处所,位置。
④共:同拱,环绕的意思。
Tử viết: Vi chính dĩ đức, thí như Bắc thần, cư kỳ sở nhi chúng tinh cộng chi
Dịch
Khổng tử nói: Cầm quyền dùng đức, như sao Bắc đẩu ở một nơi còn các ngôi sao cùng vây quanh.

Bàn
Khổng Tử quan niệm lấy đức trị dân, sách Mạnh Tử đa phần là thuật lại lời Mạnh Tử trả lời các chư hầu, không dùng binh, chỉ dùng đức. Trong Trung Dung có dẫn lời Khổng Tử nói, vua Thuấn vua Vũ trị dân cũng như thế. So với Lão Tử, “thất đạo nhi hậu đức, thất đức nhi hậu nhân …”, đạo suy thoái rồi mới dùng đến đức …
2.2
【原文】
子曰:“诗三百①,一言以蔽②之,曰:“思无邪③。”
【注释】
①诗三百:诗,指《诗经》一书,此书实有305篇,三百只是举其整数。
②蔽:概括的意思。
③思无邪:此为《诗经?鲁颂》上的一句,此处的“思”作思想解。无邪,一解为“纯正”,一解为“直”,后者较妥。
Tử viết: Thi tam bách, nhất ngôn dĩ tế chi, viết: "Tư vô tà".
Dịch

Khổng tử nói: Kinh Thi có 300 bài, chỉ một câu trùm lên là: không suy nghĩ tà lệch.

Bàn
Thời Khổng Tử không có bao nhiêu sách, sách để lại chỉ có Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch kinh … Kinh Thi có lẽ dùng làm sách giáo khoa, Luận Ngữ có dẫn đoạn học trò Khổng Tử hỏi con Khổng Tử có học gì khác hơn không, con Khổng Tử đáp: có khi cha gặp thoáng qua bèn hỏi, học Thi chưa? Chưa? Vậy thì đi học Thi đi.
Tư vô tà, có người nói là “thuần chính”, có người nói “trực”. Trực có lẽ là ý nghĩa hơn, bởi vì trực là hiểu từ tim mình, chân thực lòng mình hiểu ra, “thuần chính” đã gián tiếp nhấn mạnh phải sao cho thuần, tức là đã gây ra một tranh chấp về ý nghĩa. Vậy thì tư vô tà là đọc kinh Thi và lấy tấm lòng thành thực của mình để hiểu trực tiếp kinh Thi nói gì. Ví dụ, “như thiết như tha, như trác như ma …” lập tức dạy cho mình thái độ chăm chỉ trau mài luyện tập.

2.3
【原文】
子曰:“道①之以政,齐②之以刑,民免③而无耻④,道之以德,齐之以礼,有耻且格⑤。”
【注释】
①道:有两种解释:一为“引导”;二为“治理”。前者较为妥贴。
②齐:整齐、约束。
③免:避免、躲避。
④耻:羞耻之心。
⑤格:有两种解释:一为“至”;二为“正”。
Tử viết: Đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ hình, dân miễn nhi vô sỉ, đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách.
Dịch
Khổng tử nói: Đạo (trị dân) bằng pháp luật qua hình phạt, dân tránh được sai phạm nhưng không biết xấu hổ. Trị dân bằng đức qua lễ, dân biết xấu hổ mà còn có (tư) cách.
Bàn
Ở đây Khổng Tử trình bày lý do tại sao dùng đức để trị dân. Thời Khổng Tử trăm hoa đua nở, có Lão Tử, có Mặc Tử có Tuân Tử vân vân, lại sinh vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, mạnh được yếu thua. Khổng Tử dạy trở lại thời (Hoàng Kim) thuở vua Thuấn vua Vũ, khi các vua dùng đức để trị dân, như Hữu Tử giải thích phía trên, “quân tử vụ bản, bản lập nhi đạo sinh”, dạy dân bằng đức được rồi thì tự động dân biết cách cư xử.
2.4
【原文】
子曰:“吾十有①五而志于学,三十而立②,四十而不惑③,五十
而知天命④,六十而耳顺⑤,七十而从心所欲不逾矩⑥。”
【注释】
①有:同“又”。
②立:站得住的意思。
③不惑:掌握了知识,不被外界事物所迷惑。
④天命:指不能为人力所支配的事情。
⑤耳顺:对此有多种解释。一般而言,指对那些于己不利的意见也能正确对待。
⑥从心所欲不逾矩:从,遵从的意思;逾,越过;矩,规矩。

Tử viết:
Ngô thập ngũ nhi chí ư học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập nhi tòng tâm sở dục bất du củ.
Dịch
Khổng tử nói:
Lúc mười lăm tuổi ta có chí học tập.
Ba mươi tuổi tự lập.
Bốn mươi tuổi không bị nghi hoặc.
Năm mươi tuổi hiểu được mệnh trời.
Sáu mươi tuổi tai nghe người khác nói đều thuận.
Bảy mươi tuổi tòng tâm sở dục mà không vượt ra ngoài quy cũ.
Bàn
Qua đoạn này ta gián tiếp biết được đời sống Khổng Tử quá trình phát triển do chính ông nghĩ ra sao, từ nhỏ đến lớn đến già đi qua các giai đoạn mà chính mình cũng có thể ấn chứng và so sánh.
Lúc còn nhỏ chí ở học tập trau giồi, lên 30 tuổi đã có lập trường biết thế nào là đúng thế nào là sai. Tới 40 tuổi thì không còn có gì nghi hoặc, có vấn đề gì, tự mình có thể cầm cân để đo và biết vấn đề là gì, vấn đề ở đâu, làm sao giải quyết. Tới 50 tuổi thì có thể ra khỏi được chính mình để biết mình là gì, sau 60 tuổi có thể biết tới người khác và hòa đồng với chung quanh. Tới 70 tuổi thì không còn cảm thấy bị ràng buộc, tự mình có thể chu du thế giới chung quanh, biết mình biết người biết cư xử.
2.5
【原文】
孟懿子①问孝,子曰:“无违。②”樊迟③御④,子告之曰:“孟孙⑤问孝于我, 我对曰无违。”樊迟曰:“何谓也。”子曰:“生,事之以礼;死,葬之以礼,祭之以礼。”
【注释】
①孟懿子:鲁国的大夫,三家之一,姓仲孙,名何忌,“懿”是谥号。其父临终前要他向孔子学礼。
②无违:不要违背。
③樊迟:姓樊名须,字子迟。孔子的弟子,比孔子小46岁。他曾和冉求一起帮助季康子进行革新。
④御:驾驭马车。
⑤孟孙:指孟懿子。
Mạnh Ý tử vấn hiếu, Tử viết "Vô vi", Phàn Trì ngự, Tử cáo chi viết: "Mạnh Tôn vấn hiếu ư ngã, ngã đối viết vô vi. Phàn Trì viết: "Hà vị dã ?". Tử viết "Sinh, sự chi dĩ lễ; tử, táng chi dĩ lễ, tế chi dĩ lễ."
Dịch
Mạnh Ý tử hỏi về Hiếu. Khổng tử nói "Không làm trái”.

Phàn Trì đánh xe cho Khổng tử, Khổng tử kể lại rằng Mạnh Ý tử có hỏi ta về hiếu, ta trả lời là không được làm trái. Phàn Trì hỏi lại "Như thế là ý gì ?".
Khổng tử nói "Cha mẹ còn sống, ta phụng sự theo lễ. Cha mẹ chết, an táng theo lễ, cúng tế theo lễ ".
Bàn
①孟懿子:鲁国的大夫,三家之一,姓仲孙,名何忌,“懿”是谥号。
其父临终前要他向孔子学礼。
Mạnh Ý tử là đại phu của nước Lỗ, một trong ba họ, tính Trọng Tôn, tên là Kỵ, Ý là yết hiệu. Cha mất dặn ông ta lại chỗ Khổng Tử học lễ.
Có sách nói “vô vi” là “không làm trái lễ”, bởi vì sau đó Khổng Tử giải thích cho Phàn Trì đã nói về lễ. Trong Luận Ngữ có dẫn nhiều cuộc đối thoại, trong đó Khổng Tử được hỏi cùng một câu mà trả lời khác nhau, tùy theo người hỏi.
Mạnh Ý tử thì “vô vi”, không được trái lời cha mẹ, còn Phàn Trì thì khác, cha mẹ sống thì phải làm sao, mất rồi thì phải làm sao.
Khổng Tử đặt căn bản ở nhân nghĩa lễ trí tín, do đó có rất nhiều người hỏi cùng một câu trong Luận Ngữ về 5 chữ trên, và ta sẽ thấy mỗi người có một câu trả lời.

2.6
孟武伯①问孝,子曰:“父母唯其疾之忧②。”
【注释】
①孟武伯:孟懿子的儿子,名彘。武是他的谥号。
②父母唯其疾之忧:其,代词,指父母。疾,病。
Mạnh Vũ Bá vấn hiếu, Tử viết: "Phụ mẫu duy kỳ tật chi ưu"

Dịch
Mạnh Vũ Bá hỏi về đạo Hiếu. Khổng tử đáp: Cha mẹ chỉ lo sợ con mắc bệnh tật mà thôi.
Bàn
Có sách nói, “Chỉ lo cha mẹ mắc bệnh tật thôi”. Nếu là vậy thì đơn giản là lo cho sức khỏe cha mẹ. Còn ý trước lại sâu hơn, không những lo cho cha mẹ mà còn lo cho cha mẹ lo cho mình nữa. Bởi vì biết cha mẹ lo cho mình cho nên mình phải tự giữ thân cẩn thận cho cha mẹ khỏi lo lắng. Đây lại là một câu trả lời khác cho một người khác.
2.7
【原文】
2?7 子游①问孝,子曰:“今之孝者,是谓能养。至于犬马,皆能有养②,不敬,何以别乎?”
【注释】
①子游:姓言名偃,字子游,吴人,比孔子小45岁。
②养:音yàng。

Tử Du vấn hiếu, Tử viết: "Kim chi hiếu giả, thị vị năng dưỡng. Chí ư khuyển mã, giai năng hữu dưỡng, bất kính, hà dĩ biệt hồ ?".
Dịch
Tử Du hỏi về đạo Hiếu.
Khổng tử đáp: Những người thời nay có hiếu là nuôi dưỡng cha mẹ. Đến như chó ngựa còn nuôi được, nếu không kính trọng, thì có khác chi?
Bàn
Tử Du tính Ngôn, tên Yêm, tự là Tử Du, người nước Ngô, nhỏ hơn Khổng Tử 45 tuổi.
Lại một câu trả lời khác nữa.

2.8
【原文】
子夏问孝,子曰:“色难①。有事,弟子服其劳②;有酒食,先生③馔④,曾是以为孝乎?”
【注释】
①色难:色,脸色。难,不容易的意思。
②服劳:服,从事、担负。服劳即服侍。
③先生:先生指长者或父母;前面说的弟子,指晚辈、儿女等。
④馔:音zhuàn,意为饮食、吃喝。
Tử Hạ vấn hiếu, Tử viết: Sắc nan. Hữu sự, đệ tử phục kỳ lao; hữu tửu thực, tiên sinh soạn, tằng thị dĩ vi hiếu hồ ?
Dịch
Tử Hạ hỏi chữ Hiếu. Khổng tử nói: Khó nhất là vẻ mặt. Khi có việc, con cái chủ động làm thay; có gì ngon mang cho cha mẹ ăn. Như thế gọi là có hiếu sao?
Dịch
Đây là một lời giải thích tu bổ cho toàn diện. Làm cho đúng lễ chưa đủ, mà còn phải phát tự tấm lòng thành thực của mình. Nuôi cha mẹ là chuyện tự nhiên, là bằng chân tình của mình.
2.9
【原文】
子曰:“吾与回①言,终日不违②,如愚。退而省其私③,亦足以发,回也不愚。”
【注释】
①回:姓颜名回,字子渊,生于公元前521年,比孔子小30岁,鲁国人,孔子的得意门生。
②不违:不提相反的意见和问题。
③退而省其私:考察颜回私下里与其他学生讨论学问的言行。
Tử viết: Ngô dữ Hồi ngôn, chung nhật bất vi, như ngu. Thoái nhi tỉnh kỳ tư, diệc túc dĩ phát, Hồi dã bất ngu.
Dịch

Khổng tử nói: Ta nói chuyện với Hồi, suốt ngày nó không trái lời, như kẻ ngu đần. Nhưng về rồi suy ngẫm lại, thấy phát huy đầy đủ, Hồi không phải kẻ ngu.


