Trang thông tin liên lạc của cựu Giáo Sư và học sinh Trung Học Cường Để Qui Nhơn

Trang Facebook của cuongde.org

  • DaiThinhDuong1200
  • NhaGiuXe1200
  • CD4 1200
  • hinhCu 1200
  • Trang:
  • 1

CHỦ ĐỀ: Trích Thiên Tủy chương V

Trích Thiên Tủy chương V 14 09 2020 07:36 #1

CHƯƠNG VIII ĐỊA CHI
________________________________________
阳支动且强,速达显灾祥;阴支静且专,否泰每经年。
Dương chi động thả cường, tốc đạt hiển tai tường; âm chi tĩnh thả chuyên, bỉ thái mỗi kinh niên.
【原注】子、寅、辰、午、申、戌,阳也,其性动,其势强,其发至速,其灾祥至显;丑、卯、巳、未、酉、亥,阴也,其性静,其气专,发之不速,而否泰之验,每至经年而后见。
Nguyên chú: tý, dần, thìn, ngọ, thân, tuất, dương dã,kì tính động,kì thế cường,kì phát chí tốc,kì tai tường chí hiển;sửu, mão, tị, mùi, dậu, hợi,âm dã,kì tính tĩnh,kì khí chuyên,phát chi bất tốc,nhi bỉ thái chi nghiệm,mỗi chí kinh niên nhi hậu kiến.
【任氏曰】:
地支有以子至巳为阳,午至亥为阴者,此从冬至阳生、夏至阴生论;有以寅至未为阳,申至丑为阴者,此分木火为阳,金水为阴也。命家以子、寅、辰、午、申、戌为阳,丑、卯、巳、未、酉、亥为阴。若子从癸、午从丁,是体阳而用阴也;巳从丙,亥从壬,是体阴而用阳也。分别取用,亦惟刚柔健顺之理,与天干无异,但生克制化,其理多端,盖一支所藏或二干,或三干故耳。然以本气为主,寅必先甲而后及丙,申必先庚而后及壬,余支皆然。阳支性动而强,吉凶之验恒速;阴支性静而弱,祸福之应较迟。在局在运,均以此意消息之。
Nhâm thị viết: địa chi hữu dĩ tý chí tị vi dương,ngọ chí hợi vi âm giả,thử tòng đông chí dương sinh, hạ chí âm sinh luận;hữu dĩ dần chí mùi vi dương,thân chí sửu vi âm giả,thử phân mộc hỏa vi dương,kim thủy vi âm dã。Mệnh gia dĩ tý, dần, thìn, ngọ, thân, tuất vi dương,sửu, mão, tị, mùi, dậu, hợi vi âm。 Nhược tý tòng quý, ngọ tòng đinh,thị thể dương nhi dụng âm dã;tị tòng bính, hợi tòng nhâm,thị thể âm nhi dụng dương dã。 Phân biệt thủ dụng,diệc duy cương nhu kiện thuận chi lí,dữ thiên can vô dị, đãn sinh khắc chế hóa,kì lí đa đoan,cái nhất chi sở tàng hoặc nhị can,hoặc tam can cố nhĩ。Nhiên dĩ bản khí vi chủ,dần tất tiên giáp nhi hậu cập bính,thân tất tiên canh nhi hậu cập nhâm,dư chi giai nhiên。Dương chi tính động nhi cường,cát hung chi nghiệm hằng tốc;âm chi tính tĩnh nhi nhược,họa phúc chi ứng giác trì。Tại cục tại vận,quân dĩ thử ý tiêu tức chi.
Dịch: Nhâm thị nói: địa chi có chỗ cho là Tý tới Tị là dương, Ngọ tới Hợi là âm, đó là theo luận cứ đông chí dương sinh, hạ chí âm sinh; có chỗ cho là Dần tới Mùi là dương, Thân tới Sửu là âm, đó là luận cứ chia mộc hỏa làm dương, kim thủy làm âm. Các nhà toán mệnh thì lấy Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất làm dương, Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi làm âm. Còn Tý thì theo Quý, và Ngọ thì theo Đinh, là thể thì dương mà dụng thì là âm; Tỵ theo Bính, Hợi theo Nhâm, đó là thể thì âm mà dụng thì dương. Phân biệt để dùng thì cũng theo cái lý cương nhu, kiện thuận không khác gì thiên can, có điều sinh khắc chế hóa, lý lẽ có hơi phức tạp, bởi vì chi có tàng khi một, khi hai, hoặc ba ngũ hành. Nhưng bản chí làm chủ, Dần thì trước tiên là Giáp, sau đó là Bính, Thân thì trước là Canh sau mới tới Nhâm, còn dư các chi khác đều như vậy. Tính dương vốn động mà cường, lành dữ ứng nghiệm thần tốc; tính âm thì tĩnh mà nhược, họa phúc ứng nghiệm chậm hơn. Trong mệnh hoặc trong vận đều có một ý cả.