Bàn
Nhan Hồi tính Nhan tên là Hồi, tự là Tử Uyên, sinh vào năm 521 trước Tây lịch, nhỏ hơn Khổng Tử 30 tuổi, người nước Lỗ, là học trò đắc ý của Khổng Tử.
Khổng Tử gián tiếp cho ta thấy, ông muốn học trò bàn luận với mình, không phải nói gì cũng gật đầu nói gì cũng vâng (ông nghĩ đó là ngu đần). Ở nơi khác ông cũng có nói, chỉ ra một đầu thấy được ba đầu khác, như vậy mới gọi là học. Có điều không thấy có ghi lại bất kỳ cuộc đối thoại nào giữa Khổng Tử và học trò có tính cách bàn luận.
2.10
子曰:“视其所以①,观其所由②,察其所安③,人焉廋④哉?人焉廋哉?”
【注释】
①所以:所做的事情。
②所由:所走过的道路。
③所安:所安的心境。
④廋:音sōu,隐藏、藏匿。
Tử viết: Thị kỳ sở dĩ, quan kỳ sở do, sát kỳ sở an, nhân yên sưu tai ? Nhân yên sưu tai ?
Dịch
Khổng tử nói: Nhìn tại sao người ta làm, xem con đường dẫn đến chuyện người ta làm, xét người ta làm tâm thái ra sao, người ta giấu sao được ? Người ta giấu sao được ?
Bàn
Khổng Tử giải thích cách mình xét đoán một người, thứ nhất xem tại sao họ làm vậy (phản ứng bên trong), thứ hai xem con đường dẫn đến chuyện họ làm (nguyên tố bên ngoài), và nữa là xem họ làm thế mà tâm thái ra sao (cá tính con người), vui vẻ, miễn cưỡng, vân vân.
Trong Luận Ngữ có kể Khổng Tử xét lầm một người và than rằng mình đã tin lầm và phải sửa chữa lại cách mình xét đoán.
2.11
【原文】
子曰:“温故而知新①,可以为师矣。”
【注释】
①温故而知新:故,已经过去的。新,刚刚学到的知识。
Tử viết: "Ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hĩ "
Dịch
Khổng tử nói: Ôn tập cái cũ mà biết cái mới, có thể làm thầy được.
Bàn
Đây chính là nền tảng của phát triển, ở bất kỳ thời đại nào. Lão Tử có câu: “Chấp cổ chi đạo dĩ ngự kim chi hữu …” cũng là một ý.
2.12
【原文】
子曰:“君子不器①。”
【注释】
①器:器具。
Tử viết: Quân tử bất khí.
Dịch
Khổng tử nói: Quân tử chẳng phải khí cụ
Bàn
Khí cụ là một thứ để dùng cho một việc. Khổng Tử quan niệm người quân tử là một người mẫu một nhà cai trị nên là, do đó, người quân tử nhìn xa trông rộng, có khả năng về mọi phương diện ở tầm mức cao. Người quân tử không chuyên môn về một thứ gì.
2.13
【原文】
子贡问君子。子曰:“先行其言而后从之。”

Tử Cống vấn quân tử. Tử viết: Tiên hành kì ngôn nhi hậu tòng chi.
Dịch
Tử Cống hỏi về quân tử. Khổng tử đáp: Trước hết, thực hành lời mình nói, sau mới nói ra.
Bàn
Sẽ có những đoạn đối thoại cùng câu hỏi bởi người khác, về người quân tử, bởi vì quân tử là mẫu mực cho nhà cai trị.
Đối với Tử Cống một nhà biện luận, Khổng Tử trả lời: làm trước rồi nói sau.
2.14
【原文】
子曰:“君子周①而不比②,小人比而不周。”
【注释】
①周:合群。
②比:音bì,勾结。
③小人:没有道德修养的凡人。
Tử viết: "Quân tử chu nhi bất tỉ, tiểu nhân tỉ nhi bất chu".
Dịch
Khổng tử nói: Quân tử hợp quần chứ không câu kết. Tiểu nhân câu kết mà không hợp quần.
Dịch
Quân tử là người có bụng dạ rộng rãi kết hợp mọi người với nhau. Tiểu nhân là người chỉ muốn liên hệ những người mình thấy có lợi cho mình.
Trong ngôn ngữ của Khổng Tử, quân tử là người mẫu mực hoàn toàn, tiểu nhân là người thường tình. Sau này người ta dùng chữ tiểu nhân để chỉ kẻ xấu.
2.15
【原文】
子曰:“学而不思则罔①,思而不学则殆②。”
【注释】
①罔:迷惑、糊涂。
②殆;疑惑、危险。
Tử viết: Học nhi bất tư tắc võng, tư nhi bất học tắc đãi.
Dịch
Khổng tử nói: Học mà không suy nghĩ sẽ rối loạn, suy nghĩ mà không học sẽ mỏi mệt.
Bàn
Khổng Tử chỉ cho ta một cách học hành; vừa học vừa suy nghĩ; thiếu một thứ sẽ không tốt. Một người học giỏi mà không có hướng đi thì cũng chỉ là một công cụ; một người có chí hướng mà không học sẽ tốn thời gian vô ích tìm tòi những gì đã có sẵn.
2.16
【原文】
子曰:“攻①乎异端②,斯③害也已④。”
【注释】
①攻:攻击。有人将“攻”解释为“治”。不妥。
②异端:不正确的言论。另外、不同的一端。
③斯:代词,这。
④也已:这里用作语气词。
Tử viết: Công hồ dị đoan, tư hại dã dĩ.
Dịch

Khổng tử nói: Công kích những người khác ý mình, rất là có hại.

Bàn
Công kích người không có lập trường, ý kiến giống mình, sẽ dẫn đến những điều hại. Lão Tử cũng có nói: “Hòa đại oán tắc hữu dư oán, an khả dĩ vi thiện …”. Đã khác nhau rồi thì đường ai nấy đi, nhà ai nấy ở, mõ ai nấy gõ. Không có ích gì, ngược lại càng có hại khi công kích nhau.

2.17

【原文】
子曰:“由①,诲女②,知之乎?知之为知之,不知为不知,是知也。”
【注释】
①由:姓仲名由,字子路。生于公元前542年,孔子的学生,长期追随孔子。
②女:同汝,你。
Tử viết: Do, hối nhữ, tri chi hồ ? Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã.
Dịch
Khổng tử nói: Này Do, ta dạy ngươi, có hiểu này không ? Biết thì nói là biết, không biết thì nói không biết. Đó là biết vậy.
Bàn
Do tính Trọng tên là Do, sinh năm 542 trước Tây lịch, học trò của Khổng Tử, truy tùy Khổng Tử lâu năm.
Trọng Do là người hiếu động, làm việc rất mau lẹ, trong trường hợp này, có thể là cãi chày cãi cối với Khổng Tử hay sao, Khổng Tử giảng cho một bài “không biết thì dựa cột mà nghe”. Luận Ngữ có biên tải, Khổng Tử cũng có lần cười Trọng Do vì không biết nhường, cứ xồng xộc xông ra. Nếu mình không biết mà cứ xông ra nói thì sẽ mất đi cơ hội được nghe lời chính xác. Lão Tử cũng nói: “Tri bất tri thượng, bất tri tri bệnh …”; mình biết mình không biết là tốt nhất, trên đời này chẳng ai biết tất cả, phải học thôi.
2.18
子张①学干禄②,子曰:“多闻阙③疑④,慎言其余,则寡尤⑤;多见阙殆,慎行其余,则寡悔。言寡尤,行寡悔,禄在其中矣。”
【注释】
①子张:姓颛孙名师,字子张,生于公元前503年,比孔子小48岁,孔子的学生。
②干禄:干,求的意思。禄,即古代官吏的俸禄。干禄就是求取官职。
③阙:缺。此处意为放置在一旁。
④疑:怀疑。
⑤寡尤:寡,少的意思。尤,过错。
Tử Trương học can lộc, Tử viết: "Đa văn khuyết nghi, thận ngôn kỳ dư, tắc quả vưu; Đa kiến khuyết đãi, thận hành kỳ dư, tắc quả hối. Ngôn quả vưu, hành quả hối, lộc tại kỳ trung hĩ ".
Dịch
Tử Trương hỏi cách học cầu bổng lộc, Khổng tử nói: Nghe nhiều, bỏ điều nghi ngờ, cẩn thận nói phần còn lại, như thế ít sai lầm. Phải mắt nhìn nhiều, bỏ điều dở, cẩn thận làm điều còn lại, như vậy ít hối hận. Nói năng ít sai, làm ít hối hận thì bổng lộc nằm trong ấy rồi.
Bàn
Khổng Tử dạy học trò cách làm người quân tử để ra giúp dân, do đó ông không yếm ố làm quan (như Lão Tử) Tuy nhiên, ông chú trọng làm người quân tử hơn là làm ăn, và quan điểm của ông là cứ tập trung vào vai trò của mình thì đời sống mình sẽ tự có thứ khác lo cho nó. Thời nay khó mà thuyết phục người ta được chuyện này.
2.19
【原文】
哀公①问曰:“何为则民服?”孔子对曰②:“举直错诸枉③,则
民服;举枉错诸直,则民不服。”
①哀公:姓姬名蒋,哀是其谥号,鲁国国君,公元前494 ̄前468年在位。
②对曰:《论语》中记载对国君及在上位者问话的回答都用“对曰”,以表示尊敬。
③举直错诸枉:举,选拔的意思。直,正直公平。错,同措,放置。枉,不正直。
Lỗ Ai Công vấn viết: "Hà vi tắc dân phục?". Khổng tử đối viết: "Cử trực thố chư uổng, tắc dân phục; Cử uổng thố chư trực, tắc dân bất phục.".

Dịch
Lỗ Ai Công hỏi: Làm sao cho dân phục ?
Khổng tử đáp: Bổ nhiệm người ngay thẳng sửa kẻ ác, ắt dân phục. Dùng kẻ ác sửa người ngay thẳng thì dân không phục.
Bàn
Ai Công họ Cơ tên Tương, Ai là tước hiệu, là chư hầu nước Lỗ, sinh 494 trước Tây lịch, lên ngôi năm 468 trước Tây lịch.
Khổng Tử giải thích cách dùng người để cai trị. Dùng người ngay để trị người xấu. Người ngay là ai? Đó chính là quân tử, một người có đức tính nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
2.20
【原文】
季康子①问:“使民敬、忠以②劝③,如之何?”子曰:“临④之以庄,则敬;孝慈⑤,则忠;举善而教不能,则劝。”
【注释】
①季康子:姓季孙名肥,康是他的谥号,鲁哀公时任正卿,是当时政治上最有权势的人。
②以:连接词,与“而”同。
③劝:勉励。这里是自勉努力的意思。
④临:对待。
⑤孝慈:一说当政者自己孝慈;一说当政者引导老百姓孝慈。此处采用后者。
Quí Khang tử vấn: "Sử dân kính, trung dĩ khuyến, như chi hà ?".
Khổng tử viết: "Lâm chi dĩ trang, tắc kính; Hiếu từ, tắc trung; Cử thiện nhi giáo bất năng, tắc khuyến".
Dịch
Quí Khang tử hỏi: Để dân kính trọng, trung thành tự khuyến khích nhau thì làm sao ? Khổng tử đáp: Đối với họ trang trọng, dân sẽ kính mình; Hiếu và từ thì dân sẽ trung thành; Sử dụng người tốt và dạy dỗ người kém, dân chúng sẽ tự khuyến bảo nhau.
Bàn
Quý Khang Tử tính Quý tên là Phì, Khang là tước hiệu, là chính khanh của Lỗ Ai công, đương thời là kẻ quyền thế.
Khổng Tử đưa ra mấu chốt trong việc cai trị, muốn dân ra sao ra sao thì mình phải ra sao ra sao, mà tất cả đều cần những đức tính căn bản.
2.21
【原文】
或①谓孔子曰:“子奚②不为政?”子曰:“《书》③云:‘孝乎惟
孝,友于兄弟。’施于有政④,是亦为政,奚其为为政?”
【注释】
①或:有人。不定代词。
②奚:疑问词,相当于“为什么”。
③《书》:指《尚书》。
④施于有政:施:一作施行讲;一作延及讲。
Hoặc vi Khổng tử viết: Tử hề bất vi chính ?

Tử viết: Thư vân "Hiếu hồ duy hiếu, hữu ư huynh đệ”, thi ư hữu chính, thị diệc vi chính, hề kỳ vi vi chính ?"

Dịch
Có người hỏi Khổng tử: Sao Thầy không ra làm chính trị ?
Khổng tử đáp: Kinh Thượng Thư viết rằng "Ta chỉ thực hiện đạo hiếu, vui vầy với anh em. Phổ biến đạo ra chính trường, cũng là làm chính trị rồi, cứ gì phải làm mới gọi là làm chính trị ?".
Bàn
Thời của Khổng Tử loạn lạc, khó ra làm chính trị mà không bị tổn hại đến thân, do đó Khổng Tử chỉ còn cách làm chính trị gián tiếp, dạy kẻ chính trị. Hào trong quẻ Khôn: khoát nang, vô cựu. Không gặp thời thì xếp đồ lại, sẽ yên ổn thân, đạo thủ thân của người quân tử. Sau này người ta còn gọi Khổng Tử là ông vua không ngôi.
2.22
【原文】
子曰:“人而无信,不知其可也。大车无輗①,小车无軏②,其何以行之哉?”

Tử viết: "Nhân nhi vô tín, bất tri kỳ khả dã. Đại xa vô nghê, tiểu xa vô nghê, kỳ khả dĩ hành chi tai".
Dịch
Khổng tử nói: Người vô tín, chẳng biết sẽ làm được việc gì. Cỗ xe lớn không có chốt (hãm), cỗ xe nhỏ cũng không có chốt thì làm sao chạy được.
Bàn
Khổng Tử ví chữ tín như trục bánh xe, chỉ công việc, hoạt động thuận lợi, vân vân. Chữ tín đứng cuối các đức năng; Cũng như ”lợi thiệp đại xuyên” trong quẻ Truân, cần thiết nhưng không phải là đứng đầu.
2.23
子张问:“十世①可知也?”子曰:殷因②于夏礼,所损益③可知也;周因于殷礼,所损益可知也。其或继周者,虽百世,可知也。”
【注释】
①世:古时称30年为一世。也有的把“世”解释为朝代。
②因:因袭:沿用、继承。
③损益:减少和增加,即优化、变动之义。
Tử Trương vấn: "Thập thế khả tri dã ?"
Tử viết: "Ân nhân ư Hạ lễ, sở tổn ích khả tri dã; Chu nhân ư Ân lễ, sở tổn ích khả tri dã. Kỳ hoặc kế Chu giả, tuy bách thế, khả tri dã".
Dịch
Tử Trương hỏi: Có thể biết được (về lễ) 10 đời sau không ?
Khổng tử đáp: Nhà Ân dựa theo lễ nhà Hạ, bớt hay thêm có thể biết được. Nhà Chu theo lễ nhà Ân, thêm bớt có thể biết được. Tương lai nhà Chu hoặc kế tiếp, tuy trăm đời sau, cũng có thể biết được.
Bàn
Ta có thể thấy Khổng Tử không hề cố chấp phải giữ lấy quy chế phong tục, ông nghĩ chuyện thêm hay bớt là chuyện tự nhiên, cũng cùng một ý với câu “ôn cố nhi tri tân…”. Có điều ông cũng nghĩ, ít nhất cũng đợi ba năm muốn làm gì thì làm, vậy mới có hiếu; chữ hiếu được đem vào đây để giữ cho gia đình, xã hội không bị xáo trộn vì nóng nảy, mong muốn cải cách quá nhanh.
2.24
【原文】
子曰:“非其鬼①而祭之;谄②也。见义③不为,无勇也。”
【注释】
①鬼:有两种解释:一是指鬼神,二是指死去的祖先。这里泛指鬼神。
②谄:音chǎn ,谄媚、阿谀。
③义:人应该做的事就是义。

Tử viết: "Phi kỳ quỷ nhi tế chi, siểm dã. Kiến nghĩa bất vi, vô dũng dã".
Dịch
Khổng tử nói:
Không phải tổ tiên của mình mà lại cúng tế, đó là siểm nịnh. Thấy việc nghiã mà không làm, chẳng phải kẻ dũng.
Bàn
Can đảm (dũng) là đức tính mà ai cũng muốn có. Làm người (hay động vật, ngay cả cây cỏ) ai cũng biết sợ, sinh tồn ngay từ tế bào ra. Nhưng con người có khác với loài vật, ở chỗ, con người có thể đi ngược lại bản năng để làm những gì mình tin mình phải làm; hậu quả nếu không làm? Đối với người quân tử: là phủ nhận chính mình, và mất đi mục đích của đời sống; từ nay về sau, khỏi phải bàn tới chuyện làm người quân tử nữa. Đối với người thường: họ sẽ thấy mình không giá trị hơn súc vật, do đó sẽ tự coi thường mình; đã coi thường mình thì người khác họ còn nghĩ tới đâu. Cuộc sống của họ sẽ mất đi ý nghĩa.
Tại sao Khổng Tử đem chuyện “dũng” dính vào chuyện cúng tế? Có lẽ ông đang phê bình một người nào mà không nói ra. Câu trên chỉ ra một chuyện đã làm, câu dưới chỉ trích việc làm đó?

Vui lòng Đăng nhập để tham gia cuộc hội thoại.

Giang Hồ Kỳ Tình Lục chương 261 23 07 2020 14:23 #2

《滴天髓阐微》上篇第04章 知命
CHƯƠNG IV TRI MỆNH
________________________________________
要与人间开聋聩,顺逆之机须理会。
Yêu dữ nhân gian khai lung hội
Thuận nghịch chi cơ tu lý hội
【原注】不知命者如聋聩,知命于顺逆之机而能理会之,庶可以开天下之聋聩。
Nguyên chú: bất tri mệnh giả như lung hội, tri mệnh vu thuận nghịch chi cơ nhi năng lý hội chi, thứ khả dĩ khai thiên hạ chi lung hội.
【任氏曰】:
Nhâm thị viết:
此言有至理,惟恐后人学命,不究顺逆之机。妄谈人命,贻误不浅,混看奇格异局,一切神杀,荒唐取用,桃花咸池,专论女命邪淫,受责鬼神;金锁铁蛇,谬指小儿关煞,忧人父母;不论日主之衰旺,总以财官为喜,伤杀为憎,定人终身;不管日主之强弱,尽以食印为福,枭劫为殃,不知财官等名,为六亲取用而列,竟认作财可养命,官可荣身,何其愚也!如财可养命,则财多身弱者,不为富屋贫人,而成巨富;官可荣身,则身衰官重者,不至夭贱,而成显贵。
Thử ngôn hữu chí lý, duy khủng hậu nhân học mệnh, bất cứu thuận nghịch chi cơ. Vọng đàm nhân mệnh, di ngộ bất thiển, hỗn khán kỳ cách dị cuộc, nhất thiết thần sát, hoang đường thủ dụng, đào hoa hàm trì, chuyên luận nữ mệnh tà dâm, thụ trách quỹ thần; kim tỏa thiết xà, mậu chỉ tiểu nhi quan sát, ưu nhân phụ mẫu; bất luận nhật chủ chi suy vượng, tổng dĩ tài quan vi hỷ, thương sát vi tăng, định nhân chung thân; bất quản nhật chủ chi cường nhược, tận dĩ thực ấn vi phúc, kiêu kiếp vi ương, bất tri tài quan đẵng danh, vi lục thân thủ dụng nhi liệt, cánh nhận tác tài khả dưỡng mệnh, quan khả vinh thân, hà kỳ ngu dã! Như tài khả dưỡng mệnh, tắc tài đa thân nhược giả, bất vi phú ốc bần nhân, nhi thành cự phú; quan khả vinh thân, tắc thân suy quan trọng giả, bất chí yêu tặc, nhi thành hiển quý.
Dịch: Câu này có lý, chỉ sợ người sau học mệnh, không xét kỹ cơ thuận nghịch, nói sàm về mệnh cục, để lại sai lầm không ít, nhìn loạn kỳ cách dị cuộc, một dãy thần sát, lấy dùng bậy bạ, Đào Hoa, Hàm Trì thì nói đàn bà dâm đãng bị quỹ thần trách phạt; Kim Tỏa Thiết Xà thì nói bậy con nít bị quan sát, làm cha mẹ lo lắng; không kể nhật chủ suy vượng ra sao, cứ tài quan là tốt, thương sát là xấu, để phán đoán định mệnh người ta; bất kể nhật chủ cường nhược ra sao, cứ thực ấn là phúc, kiêu kiếp là tai ương, có biết những tên Tài Quan đó là đặt thay lục thân, lại đi cho là Tài có thể dưỡng mệnh, Quan có thể vinh thân, sao mà ngu quá! Nếu như Tài mà dưỡng mệnh được thì Tài đa Thân nhược đâu bị làm một kẻ bần cùng trong căn nhà sang trọng mà đã thành cự phú rồi; Nếu Quan mà vinh thân được thì Thân suy Quan nặng đâu đến nổi thành yêu tặc, mà đã thành hiển quý rồi.
余详考古书,子平之法,全在四柱五行。察其衰旺,究其顺悖,审其进退,论其喜忌,是谓理会。至于奇格异局,神煞纳音诸名目,乃好事妄造,非关命理休咎。若据此论命,必至以正为谬,以是为非,讹以传讹,遂使吉凶之理,昏昧难明矣。书云:“用之为财不可劫,用之为官不可伤,用之印绶不可坏,用之食神不可夺。”此四句原有至理,其要在一“用”字。无知学命者,不究“用”字根源,专以财官为重,不知不用财星尽可劫,不用官星尽可伤,不用印绶尽可坏,不用食神尽可夺。顺悖之机不理会,与聋聩何异,岂能论吉凶、辩贤否,而有功於世哉!反误世惑人者多矣!
Dư tường khảo cổ thư, Tử Bình chi pháp, toàn tại tứ trụ ngũ hành, sát kỳ suy vượng, cứu kỳ thuận bội, thẩm kỳ tiến thoái, luận kỳ hỷ kỵ, thị vị lý hội. Chí vu kỳ cách dị cuộc, thần sát nạp âm chư danh mục, nãi hiếu sự vọng tạo, phi quan mệnh lý hưu cữu. Nhược cứ thử luận mệnh, tất chí dĩ chính vi mậu, dĩ thị vi phi, ngoa dĩ truyền ngoa, toại sử cát hung chi lý, hôn muội nan minh hỷ. Thư vân: “Dụng chi vi tài bất khả kiếp, dụng chi vi quan bất khả thương, dụng chi ấn thụ bất khả hoại, dụng chi thực thần bất khả đoạt.” Thử tứ cú nguyên hữu chí lý, kỳ yếu tại nhất “dụng” tự. Bất tri học mệnh giả, bất cứu “dụng” tự căn nguyên, chuyên dĩ tài quan vi trọng, bất tri bất dụng tài tinh tận khả kiếp, bất dụng quan tinh tận khả thương, bất dụng ấn thụ tận khả hoại, bất dụng thực thần tận khả đoạt. Thuận bội chi cơ bất lý hội, dữ lung hội hà dị, khởi năng luận cát hung, nhi hữu công ư thế tai! Phản ngộ thế hoặc nhân giả đa hỷ!
Dịch: Ta tường khảo cổ thư, phép Tử Bình, toàn là dựa vào ngũ hành trong tứ trụ, xét suy vượng ra sao, xem kỹ thuận bội ra sao, nhìn rõ tiến thoái ra sao, luận hỷ kỵ ra sao, đấy mới chính là lý hội. Còn những thứ cách cuộc kỳ dị, thần sát nạp âm thì là do những người nhàn rỗi vọng tạo ra, không liên quan gì đến lành dữ của mệnh cục. Nếu cứ dùng đó mà luận mệnh thì sẽ cuối cùng là xem chính là tà, xem đúng là sai, trật truyền xuống trật, rốt cuộc làm cho cái lý của lành dữ mù mờ không rõ ràng hỷ. Thư nói: “Dụng làm Tài thì không được có Kiếp Tài cướp, dụng làm Quan thì không được có Thương Quan tổn thương, dụng làm ấn thụ thì không được có (Tài?) hoại, dụng làm Thực Thần thì không được có Hiêu Ấn đoạt.” Bốn câu này vốn rất chí lý, chỗ chính yếu là ở một chữ “dụng”. Không biết học mệnh lý, không xét kỹ chữ dụng căn nguyên ở đâu, chỉ đặt nặng Tài Quan, không biết là không dụng Tài vì bị cướp hết, không dụng Quan vì bị tổn thương, không dụng Ấn Thụ, vì bị hoại, không dụng Thực Thần vì bị đoạt. Cơ thuận nghịch không biết lý hội, có khác gì với người điếc, làm sao có thể ngồi bàn luận lành dữ, có công với nhân thế! Ngược lại làm hư làm hoặc thế nhân thì có!
高宗纯皇帝御造:
八字:辛卯 丁酉 庚午 丙子
大运:丙申 乙未 癸巳 壬辰 庚寅 己丑 戊子 丁亥  
Cao Tông Thuần hoàng đế ngự tạo:
Bát Tự:
Tân Đinh Canh Bính
Mão Dậu Ngọ Tý
Đại vận:
Bính Ất Giáp Quý NhâmTân Canh Kỷ Mậu Đinh
Thân Mùi Ngọ Tỵ Thìn Mão Dần Sửu Tý Hợi
天干庚辛丙丁,正配火炼秋金;地支子午卯酉,又配坎离震兑。支全四正,气贯八方,然五行无土,虽诞秋令,不作旺论。最喜子午逢冲,水克火,使午火不破酉金,足以辅主;更妙卯酉逢冲,金克木,则卯木不助午火,制伏得宜。卯酉为震兑,主仁义之真极;子午为坎离,宰天地之中气。且坎离得日月之正体,无消无灭,一润一暄,坐下端门,水火既所以八方宾服,四海攸同,金马朱鸢,并隶版图之内,白狼玄兔,咸归覆帱之中,天下熙宁也。 
Thiên can Canh Tân Bính Đinh, chính phối hỏa luyện thu kim; địa chi Tý Ngọ Mão Dậu, hựu phối Khảm Ly Chấn Đoài. Chi toàn tứ chính, khí quán bát phương, nhiên ngũ hành vô thổ, tuy đản thu lệnh, bất tác vượng luận. Tối hỷ Tý Ngọ phùng xung, thủy khắc hỏa, sử Ngọ hỏa bất phá Dậu kim, túc dĩ phụ chủ; cánh diệu Mão Dậu phùng xung, kim khắc mộc, tắc Mão mộc bất trợ Ngọ hỏa, chế phục đắc nghi. Mão Dậu vi Chấn Đoài, chủ nhân nghĩa chi chân cực; Tý Ngọ vi Khảm Ly, tể thiên địa chi trung khí. Thả Khảm Ly đắc nhật nguyệt chi chính thể, vô tiêu vô diệt, nhất nhuận nhất huyên, tọa hạ đoan môn, thủy hỏa ký tế. Sở dĩ bát phương tân phục, tứ hải du đồng, kim mã châu diên, tịnh đãi bản đồ chi nội, bạch lang huyền thố, hàm quy phúc trù chi trung, thiên hạ hy ninh dã.
Dịch: Thiên can là Can Tân Bính Đinh, đúng với nguyên tắc hỏa luyện kim mùa thu; địa chi Tý Ngọ Mão Dậu lại phối với Khảm Ly Chấn Đoài. Địa chi toàn bộ tứ chính, khí quán tám phương, nhưng trong ngũ hành không có thổ, tuy là được Dương Nhẫn với nguyệt lệnh, nhưng không bàn vượng suy. Hay nhất là Tý Ngọ xung nhau, thủy khắc hỏa, làm Ngọ không phá Dậu Kim, Dậu Kim đủ sức bang trợ nhật chủ; lại còn diệu hơn nữa là Mão Dậu xung nhau, kim khắc mộc làm cho mộc không trợ được hỏa, chế phục đúng độ. Mão Dậu làm Chấn Đoài, chủ ở chân cực nhân nghĩa; Tý Ngọ làm Khảm Ly chủ tể trung khí của trời đất. Với nữa, Khảm Ly có chính thể của trời trăng, không mất không hủy, một bên tươi mát một bên ấm áp, ngồi chính giữa, thủy hỏa đều có đủ. Do đó mà tám phương lại thần phục, bốn bể an vui, Kim Mã, Châu Diên ở hết trong bản đồ, Bạch Lang, Huyền Thố quy về trong màn phúc trạch, thiên hạ thái bình.
八字:庚申 庚辰 戊辰 戊午  
大运:辛巳 壬午 癸未 甲申 乙酉 丙戌 丁亥 戊子  
Bát tự:
Canh Canh Mậu Mậu
Thân Thìn Thìn Ngọ
Đại vận:
Tân Nhâm Quý Giáp Ất Bính Đinh Mậu
Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý
董中堂造,日干戊土,生于季春午时,似乎旺相,第春时虚土,非比六九月之实也。且两辰蓄水为湿,足以泄火生金,干透两庚,支会申辰,日主过泄,用神必在午火。喜水木不见,日主印绶不伤,精神旺足,纯粹中和。一生宦海无波,三十余年太平相业,直至子运会水局不禄,寿已八旬矣。  
Đổng Trung Đường tạo, nhật can Mậu thổ, sinh vu Quý Xuân Ngọ thời, tựa hồ vượng tướng, đệ xuân thời hư thổ, phi tỷ lục cửu nguyệt chi thực dã. Thả lưỡng Thìn súc thủy vi thấp, túc dĩ tiết hỏa sinh kim, can thấu lưỡng Canh, chi hội Thân Thìn, nhật chủ quá tiết, dụng thần tất tại Ngọ hỏa. Hỷ thủy mộc bất kiến, nhật chủ ấn thụ bất thương, tinh thần vượng túc, thuần túy trung hòa. Nhất sinh hoạn hải vô ba, tam thập dư niên thái bình tướng nghiệp, trực chí Tý vận hội thủy cục bất lộc, thọ dĩ bát tuần hỷ.
Dịch: Mệnh của Đổng Trung Đường, nhật can là Mậu thổ, sinh tháng quý xuân giờ Ngọ, tựa hồ vượng tướng, cuối xuân thổ hư, không thực như tháng 6 tháng 9. Với lại 2 Thìn chứa thủy làm ẩm, đủ để tiết hỏa và thổ sinh được kim, can thấu 2 Canh, chi hội Thân Thìn thành thủy, nhật chủ thổ bị tiết chế, dụng thần phải là Ngọ hỏa. May sao thủy mộc không nhiều, nhật chủ và ấn thụ (dụng thần) không bị khắc, tinh thần vượng đủ, trung hòa thuần túy. Một đời con đường quan hoạn không có sóng gió, 30 năm hơn làm tướng thái bình, cho đến vận Tý có Thân Tý Thìn hợp thủy khắc Dụng thần không lộc, thọ 80 tuổi.
八字:辛酉 辛丑 己酉 丙寅  
大运:壬寅 癸卯 甲辰 乙巳 丙午 丁未 戊申 己酉  
Bát tự:
Tân Tân Kỷ Bính
Dậu Sửu Dậu Dần
Đại vận:
Nhâm Quý Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ
Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu
此造与上造异曲同工之妙,日干己土,虽诞丑月,然冬土寒湿,非比六九月之温煦。且丑中蓄水含金,干透两辛,支会丑酉,日主过泄,用神必在丙火。喜时中寅木,九寒回阳,丙火有根。人极纤美灵秀,早运壬癸,书香有阻,将来巳午未南方火地,前程未可限量。(新增)  
Thử tạo dữ thượng tạo dị khúc đồng công chi diệu, nhật can Kỷ thổ, tuy đản Sửu nguyệt, nhiên đông thổ hàn thấp, phi tỷ lục cửu nguyệt chi uẩn hú. Thả Sửu trung súc thủy hàm kim, can thấu lưỡng Tân, chi hội Dậu Sửu, nhật chủ quá tiết, Dụng thần tất tại Bính hỏa. Hỷ thời trung Dần mộc, cửu hàn hồi dương, Bính hỏa hữu căn. Nhân cực tiêm mỹ linh tú, tảo vận Nhâm Quý, thư hương hữu trở, tương lai Tỵ Ngọ Mùi nam phương hỏa địa, tiền trình vị khả hạn lượng.
Dịch: Mệnh này cùng mệnh trên có chỗ hay là khác hình thể mà cùng một công hiệu, nhật can Kỷ thổ, tuy có lộc ở tháng Sửu, nhưng thổ mùa đông ẩm ướt, không phải ấm áp như thổ tháng 6 tháng 9. Với lại Sửu chứa thủy lại có kim, can thấu 2 Tân, chi Dậu Sửu bán hợp cục kim, nhật chủ bị kim tiết nhiều quá, Dụng thần phải là Bính hỏa. May mà Dần mộc ở trụ giờ, là trường sinh của hỏa, Bính hỏa có căn. Người nhỏ nhắn thanh tú, vận ban đầu Nhâm Quý, chuyện học hành bị trở ngại, tương lai vận Tỵ Ngọ Mùi phía nam đất của hỏa, tiền trình không thể hạn lượng.
八字:壬辰 壬寅 甲寅 庚午  
大运:癸卯 甲辰 乙巳 丙午 丁未 戊申 己酉 庚戌 
Bát tự:  
Nhâm Nhâm Giáp Canh
Thìn Dần Dần Ngọ
Đại vận:
Quý Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh
Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất
同邑王姓造。俗以身强杀浅论,取庚金为用,谓春木逢金,必作栋梁之器,劝其读书必发;至三旬外,不但读书未售,而且家业渐销,嘱余推之。观其支坐两寅,乘权当令,干透两壬,生助旺神,年支之辰土,乃水之库,木之余气,能蓄水养木,不能生金,一点庚金,休囚已极,且午火敌之,壬水泄之,不惟无用,反为生水之病。大凡旺之极者,宜泄而不宜克,宜顺其气势,弗悖其性也。以午火为用,将来运至火地,虽不贵于名,定当富于利,如再守芸窗,终身误矣。彼即弃儒就经营,至丙午运,克尽庚金之病,不满十年,发财十余万,则庚金为病明矣。  
Đồng ấp Vương tính tạo. Tục dĩ thân cường sát thiển luận, thủ Canh kim vi dụng, vị xuân mộc phùng kim, tất tác đống lương chi khí, khuyến kỳ độc thư tất phát; chí tam tuần ngoại, bất đản độc thư vị thụ, nhi thả gia nghiệp tiệm tiêu, thuộc dư thôi chi. Quan kỳ chi tọa lưỡng Dần, thừa quyền đương lệnh, can thấu lưỡng Nhâm, sinh trợ vượng thần, niên chi chi Thìn thổ, nãi Thủy chi khố, mộc chi dư khí, năng súc thủy dưỡng mộc, bất năng sinh Kim, nhất điểm Canh kim, khốn tù dĩ cực, thả Ngọ hỏa địch chi, Nhâm thủy tiết chi, bất duy vô dụng, phản vi sinh thủy chi bệnh. Đại phàm vượng chi cực giả, nghi tiết nhi bất nghi khắc, nghi thuận kỳ khí thế, phật bội kỳ tính dã. Dĩ Ngọ hỏa vi Dụng, tương lai vận chí hỏa địa, tuy bất quý vu danh, định đương phú vu lợi, như tái thủ vân song, chung thân ngộ hỷ. Bĩ tức khí nho tựu kinh doanh, chí Bính Ngọ vận, khắc tận Canh Kim chi bệnh, bất mãn thập niên, phát tài thập dư vạn, tắc Canh kim vi bệnh minh hỷ.
Dịch: Mệnh của người đồng ấp họ Vương. Người ta luận mệnh dùm, nói thân cường sát nhược, lấy Canh kim làm Dụng thần, gọi là mộc mùa xuân gặp kim dũa mài, sẽ học thành tài lương đống, khuyên chọn đường học hành sẽ tốt; tới ngoài 30, không những đọc sách không vào, mà gia nghiệp ngày càng sa sút, nhờ ta xem dùm. Xem địa chi có 2 Dần, một Dần đương lệnh, can thấu 2 Nhâm sinh trợ vượng mộc, chi năm có Thìn thổ là khố của thủy, dư khí mộc, có thể giữ thủy nuôi mộc nhưng không thể sinh Kim, một Canh kim bị tù một góc, lại có Ngọ hỏa khắc, Nhâm thủy tiết, không những vô dụng, ngược lại còn thêm cái bệnh sinh thủy. Phàm là ngũ hành quá vượng, thì nên tiết không nên khắc, nên thuận theo khí thế của nó đừng đi ngược với tính của nó. Lấy Ngọ hỏa làm Dụng thần, tương lai vận đến đất hỏa, tuy không được quý ở danh, nhất định là có phú ở lợi, như cứ giữ chuyện đọc sách, chung thân sẽ bị nhỡ ngộ. Người đó bèn lập tức bỏ đương học (Nho) đi làm ăn buôn bán, đến vận Bính Ngọ, khắc hết bệnh của Canh kim, không đầy 10 năm, phát tài hơn mười vạn, rõ ràng Canh kim làm bệnh nhĩ.
八字:癸酉 甲子 癸亥 辛酉  
大运:癸亥 壬戌 辛酉 庚申 己未 戊午 丁巳 丙辰  
Bát tự:
Quý Giáp Quý Tân
Dậu Tý Hợi Dậu
Đại vận:
Quý Nhâm Tân Canh Kỷ Mậu Đinh Bính
Hợi Tuất Dậu Thân Mùi Ngọ Tỵ Thìn
此福建人不知姓氏,庚午冬,余推之,大取金水运,不取火土。彼曰:金水旺极,何以又取金水?则命书不足凭乎?书曰:“旺则宜泄宜伤”,今满局金水,反取金水,是命书无凭矣。余曰:命书何为无凭?皆因不能识命中五行之奥妙耳。此造水旺逢金,其势冲奔,一点甲木枯浮,难泄水气,如止其流,反成水患,不若顺其流为美。初运癸亥,助其旺神,荫庇有余;一交壬戌,水不通根,逆其气势,刑耗并见;辛酉庚申,丁财并旺;己未戊午,逆其性,半生事业,尽付东流,刑妻克子,孤苦无依。此所谓“昆仑之水,可顺而不可逆也”。顺逆之机,不可不知也。
Thử Phúc Kiến nhân bất tri tính thị, Canh Ngọ đông, dư thôi chi, đại thủ kim thủy vận, bất thủ hỏa thổ. Bĩ viết: kim thủy vượng cực, hà dĩ hựu thủ kim thủy? Tắc mệnh thư bất túc bằng hồ? Thư viết: “Vượng tắc nghi tiết nghi thương”, kim mãn cuộc kim thủy, phản thủ kim thủy, thị mệnh thư vô bằng hỷ. Dư viết: Mệnh thư hà vi vô bằng? Giai nhân bất năng thức mệnh trung ngũ hành chi áo diệu nhĩ. Thử tạo thủy vượng phùng kim, kỳ thế xung bôn, nhất điểm Giáp mộc khô phù, nan tiết thủy khí, như chỉ kỳ lưu, phản thành thủy hoạn, bất nhược thuận kỳ lưu vi mỹ. Sơ vận Quý Hợi, trợ kỳ vượng thần, ấm tí hữu dư; nhất giao Nhâm Tuất, thủy bất thông căn, nghịch kỳ khí thế, hình háo tịnh kiến; Tân Dậu, Canh Thân, Đinh tài (ấn và thân) tịnh vượng; Kỷ Mùi, Mậu Ngọ, nghịch kỳ tính, bán sinh sự nghiệp, tận phó đông lưu, hình thê khắc tử, cô khổ vô y. Thử sở vị “Côn Luân chi thủy, khả thuận nhi bất khả nghịch dã”. Thuận nghịch chi cơ, bất khả bất tri dã.
Dịch: Đây là người Phúc Kiến không biết họ tên, mùa đông Canh Ngọ, ta đoán mệnh cho, nắm lấy kim thủy làm Dụng, không lấy hỏa thổ. Họ hỏi: kim thủy quá vượng, tại sao lai lấy kim thủy làm Dụng? Như vậy là sách mệnh không dựa vào được chăng? Sách nói: “Vượng thì nên tiết nên khắc”, bây giờ tứ trụ đầy kim thủy, ngược lại đi lấy kim thủy làm Dụng, là sách thư không tin được. Ta đáp: Sách mệnh làm sao không tin được? Bởi vì người ta không biết chỗ ảo diệu trong ngũ hành thế thôi. Mệnh này thủy vượng lại gặp kim, thế rất mãnh bão, một Giáp nhỏ nhoi trôi trên nước, khó mà tiết được thủy khí, như chặn nước chảy, sẽ ngược lại gây thủy hoạn, không bằng thuận theo nước chảy là hay nhất. Vận ban đầu là Quý Hợi trợ vượng thần, cuộc sống ấm cúng đầy đủ; một khi tới Nhâm Tuất, thủy không thông căn, nghịch với thế vượng thủy, bị hình bị hao đều đến; Tân Dậu, Canh Thân ấn và thân vượng; Kỷ Mùi, Mậu Ngọ, nghịch tính kim thủy, sự nghiệp nửa đời trôi theo giòng nước, hình vợ khắc con, một mình bơ vơ. Đấy gọi là “nước giòng Côn Luân, chỉ thuận theo không thể nghịch lại” vậy. Cơ thuận nghịch, không thể không biết hỷ.

Vui lòng Đăng nhập để tham gia cuộc hội thoại.

Giang Hồ Kỳ Tình Lục chương 261 22 07 2020 13:34 #3

Mình lại chạy qua một đề tài nữa là Bát Tự. Mua cuốn Trích Thiên Tủy dịch sang tiếng Việt, thấy dịch khó hiểu mà trật nữa, mình cũng đang học nên tải xuống bằng tiếng Tàu để đọc cho kỹ, luôn tiện dịch ra cho các bạn ai thích thì cứ xem và bàn.
Sách này xem bạn là người đã học qua về bát Tự, bây giờ muốn đi sâu vào tinh túy, do đó là tên của sách.
Mình chép xuống chữ Hán và Hán Việt. Mình chỉ dịch lại tiếng Việt của Nhâm thị, là người đã chú giải cuốn Trích Tinh Tủy.
Tác giả người ta cho là Kinh Đồ thời nhà Minh, người chú là Nhâm Thiết Tiều thời nhà Thanh.

《滴天髓阐微》上篇第01章 天道
CHƯƠNG 1 THIÊN ĐẠO
________________________________________
欲识三元万法宗,先观帝载与神功。
Dục thức tam nguyên vạn pháp tông
Tiên quan đế tái dữ thần công
【原注】天有阴阳,故春木、夏火、秋金、冬水、季土,随时显其神功,命中天地人三元之理,悉本于此。
Nguyên chú: Thiên hữu âm dương, cố xuân mộc, hạ hỏa, thu kim, đông thủy, quý thổ, tùy thời hiển kỳ thần công, mệnh trung thiên địa nhân tam nguyên chi lý, tất bản vu thử.
【任氏曰】:
干为天元,支为地元,支中所藏为人元。人之禀命,万有不齐,总不越此三元之理,所谓万法宗也。阴阳本乎太极,是谓帝载,五行播于四时,是谓神功,乃三才之统系,万物之本原。《滴天髓》首明天道如此。
Nhâm thị viết: Can vi thiên nguyên, chi vi địa nguyên, chi trung sở tàng vi nhân nguyên. Nhân chi bẩm mệnh, vạn hữu bất tề, tổng bất việt thử tam nguyên chi lý, sở vị vạn pháp tông dã. Âm dương bản hồ thái cực, thị vị đế tái, ngũ hành bá vu tứ thời, thị vị thần công, nãi tam tài chi thống hệ, vạn vật chi bản nguyên. “Trích Thiên Tủy” thủ minh thiên đạo như thử.
Dịch: Can là thiên nguyên, Chi là địa nguyên, ngũ hành tàng trong Chi là nhân nguyên. Mệnh vốn có của người, hàng vạn không giống nhau, nhưng không qua lý lẽ của tam nguyên, gọi là vạn pháp tông (nguồn của vạn pháp). Âm dương gốc từ thái cực, gọi là đế tái, ngũ hành phát ra bốn mùa, gọi là thần công, chính là hệ thống tam tài, nguồn gốc của vạn vật. Trích Thiên Tủy trước tiên nói rõ thiên đạo là thế này.

《滴天髓阐微》上篇第02章 坤道
CHƯƠNG II KHÔN ĐẠO
________________________________________
坤元合德机缄通,五气偏全定吉凶。
Khôn nguyên hợp đức cơ giam thông
Ngũ khí thiên toàn định cát hung
【原注】地有刚柔,故五行生于东南西北中,与天合德,而感其机缄之妙。赋于人者,有偏全之不一,故吉凶定于此。
Nguyên chú: Địa hữu cương nhu, cố ngũ hành sinh vu đông nam tây bắc trung, dữ thiên hợp đức, nhi cảm kỳ cơ giam chi diệu. Phú vu nhân giả, hữu thiên toàn chi bất nhất, cố cát hung định vu thử.
【任氏曰】:
“大哉乾元,万物资始”,“至哉坤元,万物资生”,乾主健,坤主顺。顺以承天,德与天合;煦蕴覆育,机缄流通。特五行之气有偏全,故万物之命有吉凶。
Nhâm thị viết: “Đại tai càn nguyên, vạn vật tư thủy”, “Chí tai khôn nguyên, vạn vật tư sinh”, càn chủ kiện, khôn chủ thuận. Thuận dĩ thừa thiên, đức dữ thiên hợp; hú uẩn phúc dục, cơ giam lưu thông, đặc ngũ hành chi khí hữu thiên toàn, cố vạn vật chi mệnh hữu cát hung.
Dịch: Dịch nói: “Lớn thay đức Càn, nguồn gốc vạn vật”, “Đạt thay đức Khôn, nuôi dưỡng vạn vật”, Càn chủ ở kiện, Khôn chủ ở thuận. Thuận là để đi theo đạo trời, đức Khôn hợp với trời; ấm áp bảo bọc, lý của đạo lưu thông, còn khí của ngũ hành thì có khi lệch khi chu toàn, do đó mà mệnh của vạn vật có khi lành có khi dữ.

《滴天髓阐微》上篇第03章 人道
CHƯƠNG III NHÂN ĐẠO
________________________________________
戴天覆地人为贵,顺则吉兮凶则悖。
Đái thiên phú địa nhân vi quý, thuận tắc cát hề hung tắc bội
【原注】万物莫不得五行而戴天履地,惟人得五行之全,故为贵。其有吉凶之不一者,以其得于五行之顺与悖也。
Nguyên chú: Vạn vật mạc bất đắc ngũ hành nhi đái thiên phú địa, duy nhân đắc ngũ hành chi toàn, cố vi quý. Kỳ hữu cát hung chi bất nhất giả, dĩ kỳ đắc vu ngũ hành chi thuận dữ bội dã.
【任氏曰】:
Nhâm thị viết:
人居覆载之中,戴天履地,八字贵乎天干地支顺而不悖也。顺者接续相生,悖者反克为害,故吉凶判然。如天干气弱,地支生之,地支神衰,天干辅之,皆为有情而顺则吉;如天干衰弱,地支抑之,地支气弱,天干克之,皆为无情而悖则凶也。假如干是木,畏金之克,地支有亥子生之;支无亥子,天干有壬癸以化之;干无壬癸,地支有寅卯以通根;支无寅卯,天干有丙丁以制之,木有生机,吉可知矣。若天干无壬癸,而反透之以戊己;支无亥子寅卯,而反加之以辰戌丑未申酉,党助庚辛之金,木无生理,凶可知矣。馀可类推。
Nhân cư phú đái chi trung, đái thiên phú địa, bát tự quý hồ thiên can địa chi thuận nhi bất bội dã. Thuận giả tiếp tục tương sinh, bội giả phản khắc vi hại, cố cát hung phán nhiên. Như thiên can khí nhược, địa chi sinh chi, địa chi thần suy, thiên can phụ chi, giai vi hữu tình nhi thuận tắc cát; như thiên can suy nhược, địa chi ức chi, địa chi khí nhược, thiên can khắc chi, giai vi vô tình nhi bội tắc hung dã. Giả như can thị mộc, úy kim chi khắc, địa chi hữu Hợi Tý sinh chi; chi vô Hợi Tý, thiên can hữu Nhâm Quý dĩ hóa chi; can vô Nhâm Quý, địa chi hữu Dần Mão dĩ thông căn; chi vô Dần Mão, thiên can hữu Bính Đinh dĩ chế chi, mộc hữu sinh cơ, cát khả tri hỷ. Nhược thiên can vô Nhâm Quý, nhi phản thấu chi dĩ Mậu Kỷ; chi vô Hợi Tý Dần Mão nhi phản gia chi dĩ Thìn Tuất Sửu Mùi Thân Dậu, đảng trợ Canh Tân chi kim, mộc vô sinh lý, hung khả tri hỷ, dư khả loại suy.
Dịch: Người ta ở giữa che và chở, trời che đất chở, bát tự quý ở chỗ thiên can và địa chi thuận mà không bội nhau. Thuận thì tiếp tục tương sinh, bội thì ngược lại khắc nhau làm hại, do đó mà lành hoặc dữ thấy rõ. Như thiên can khí nhược, có địa chi sinh nó, địa chi yếu đuối, có thiên can bang trợ, đều là hữu tình mà thuận do đó lành; như thiên can suy nhược, địa chi lại áp ức nó, địa chi khí nhược, thiên can lại khắc nó, đều là vô tình mà bội nhau do đó mà dữ. Giả như thiên can là mộc, sợ kim khắc nó, địa chi có Hợi Tý sinh nó; không có thì thiên can có Nhâm Quý hóa bớt kim; thiên can không có Nhâm Quý, địa chi có Dần Mão để thông căn; chi không có Dần Mão thì thiên can có Bính Đinh để chế bớt kim, mộc có sinh cơ, lành có thể biết hỷ. Nếu thiên can không có Nhâm Quý, ngược lại thấu Mậu Kỷ; chi không có Hợi Tý Dần Mão ngược lại có Thìn Tuất Sửu Mùi Thân Dậu, bè đảng với kim của Can và Tân, mộc không có đường sống, dữ có thể thấy hỷ, ta có thể suy ra được.
凡物莫不得五行,戴天履地,即羽毛鳞蚧,亦各得五行专气而生,如羽虫属火,毛属木,鳞属金,蚧属水。惟人属土,土居中央,乃木火金水中气所成,独是五行之全,为贵。是以人之八字,最宜四柱流通,五行生化;大忌四柱缺陷,五行偏枯。谬书妄言四戊午者,是圣帝之造,四癸亥者,是张桓侯之造,究其理皆后人讹传。
Phàm vật mạc bất đắc ngũ hành, đái thiên phú địa, tức vũ mao lân giới, diệc các đắc ngũ hành chuyên khí nhi sinh, như vũ trùng thuộc hỏa, mao thuộc mộc, lân thuộc kim, giới thuộc thủy. Duy nhân thuộc thổ, thổ cư trung ương, nãi mộc hỏa kim thủy trung khí sở thành, độc thị ngũ hành chi toàn, vi quý. Thị dĩ nhân chi bát tự, tối nghi tứ trụ lưu thông, ngũ hành sinh hóa; đại kỵ tứ trụ khuyết hãm, ngũ hành thiên khô. Mậu thư vọng ngôn tứ Mậu Ngọ giả, thị thành đế chi tạo, tứ Quý Hợi giả, thị Trương Hoàn Hầu chi tạo, cứu kỳ lý giai hậu nhân ngoa truyền.
Dịch: Phàm vật thứ gì cũng có ngũ hành, trời đất che chở, ngay cả loài động vật vũ mao lân giới, đều có một ngũ hành riêng khi sinh ra, như vũ (loài chim) thì thuộc hỏa, mao (loài có lông) thuộc mộc, loài có vảy thuộc kim, loài bò sát thuộc thủy. Chỉ có người là thuộc thổ, thổ ở trung ương, là khí tạo thành bởi mộc hỏa kim thủy, đầy đủ ngũ hành làm quý. Do đó bát tự của con người cần nhất là tứ trụ lưu thông, ngũ hành sinh và hóa; đại kỵ tứ trụ thiếu thốn hoặc méo mó, ngũ hành khô khan lệch lạc. Sách bại hoại nói xàm mệnh tứ trụ đều là Mậu Ngọ là mệnh của thành nhân đế vương, mệnh tứ trụ đều là Quý Hợi là mệnh của Trương Hoàn Hầu (Trương Phi), nói cho cùng đều là lời ngoa truyền của người sau này.
余行道以来,推过四戊午、四丁未、四癸亥、四乙酉、四辛卯、四庚辰、四甲戌者甚多,皆作偏枯论,无不应验。同邑史姓者有四壬寅者,寅中火土长生,食神禄旺,尚有生化之忣,而妻财子禄,不能全美,只因寅中火土之气,无从引出,以致幼遭孤苦,中受饥寒;至三旬外,运转南方,引出寅中火气,得际遇,经营发财;后竟无子,家业分夺一空。可知仍作偏枯论也。由此观之,命贵中和,偏枯终于有损;理求平正,奇异不足为凭。
Dư hành đạo dĩ lai, thôi quá tứ mậu ngọ, tứ đinh mùi, tứ quý hợi, tứ ất dậu, tứ tân mão, tứ canh thìn, tứ thân tuất giả thậm đa, giai tác thiên khô luận, vô bất ứng nghiệm. Đồng ấp Sử tính giả hữu tứ nhâm dần giả, dần trung hỏa thổ trường sinh, thực thần lộc vượng, thượng hữu sinh hóa chi cực, nhi thê tài tử lộc, bất năng toàn mỹ, chỉ nhân dần trung hỏa thổ chi khí, vô tòng dẫn xuất, dĩ trí ấu tào cô khổ, trung thụ cơ hàn; chí tam tuần ngoại, vận chuyển nam phương, dẫn xuất dần trung hỏa khí, đắc tế ngộ, kinh doanh phát tài; hậu cánh vô tử, gia nghiệp phân đoạt nhất không. Khả tri nhưng tác thiên khô luận dã. Do thử quan chi, mệnh quý trung hòa, thiên khô chung vu hữu tổn; lý cầu bình chính, kỳ dị bất túc vi bằng.
Dịch: Tôi suy bát tự tới giờ, đã tứng suy qua rất nhiều tứ mậu ngọ, tứ đinh mùi, tứ quý hợi, tứ ất dậu, tứ tân mão, tứ canh thìn, tứ thân tuất, đều lấy đặc tính thiên khô bàn luận, không có gì là không ứng nghiệm. Người đồng ấp họ Sử mệnh có bốn trụ Nhâm Dần, Hỏa Thổ trường sinh ở Dần, Thực Thần mộc vượng, còn có Nhâm thủy phía trên sinh hoóa ới nhau, nhưng vợ con tài phú đều không có gì cả, chỉ vì khí hỏa trong Dần không có chỗ dẫn ra, đến nổi, còn nhỏ bị mồ côi khổ cực, lớn lên bị đói lạnh; tới 30 tuổi ngoài, đi về miền nam, dẫn ra được khí hỏa trong Dần, được hoàn cảnh ưu ngộ, kinh doanh phát tài; nhưng sau này cũng không có con cái, gia nghiệp cũng bị phân tán không còn gì cả. Mới biết vẫn là dùng đặc tính thiên khô suy mệnh. Thế mới thấy, mệnh quý là ở trung hòa, thiên khô rốt cuộc vẫn là tổn hại; lý ở bình hòa trung chính, kỳ dị không đủ bằng cớ là hay là tốt.

Vui lòng Đăng nhập để tham gia cuộc hội thoại.

Giang Hồ Kỳ Tình Lục chương 261 16 07 2020 13:04 #4

Mấy hôm nay bị các thứ khác xâm chiếm vào thời gian. Mình chợt nghĩ, trong lúc chờ đợi, mình đem mấy đoạn chú giải Luận Ngữ lên chia xẻ với mọi người, nhiều khi lại có vài câu luận bàn cho qua ngày đoạn tháng. Xin nói trước, đây là do mình soạn ra, ý có thể khác và sai lầm, nhưng là ý của mình; mình nhắn mọi người đọc như nói chuyện với chính mình, có gì để chia xẻ thì xin bỏ thêm vào.
Bố cục như sau:
1. Nguyên văn tiếng Hán (lấy trên Internet)
2. Chú dịch tiếng Hán (lấy trên Internet, có thể sai lầm)
3. Dịch ra chữ Hán Việt (mình lấy nguồn ở vietnamtudien.org/hanviet/ )
4. Dịch chứ Quốc ngữ (mình dịch ra they ý mình hiểu)
5. Lời bàn của mình

THIÊN I
1 学⽽ Học nhi
1.1

【原文】
子曰①:“学②而时习③之,不亦说④乎?有朋⑤自远方来,不亦 乐⑥乎?人不知⑦,而不愠⑧,不亦君子⑨乎?”
【注释】
①子:中国古代对于有地位、有学问的男子的尊称,有时也泛称男子。《论语》书中“子曰”的子,都是指孔子而言。
②学:孔子在这里所讲的“学”,主要是指学习西周的礼、乐、诗、书 等传统文化典籍。
③时习:在周秦时代,“时”字用作副词,意为“在一定的时候”或者
“在适当的时候”。但朱熹在《论语集注》一书中把“时”解释为“时常”。
“习”,指演习礼、乐;复习诗、书。也含有温习、实习、练习的意思。
④说:音yuè,同悦,愉快、高兴的意思。
⑤有朋:一本作“友朋”。旧注说,“同门曰朋”,即同在一位老师门下 学习的叫朋,也就是志同道合的人。
⑥乐:与说有所区别。旧注说,悦在内心,乐则见于外。
⑦人不知:此句不完整,没有说出人不知道什么。缺少宾语。一般而言,知,是了解的意思。人不知,是说别人不了解自己。
⑧愠:音yùn,恼怒,怨恨。
⑨君子:《论语》书中的君子,有时指有德者,有时指有位者。此处指 孔子理想中具有高尚人格的人。

Tử viết: Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ ?
Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ ?
Nhân bất tri nhi bất uấn, bất diệc quân tử hồ ?
Dịch
Khổng tử nói: Học rồi luyện tập, chẳng vui lắm sao ?
Có bạn từ nơi xa đến thăm, chẳng mừng lắm sao?
Người chẳng hiểu ta mà ta không oán giận, thế chẳng phải người quân tử ư ?
Bàn
Trong Luận Ngữ có dẫn giải Khổng Tử hồi nhỏ tập Lễ rất chuyên cần, miệt mài với Nhạc có lần tới mấy ngày, ông có vẻ là người học hành đi đôi, học cần hành và hành làm sự học vui. Hỏi: mình thích rồi mới học hay học rồi mới thích? Trung Dung có nói: có người sinh ra là biết, có người học rồi biết, có người khốn mới biết, lúc biết thì là như nhau. Vậy thì học tập mà hòa hài với nhau thì vui biết bao nhiêu. (Hay học tập mà không hòa hài thì khổ biết bao nhiêu?)
Luận Ngữ cũng có dẫn giải, Khổng Tử gặp người phương xa lại, rất mong được gặp gỡ để hỏi chuyện, huống gì có bạn ở xa lại thăm, đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu, chính là cửu nhị và cửu ngũ trong quẻ Càn, thật là sung sướng nhĩ. Lời chú giải lúc xưa có nói, chữ “lạc” có khác với chữ “duyệt”, “lạc” là từ ngoài vào, còn “duyệt” là từ trong ra.
Lão Tử trong Đạo Đức Kinh đã lập đi lập lại không biết bao nhiêu lần về hai chữ “bất tranh”, Lão Tử chủ ở bỏ hai chữ đó ra ngoài ý nghĩ, ở đây Khổng Tử cũng là “bất tranh”, nhưng chủ về người quân tử tu thân để không làm cho hai chữ đó vướng vào mình. (Tử viết: "Quân tử vô sở tranh, tất dã xạ hồ ! Ấp nhượng nhi thăng, hạ nhi ẩm, kỳ tranh dã quân tử".
) Tại sao oán giận người ta không biết mình lại dính tới “bất tranh”? Bởi vì người ta không biết mình do đó người ta không chấp nhận (tư tưởng) của mình, mà đã nghĩ đến chấp nhận là đã có hai chữ “so sánh” trong đó, mà đã so sánh là đã tranh đua thắng bại.
1.2
【原文】
有子①曰:“其为人也孝弟②,而好犯上者③,鲜④矣;不好犯上,而好作乱者,未之有也⑤。君子务本⑥,本立而道生⑦。孝弟也者,其为仁 之本与⑧?”

【注释】
①有子:孔子的学生,姓有,名若,比孔子小13岁,一说小33岁。后 一说较为可信。在《论语》书中,记载的孔子学生,一般都称字,只有曾参 和有若称“子”。因此,许多人认为《论语》即由曾参和有若所著述。
②孝弟:孝,奴隶社会时期所认为的子女对待父母的正确态度;弟,读 音和意义与“悌”(音tì)相同,即弟弟对待兄长的正确态度。孝、弟是孔子和儒家特别提倡的两个基本道德规范。旧注说:善事父母曰孝,善事兄长曰弟。
③犯上:犯,冒犯、干犯。上,指在上位的人。
④鲜:音xiǎn,少的意思。《论语》书中的“鲜”字,都是如此用法。
⑤未之有也:此为“未有之也”的倒装句型。古代汉语的句法有一条规 律,否定句的宾语若为代词,一般置于动词之前。
⑥务本:务,专心、致力于。本,根本。
⑦道:在中国古代思想里,道有多种含义。此处的道,指孔子提倡的仁 道,即以仁为核心的整个道德思想体系及其在实际生活的体现。简单讲,就 是治国做人的基本原则。
⑧为仁之本:仁是孔子哲学思想的最高范畴,又是伦理道德准则。为仁 之本,即以孝悌作为仁的根本。还有一种解释,认为古代的“仁”就是“人” 字,为仁之本即做人的根本。
Hữu tử viết: Kỳ vi nhân dã hiếu đễ, nhi hiếu phạm thượng giả, tiên hĩ; bất hiếu phạm thượng, nhi hiếu tác loạn giả, vị chi hữu dã. Quân tử vụ bản, bản lập nhi đạo sinh. Hiếu đễ dã giả, kỳ vi nhân chi bản dữ !
Dịch
Hữu Tử nói: Người hiếu thuận với cha mẹ, kính trọng người lớn tuổi hơn mà lại phạm thượng là hiếm có; Người không phạm thượng mà lại làm loạn là không có. Quân tử chuyên tâm cái gốc, gốc vững thì đạo sinh. Hiếu và đễ là cái gốc của Nhân.
Bàn
Hữu Tử là học trò của Khổng Tử, tính Hữu, tên Nhược, nhỏ hơn Khổng Tử 13 tuổi, có sách nói 33 tuổi. Trong Luận Ngữ, người học trò được nhắc tới đều xưng tên, chỉ có Tăng Tham và Hữu Nhược được xưng là Tử. Do đó, nhiều người cho rằng Tăng Tham và Hữu Nhược trước thuật Luận Ngữ.
Không bàn những lời của học trò Khổng Tử để tránh bàn lại hai lần.
1.3
【原文】
子曰:巧言令色①,鲜②仁矣。”
【注释】
①巧言令色:朱熹注曰:“好其言,善其色,致饰于外,务以说人。”巧 和令都是美好的意思。但此处应释为装出和颜悦色的样子。
②鲜:少的意思。
Tử viết: Xảo ngôn, lệnh sắc, tiên hĩ nhân.
Dịch
Khổng tử nói: Lời nói khéo, làm vẻ mặt hiền lành, hiếm có nhân trong đó.
Bàn
Lão Tử nói trong chương 81: “Tín ngôn bất mỹ, mỹ ngôn bất tín …” cũng có vẻ là một ý, “… đạo chi xuất khẩu đạm hồ kỳ vô vị …”; Khổng Tử thường hay có những lời áp dụng cho từng học trò, Tử Trương (?) là người Khổng Tử từng nhắn nhủ trong lời dạy về “hiếu”, nói hay, làm mặt giỏi nhưng không thực hành … Đây là mặt trái của chữ “nhân”, nhiều học trò hỏi Khổng Tử, “thế nào là nhân”, câu trả lời thường thường là khác nhau cho mỗi học trò, người thì nói ‘’kỷ sở bất dục vật thi ư nhân’’, người thì nói ‘’kiến lợi tư nghĩa, kiến nguy thụ mệnh, cửu nhi bất vong bình sinh chi ngôn …’’, vân vân. Làm thế nào cho thành nhân thì không biết chắc, nhưng chắc chắn là không qua lời nói hoặc cử chỉ vẻ mặt.
1.4
【原文】
曾子①曰:“吾日三省②吾身。为人谋而不忠③乎?与朋友交而不
信④乎?传不习乎?”
【注释】
①曾子:曾子姓曾名参(音shēn)字子舆,生于公元前505年,鲁 国人,是被鲁国灭亡了的鄫国贵族的后代。曾参是孔子的得意门生,以孝子出名。据说《孝经》就是他撰写的。
②三省:省(音xǐng),检查、察看。三省有几种解释:一是三次检 查;二是从三个方面检查;三是多次检查。其实,古代在有动作性的动词前 加上数字,表示动作频率多,不必认定为三次。
③忠:旧注曰:尽己之谓忠。此处指对人应当尽心竭力。
④信:旧注曰:信者,诚也。以诚实之谓信。要求人们按照礼的规定相 互守信,以调整人们之间的关系。
⑤传不习:传,旧注曰:“受之于师谓之传。老师传授给自己的。习,与“学而时习之”的“习”字一样,指温习、实习、演习等。
Tăng tử viết: Ngô nhật tam tỉnh ngô thân. Vị nhân mưu nhi bất trung hồ? Dữ bằng hữu giao nhi bất tín hồ ? Truyền, bất tập hồ ?

Dịch
Tăng tử nói: Tôi mỗi ngày xét mình ba điều. Mưu việc cho người khác có trung (tận tâm tận lực) không ? Kết giao bạn bè có giữ chữ tín không ? Kiến thức thầy truyền dạy, đã luyện tập chưa ?
Bàn
Tăng Tử tính Tăng tên Tham, tự Tử Dư, sinh 505 trước tây lịch, người nước Lỗ, là hậu đại của quý tộc nước ? (bị nước Lỗ diệt) Tăng Tham là đệ tử đắc ý của Khổng Tử, nổi danh có hiếu. Nghe nói là Tăng Tham soạn ra cuốn Hiếu Kinh.
1.5
【原文】
子曰:“道①千乘之国②,敬事③而信,节用而爱人④,使民以时⑤。”
【注解】
①道:一本作“导”,作动词用。这里是治理的意思。
②千乘之国:乘,音shèng,意为辆。这里指古代军队的基层单位。每乘拥有四匹马拉的兵车一辆,车上甲士3人,车下步卒72人,后勤人员25人,共计100人。千乘之国,指拥有1000辆战车的国家,即诸侯国。春秋时代,战争频仍,所以国家的强弱都用车辆的数目来计算。在孔子时代,千乘之国已经不是大国。
③敬事:敬字一 般用于表示个人的态度,尤其是对待所从事的事务要谨慎专一、兢兢业业。
④爱人:古代“人”的含义有广义与狭义的区别。广义的“人”,指一
切人群;狭义的“人”,仅指士大夫以上各个阶层的人。此处的“人”与“民”相对而言,可见其用法为狭义。
⑤使民以时:时指农时。古代百姓以农业为主,这是说要役使百姓按照农时耕作与收获。
Tử viết: Đạo thiên thừa chi quốc, kính sự nhi tín, tiết dụng nhi ái nhân, sử dân dĩ thời.
Dịch
Khổng tử nói: Trị quốc gia có nghìn cỗ xe, mọi việc làm kính cẩn dè dặt giữ chữ tín, tiết kiệm việc chi tiêu mà thương người, sử dụng sức dân theo thời điểm thích hợp
Bàn
Thiên thừa mặc dù ít nhưng lúc đó là một nước chư hầu lớn. Chính trị trọng ở kính; trọng ở tín; trọng ở tiết kiệm; trọng ở thương người, trọng ở thời điểm sử dân. Khổng Tử có nhắc đến trong nhiều lời đối thoại với học trò; “Đa văn khuyết nghi, thận ngôn kỳ dư, tắc quả vưu; Đa kiến khuyết đãi, thận hành kỳ dư, tắc quả hối …’’; "Nhân nhi vô tín, bất tri kỳ hà dã. Đại xa vô nghê, tiểu xa vô nghê, kỳ hà dĩ hành chi tai"; “Cư thượng bất khoan, vi lễ bất kính, lâm tang bất ai, ngô hà dĩ quan chi tai?" vân vân
1.6
【原文】
子曰:“弟子①入②则孝,出③则弟,谨④而信,汎⑤爱众,而亲 仁⑥,行有余力⑦,则以学文⑧。”
【注释】
①弟子:一般有两种意义:一是年纪较小为人弟和为人子的人;二是指学生。这里是用一种意义上的“弟子”。
②入:古代时父子分别住在不同的居处,学习则在外舍。《礼记?内则》:“由命士以上,父子皆异宫”。入是入父宫,指进到父亲住处,或说在家。
③出:与“入”相对而言,指外出拜师学习。出则弟,是说要用弟道对待师长,也可泛指年长于自己的人。
④谨:寡言少语称之为谨。
⑤□:音fàn,同泛,广泛的意思。
⑥仁:仁即仁人,有仁德之人。
⑦行有余力:指有闲暇时间。
⑧文:古代文献。主要有诗、书、礼、乐等文化知识。
Tử viết: Đệ tử, nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, cẩn nhi tín, phiếm ái chúng nhi thân nhân, hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn.

Dịch
Khổng tử nói: Này trò, ở nhà phải hiếu, ra ngoài tôn kính người hơn tuổi, cẩn thận giữ điều tín, thương người và thân cận với người nhân đức, được như vậy mà còn dư sức thì học thêm văn.
Bàn
Ở trên dạy trò rất giống dạy người ra làm chính trị. Ưu tiên là nhân nghĩa lễ trí tín, được rồi thì vẽ vời thêm văn chương cũng được. Văn chương ở đây là Thi, Thư, Lễ, Nhạc.
1.7
【原文】
子夏①曰:“贤贤②易色;事父母能竭其力;事君,能致其身④;与朋友交,言而有信。虽曰未学,吾必谓之学矣。”
【注释】
子夏:姓卜,名商,字子夏,孔子的学生,比孔子小44岁,生于公元前507年。孔子死后,他在魏国宣传孔子的思想主张。
②贤贤:第一个“贤”字作动词用,尊重的意思。贤贤即尊重贤者。
③易:有两种解释;一是改变的意思,此句即为尊重贤者而改变好色之心;二是轻视的意思,即看重贤德而轻视女色。
④致其身:致,意为“献纳”、“尽力”。这是说把生命奉献给君主
Tử Hạ viết: Hiền hiền dịch sắc; sự phụ mẫu năng kiệt kỳ lực; sự quân, năng trí kỳ thân; dữ bằng hữu giao ngôn nhi hữu tín. Tuy viết vị học, ngô tất vị chi học hĩ.
Dịch
Tử Hạ nói: Tôn trọng hiền tài hơn nữ sắc; đối đãi với cha mẹ tận lực; làm việc cho vua tận sức mình, giao lưu bạn hữu nói lời tin cậy. Người như vậy tuy nói là chưa học, ta coi là người có học.
Bàn
Tử Hạ tính Bốc tên Thương, tự là Hạ, học trò của Khổng Tử, thua Khổng Tử 44 tuổi, sinh năm 507 trước Tây lịch. Khổng Tử mất rồi, ông ở nước Ngụy giảng dạy tư tưởng học thuật của Khổng Tử.
Lời của Tử Hạ bàn rộng ra lời của Khổng Tử phía trên, trọng đạo đức trên văn chương và các thứ khác.
1.8
【原文】
子曰:“君子①,不重②则不威;学则不固③。主忠信④。无⑤友不如己者⑥;过⑦则勿惮⑧改。”
【注释】
①君子:这个词一直贯穿于本段始终,因此这里应当有一个断句。
②重:庄重、自持。
③学则不固:有两种解释:一是作坚固解,与上句相连,不庄重就没有威严,所学也不坚固;二是作固陋解,喻人见闻少,学了就可以不固陋。
④主忠信:以忠信为主。
⑤无:通毋,“不要”的意思。
⑥不如己:一般解释为不如自己。另一种解释说,“不如己者,不类乎己,所谓‘道不同不相为谋’也。”把“如”解释为“类似”。后一种解释更为符合孔子的原意。
⑦过:过错、过失。
⑧惮:音dàn,害怕、畏惧。
Tử viết: Quân tử, bất trọng tắc bất oai, học tắc bất cố. Chủ trung tín. Vô hữu bất như kỷ giả; Quá tắc vật đạn cải.

Dịch

Khổng tử nói: Quân tử không trang trọng thì không uy nghiêm; học không được củng cố. Quân tử lấy chữ tín và trung làm chủ. Không kết bạn với người không như (cùng đạo với) mình. Sai lầm không ngại sửa chữa.
Bàn
Câu “không kết bạn với người không như mình” rất dễ gây hiểu lầm theo hướng “kỳ thị”. Lão Tử cũng có nói: “Cổ chi thiện vi đạo giả phi dĩ minh dân, tương dĩ ngu chi …” làm người ta nghĩ Lão Tử muốn dân ngu để dễ cai trị. Muốn hiểu một người phải nhìn toàn diện, suốt cuốn Luận Ngữ hoặc Đạo Đức Kinh, ta không thấy có một sự đồng nhất đi về hướng kỳ thị, mặt khác chúng ta nên nhìn theo hướng “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, hoặc “vật dĩ loại tụ, nhân dĩ quần phân”.
Ngoài trung tín ra, Khổng Tử có thêm chữ “trọng”, quân tử là “núi” là muôn thuở là vững bền, là trang trọng, là chỗ người ta nương tựa, là đạo. Chữ “học” ở đây có thể nói chính người quân tử, cũng có thể nói là học trò của người quân tử.
Khổng Tử còn thêm vào câu “quá nhi vật đạn cải”, làm người không ai tránh khỏi sai lầm (nhân vô thập toàn), người quân tử không sợ sửa mình nếu sai. Khổng Tử từng nói: “Tôi thật may, sai là có người chỉ bảo …”
1.9
【原文】
曾子曰:“慎终①追远②,民德归厚矣。”
【注释】
①慎终:人死为终。这里指父母的去世。旧注曰:慎终者丧尽其哀。
②追远:远指祖先。旧注曰:追远者祭尽其敬。
Tăng tử viết: Thận chung truy viễn, dân đức quy hậu hĩ.
Dịch
Tăng tử nói: Cẩn thận chuyện tang lễ, tưởng nhớ đến tổ tiên, là quy tụ đức cho dân.
Bàn
Sách đa phần dịch là “dân cảm đức quy về”.
Trung hiếu là nền tảng của Nho giáo, là keo sơn giữ chặt bền vững cho xã hội. Tăng Tử đã từng hiểu: “Đạo của thầy chỉ có hai chữ trung thứ mà thôi” khi nghe Khổng Tử nói: “Ngô đạo nhất dĩ quán chi”.
1.10
【原文】
子禽①问于子贡②曰:夫子③至于是邦④也,必闻其政,求之与,抑⑤与之与?”子贡曰:“夫子温、良、恭、俭、让⑥以得之。夫子之求之也,其诸⑦异乎人之求之与?”
【注释】
①子禽:姓陈名亢,字子禽。郑玄所注《论语》说他是孔子的学生,但《史记?仲尼弟子列传》未载此人,故一说子禽非孔子学生。
②子贡:姓端木名赐,字子贡,卫国人,比孔子小31岁,是孔子的学生,生于公元前520年。子贡善辩,孔子认为他可以做大国的宰相。据《史记》记载,子贡在卫国做了商人,家有财产千金,成了有名的商业家。
③夫子:这是古代的一种敬称,凡是做过大夫的人都可以取得这一称谓。孔子曾担任过鲁国的司寇,所以他的学生们称他为“夫子”来,因此而沿袭以称呼老师。《论语》书中所说的“夫子”,都是孔子的学生对他的称呼。
④邦:指当时割据的诸侯国家。
⑤抑:表示选择的文言连词,有“还是”的意思。
⑥温、良、恭、俭、让:就字面理解即为:温顺、善良、恭敬、俭朴、谦让。这是孔子的弟子对他的赞誉。
⑦其诸:语气词,有“大概”“或者”的意思。

Tử Cầm vấn ư Tử Cống viết: Phu tử chí ư thị bang dã; tất văn kỳ chính, cầu chi dự, ức dữ chi dự ?

Tử Cống viết: Phu tử ôn, lương, cung, kiệm, nhượng dĩ đắc chi. Phu tử chi cầu chi dã, kỳ chư dị hồ nhân chi cầu chi dự ?
Dịch
Tử Cầm hỏi Tử Cống rằng: Thầy đi qua các nước đều được tham dự chính sự ở các nước ấy. Là do thầy cầu xin hay do người ta yêu cầu ?
Tử Cống đáp: Thầy có đức tính ôn, lương, cung, kiệm, nhường nhịn nên được như vậy. Cách cầu việc của thầy khác với lối cầu việc của người khác.
Bàn
Tử Cầm tính Trần tên là Khang, tự là Tử Cầm. Trịnh Huyền chú Luận Ngữ nói ông ta là học trò của Khổng Tử, nhưng Sử Ký Trọng Ni đệ tử liệt truyện không có tên người này, do đó có người nói Tử Cầm không phải học trò của Khổng Tử.
Tử Cống tính Đoan Mộc tên là Tứ, tự là Tử Cống, người nước Vệ, nhỏ hơn Khổng Tử 31 tuổi, là học trò của Khổng Tử, sinh 520 năm trước Tây lịch. Tử Cống giỏi biện luận, Khổng Tử cho rằng ông ta có thể làm được tể tướng của một nước lớn. Theo Sử Ký ký tải, Tử Cống làm thương gia ở nước Vệ, nhà có tài sản ngàn vang, là một nhà thương nghiệp nổi danh.
Cho dù là lời giải thích của Tử Cống có thể phiến diện, nhưng cũng gián tiếp cho thấy nhận xét của Tử Cống về Khổng Tử. Và cũng cho thấy đức tính mà Nho giáo chủ trương.
1.11
【原文】
子曰:“父在,观其①志;父没,观其行②;三年③无改于父之道④,可谓孝矣。”
【注释】
①其:他的,指儿子,不是指父亲。
②行:音xìng,指行为举止等。
③三年:对于古人所说的数字不必过于机械地理解,只是说要经过一个较 长的时间而已,不一定仅指三年的时间。
④道:有时候是一般意义上的名词,无论好坏、善恶都可以叫做道。但更多时候是积极意义的名词,表示善的、好的东西。这里表示“合理内容”的意思。
Tử viết: Phụ tại, quan kỳ chí; phụ một, quan kỳ hành; Tam niên vô cải ư phụ chi đạo, khả vị hiếu hĩ.
Dịch
Khổng tử nói "Khi cha còn sống, chú ý quan sát chí hướng của cha, khi cha mất đi thì suy ngẫm về cách hành sự của cha. Nếu ba năm sau khi cha mất, người con không thay đổi nề nếp của cha thì có thể gọi là có hiếu".
Bàn
Sau này có người cho rằng, không thay đổi là không thể phát triển, thực ra, họ bỏ mất hai chữ “ba năm”, Khổng Tử có thể đã nghiệm rằng đứa con một khi cha mất là chồm chồm thay đổi khuôn khổ nề nếp làm xáo trộn cuộc sống, nhỏ là gia đình, lớn là quốc gia. Chứ nếu có một thời gian suy nghĩ thực tập từ từ có thể thay đổi mà không làm hỗn loạn hệ thống thì dĩ nhiên là tốt rồi. Một hệ thống đã có sẵn lúc nào cũng có lý do tại sao nó như vậy, muốn thay đổi cũng phải cần một thời gian chiêm nghiệm tổng thể. Lúc cha còn sống xem ý hướng của cha, không đồng ý cũng phải nhìn theo hướng của cha để biết đường đi. Mình là do cha sinh ra, do đó có gì đi nữa cũng là thừa hưởng cái gene của cha, chỉ có thể đi lên nhưng không đi ngang được, do đó mà phải xem ý hướng để biết mình đi đâu, cha mình sống lâu hơn mình dĩ nhiên là chiêm nghiệm nhiều hơn mình. Cha mất rồi thì mình suy ngẫm lại hồi xưa cách cha mình hành xử, có thể để học cái hay lẫn cái dở, bởi vì không ai hơn cha mình khi mình học hay dở, bởi vì cha mình sinh ra mình, cha làm gì thì mình cũng có khuynh hướng làm vậy.
Khổng Tử đặt căn bản vào chữ “trung hiếu” để tu thân. Chữ “hiếu” đã có từ thời nào và rất tự nhiên, không miễn cưỡng.
1.12
【原文】
有子曰:“礼①之用,和②为贵。先王之道③,斯④为美。小大由之,有所不行。知和而和,不以礼节⑤之,亦不可行也。”
【注释】
①礼:在春秋时代,“礼”泛指奴隶社会的典章制度和道德规范子的“礼”,既指“周礼”,礼节、仪式,也指人们的道德规范。
②和:调和、和谐、协调。
③先王之道:指尧、舜、禹、汤、文、武,周公等古代帝王的治世之道。
④斯:这、此等意。这里指礼,也指和。
Hữu tử viết: Lễ chi dụng, hòa vi quí. Tiên vương chi đạo, tư vi mĩ. Tiểu đại do chi, hữu sở bất hành. Tri hòa nhi hòa, bất dĩ lễ tiết chi, diệc bất khả hành dã.
Dịch
Hữu tử nói: Hành Lễ lấy hài hòa làm quí. Đạo trị nước của vua chúa thời trước, hay ở chỗ đó. Việc lớn nhỏ đều cứ vậy, có chỗ không được. Mà hài hòa để hài hòa, không lấy "lễ" ràng buộc thì cũng không xong.
Bàn
Hữu Tử giải thích có khuynh hướng như Trung Dung: Hỷ Nộ Ai Lạc chi vị phát vị chi trung, phát nhi giai trúng tiết vị chi hòa, trung dã giả, thiên hạ chi đại bản, hòa dã giả, thiên hạ chi đạt đạo dã, trí trung hòa, thiên địa vị yên, vạn vật dục yên.
“Tính” vốn ở chính giữa, nhưng “dụng” là động, vốn là tứ bề. Động mà không quá trớn thì phải cần Lễ để giữ lại.
1.13
【原文】
有子曰:“信近①于义②,言可复③也;恭近于礼,远④耻辱也;因⑤不失其亲,亦可宗⑥也。”
【注解】
①近:接近、符合的意思。
②义:义是儒家的伦理范畴。是指思想和行为符合一定的标准。这个标准就是“礼”。
③复:实践的意思。朱熹《集注》云:复,践言也。”
④远:音yuàn,动词,使动用法,使之远离的意思,此外亦可以译为避免。
⑤因:依靠、凭藉。一说因应写作姻,但从上下文看似有不妥之处。
⑥宗:主、可靠,一般解释为“尊敬”似有不妥之处。
Hữu tử viết: Tín cận ư nghĩa, ngôn khả phục dã; cung cận ư lễ, viễn sỉ nhục dã; Nhân bất thất kỳ thân, diệc khả tông dã.
Dịch
Hữu tử nói: tín gần với nghĩa, lời hứa có thể thực hiện được. Cung kính gần với Lễ, tránh xa được điều sỉ nhục; Vì không mất đi thân thuộc, nên giữ được tông pháp.
Bàn
Câu cuối không biết sao liên lạc được với hai câu trên, có phải là “thân thân” thì gần với nhân không? Thân được với người thân thuộc thì mới biết thân được với người khác.
Hữu Tử giải thích lễ nghĩa bằng phương pháp tầng lớp, cũng như nhà Phật có nhiều loại Phật.
1.14
【原文】
子曰:“君子食无求饱,居无求安,敏于事而慎于言,就①有道②而正③焉,可谓好学也已。”
【注释】
①就:靠近、看齐。
②有道:指有道德的人。
③正:匡正、端正。
Tử viết: “Quân tử thực vô cầu bão, cư vô cầu an, mẫn ư sự nhi thận ư ngôn, tựu hữu đạo nhi chính yên, khả vị hiếu học dã dĩ.”
Dịch
Khổng Tử nói: Quân tử ăn không cầu no, chỗ ở không cầu an ổn, làm việc cần mẫn mà lời nói thận trọng, gần kẻ có đạo để sửa mình, có thể gọi là người hiếu học.
Bàn
Học trò Khổng Tử là Tử Trương học kiếm ăn, Tử viết: "Đa văn khuyết nghi, thận ngôn kỳ dư, tắc quả vưu; Đa kiến khuyết đãi, thận hành kỳ dư, tắc quả hối. Ngôn quả vưu, hành quả hối, lộc tại kỳ trung hĩ ". Quân tử không nghĩ đến chuyện kiếm ăn, chỉ làm những gì nên làm (nhân , nghĩa, lễ, trí, tín). Có lần ông bị khốn ở nước nọ, người ta hỏi: “quân tử cũng bị khốn sao?”, ông đáp: “Quân tử mới bị khốn chứ!”
Điều đó không có nghĩa là Khổng Tử quên chuyện kiếm ăn. Vào một nước nọ, nhìn thấy trù phú, Khổng Tử khen: “Trù phú nhĩ!”, học trò hỏi: “Làm sao hơn được vậy?” Không Tử nói: “học Lễ Nghĩa…”
1.15
【原文】
子贡曰:“贫而无谄①,富而无骄,何如②?”子曰:“可也。未若贫而乐③,富而好礼者也。”子贡曰:《诗》云,‘如切如磋!如琢如磨④’,其斯之谓与?”子曰:“赐⑤也!始可与言《诗》已矣,告诸往而知来者⑥。”
【注释】
①谄:音chǎn,意为巴结、奉承。
②何如:《论语》书中的“何如”,都可以译为“怎么样”。
③贫而乐:一本作“贫而乐道”。
④如切如磋,如琢如磨:此二句见《诗经?卫风?淇澳》。有两种解释:一说切磋琢磨分别指对骨、象牙、玉、石四种不同材料的加工,否则不能成器;一说加工象牙和骨,切了还要磋,加工玉石,琢了还要磨,有精益求精之意。
⑤赐:子贡名,孔子对学生都称其名。
⑥告诸往而知来者:诸,同之;往,过去的事情;来,未来的事情。
Tử Cống viết "Bần nhi vô siểm, phú nhi vô kiêu, hà như ? ".
Tử viết "Khả dã. Vị nhược bần nhi lạc, phú nhi hiếu lễ giả dã".
Tử Cống viết "Thi vân, như thiết như tha ! Như trác như ma, kỳ tư chi vị dư ?".
Tử viết "Tứ dã ! Thỉ khả dữ ngôn "Thi" dĩ hĩ, cáo chư vãng nhi tri lai giả".

Dịch
Tử Cống hỏi "Nghèo khổ mà không nịnh bợ, giàu có mà không kiêu ngạo, như vậy được chưa ?". Khổng tử đáp "Như vậy là được, nhưng không bằng nghèo mà vui, giàu mà chuộng lễ nghĩa".
Tử Cống hỏi "Kinh Thi viết: như cắt như gọt, như mài như giũa, là nói điều này phải chăng ?".
Khổng tử nói "Tứ này, có thể nói chuyện Kinh Thi được rồi, bởi vì nói cho ngươi nghe một chuyện, ngươi hiểu được chuyện tới".
Bàn
Sự học như thuyền đi nước ngược, không tiến thì lùi. Quẻ Càn trong Dịch: Tượng viết: Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức”. Khổng Tử thực tiễn, con người ai cũng như ai, đều có những hỷ nộ ái ố bi dục, tiếp tục trau giồi để đi tới hoàn thiện (nhân nghĩa lễ trí tín), Lão Tử thì không, “hư kỳ tâm, thực kỳ phúc, nhược kỳ chí, cường kỳ cốt, …” quên hết, quên hết …
1.16
【原文】
子曰:“不患①人②之不已知,患不知人也。”
【注释】
①患:忧虑、怕。
②人:指有教养、有知识的人,而非民。
Tử viết: Bất hoạn nhân chi bất kỷ tri, hoạn bất tri nhân dã.
Dịch
Khổng tử nói: Không sợ người không hiểu ta, chỉ sợ (ta) không hiểu người.
Bàn
Khổng Tử đã từng nói: Nhân bất tri nhi bất uấn, bất diệc quân tử hồ? Mình làm theo đạo, người ta hiểu hay không hiểu là chuyện của người ta. Vấn đề là ở mình, mình có hiểu người khác không, chính là chuyện của mình. Hiểu người khác cũng là chuyện mình cần làm trong quá trình tu thân…

Vui lòng Đăng nhập để tham gia cuộc hội thoại.

Giang Hồ Kỳ Tình Lục chương 261 30 06 2020 16:42 #5

Thúy Nhi không để ý đến vẻ mặt của Dương Thông, cô vẫn tiếp tục nói:

- Thật ra, những thứ độc phấn đó của Đường Gia, còn có một thứ vô cùng lợi hại, đó chính là loại thuốc phấn Lăng Tiêu Hoa, nó còn được gọi là Nữ Tàng Hoa, vỏ cây có màu nâu, nứt nẻ từng đường nhỏ, cành nhỏ màu tím, lá có bảy tới chín phiến, tròn và nhọn ở đầu, có răng cưa , hoa mọc trên đỉnh, nở vào tháng tám, có màu đỏ tươi hay huyết dụ, phấn hoa cực kỳ độc, có thể làm người ta mù mắt không có thuốc gì chửa khỏi. Bụi phấn bay vào mắt là mù, nhưng nhắm mắt lại thì khỏi. Còn mấy thứ độc khác thì cũng không có gì để nói, chỉ sợ là không biết bọn họ chế tạo cơ quan làm sao mà quá xảo diệu dấu độc châm nhỏ xíu vào trong ám khí, vô cùng cao minh, ngay cả chúng tôi cũng không biết làm sao được thế.

Dương Thông nói:

- Thứ Lăng Tiêu Hoa kia tuy phấn có độc nhưng cuống lá có thể dùng làm thuốc, có tác dụng làm mát máu bớt sưng.

Thúy Nhi cười nói:

- Công tử thật là thông minh, tôi không biết được như vậy.

Dương Thông thấy cô chỉ học cách dùng độc, chẳng để ý đến chuyện dùng thảo dược về hướng chữa bệnh bất giác lấy làm hối tiếc.

Vui lòng Đăng nhập để tham gia cuộc hội thoại.

Giang Hồ Kỳ Tình Lục chương 261 21 06 2020 16:57 #6

Dương Thông nói:

- Nghe nói thứ hỏa dược này lúc dầu có một đạo sĩ tên là Đổ Tử Xuân phát hiện ra, tương truyền ông ta bởi vì đi tìm phương thuật luyện đan trường sinh bất tử, đến một nơi hẻo lánh bái phỏng một ông lão, ông lão bảo ông ta đến trước cái lư, rồi dặn dò ông ta đừng có đi đâu hết, cứ canh giữ một chỗ đó, có điều tối đến ông ta buồn ngủ quá bèn thiếp đi, tỉnh lại thì lư thuốc đã bị lửa bén, cháy lên tới nóc, cháy luôn hết cả nhà, sau đó ông ta bèn theo ông lão học phương pháp chế hỏa dược, ông lão cũng không ngờ được người ta sau này lại dùng nó để hại người. Còn thứ cỏ thuốc Thảo Điểu Đầu này tôi cũng có nghe qua, cuống và lá đều có độc, hồi xưa người ta hay dùng để tẩm vào mủi tên, người bị trúng tên, da thịt bị rửa thối, đến tim thì chết, hồi nhỏ tôi nghe thầy giảng sách nói, Quan Công từng bị quân Tào bắn trúng một mủi, bởi vì chất độc đã thấm vào tận xương do đó thần y Hoa Đà phải cắt xẻ thịt ra vào tận xương, Hoa Đà xéo dao vào trong xương tủy nghe rào rạo, Quan Công ngay cả chau mày cũng không, thật là lợi hại, thật ra thứ cỏ này có rất nhiều chỗ có thể dùng để cứu người, làm người ta bớt đau đớn, như chữa Nghịch Vong Dương, bổ hỏa trợ dương thận dương hư, tỳ thận dương hư, tán hàn chỉ thống, có điều bọn họ chỉ dùng nó để hại người, thật là uổng tiếc.

Vui lòng Đăng nhập để tham gia cuộc hội thoại.

  • Trang:
  • 1
  • 2

Đăng Nhập / Đăng Xuất