生方怕动库宜开,败地逢冲仔细推。
Sinh phương phạ động khố nghi khai,bại địa phùng xung tử tế thôi.
【原注】寅、申、巳、亥生方也,忌冲动;辰、戌、丑、未四库也,宜冲开。子、午、卯、酉四败也,有逢合而喜冲者,不若生地之必不可冲也;有逢冲而喜合者,不若库地之必不可闲也。须仔细详之。
Nguyên chú: dần, thân, tị, hợi sinh phương dã,kị xung động; thìn, tuất, sửu, mùi tứ khố dã,nghi xung khai. Tý, ngọ, mão, dậu tứ bại dã,hữu phùng hợp nhi hỉ xung giả,bất nhược sinh địa chi tất bất khả xung dã;hữu phùng xung nhi hỉ hợp giả,bất nhược khố địa chi tất bất khả nhàn dã。Tu tử tế tường chi.
【任氏曰】:
旧说云,金水能冲木火,木火不能冲金水,此论天干则可,论地支则不可。盖地支之气多不专,有他气藏在内也。须看他气乘权得势,即木火亦岂不能冲金水乎?生方怕动者,两败俱伤也。假如寅申逢冲,申中庚金,克寅中甲木,寅中丙火,未尝不克申中庚金;申中壬水,克寅中丙火,寅中戊土,未尝不克申中壬水。战克不静故也。库宜开者,然亦有宜不宜,详在杂气章中。败地逢冲仔细推者,子、午、卯、酉之专气也,用金水则可冲,用木火则不可冲。然亦须活看,不可执一。倘用春夏之金水,则金水之气休囚,木火之势旺相,金水岂不反伤乎?宜参究之。
Nhâm thị viết: cựu thuyết vân,kim thủy năng xung mộc hỏa, mộc hỏa bất năng xung kim thủy,thử luận thiên can tắc khả,luận địa chi tắc bất khả。Cái địa chi chi khí đa bất chuyên,hữu tha khí tàng tại nội dã。Tu khán tha khí thừa quyền đắc thế,tức mộc hỏa diệc khởi bất năng xung kim thủy hồ? sinh phương phạ động giả, lưỡng bại câu thương dã。Giả như dần thân phùng xung,thân trung canh kim,khắc dần trung giáp mộc,dần trung bính hỏa,vị thường bất khắc thân trung canh kim;thân trung nhâm thủy, khắc dần trung bính hỏa,dần trung mậu thổ,vị thường bất khắc thân trung nhâm thủy。Chiến khắc bất tĩnh cố dã。Khố nghi khai giả,nhiên diệc hữu nghi bất nghi,tường tại tạp khí chương trung。Bại địa phùng xung tử tế thôi giả,tý, ngọ, mão, dậu chi chuyên khí dã,dụng kim thủy tắc khả xung, dụng mộc hỏa tắc bất khả xung。Nhiên diệc tu hoạt khán,bất khả chấp nhất。 Thảng dụng xuân hạ chi kim thủy,tắc kim thủy chi khí hưu tù,mộc hỏa chi thế vượng tướng,kim thủy khởi bất phản thương hồ? nghi tham cứu chi.
Dịch: Nhâm thị nói: thuyết xưa nói rằng, Kim Thủy có thể xung Mộc Hỏa, nhưng Mộc Hỏa không xung được Kim Thủy, nếu luận thiên can thì được, nhưng địa chi thì không. Bởi địa chi có nhiều khí không chuyên như thiên can, bản khí còn có dư khí, thừa khí. Phải xem các khí kia có đương lệnh hay không, Mộc Hỏa cũng đâu phải không xung được Kim Thủy sao? Sinh phương (Dần Thân Tỵ Hợi) sợ động là vì sợ hai bên đều chết. Giả như Dần Thân gặp xung, trong Thân có Canh Kim khắc Giáp mộc trong Dần, Bính hỏa trong Dần đâu phải là không khắc Canh kim trong Thân; Nhâm thủy trong Thân khắc Bính hỏa trong Dần, Mậu thổ trong Dần đâu phải là không khắc Nhâm thủy trong Thân. Do đó mà không lúc nào là không khắc nhau. Khố (Thìn Tuất Sửu Mùi) nên khai nhưng cũng có lúc nên có lúc không nên, sẽ nói rõ ở chương tạp khí. Bại địa (Tý Ngọ Mão Dậu) hợp xung phải xem xét kỹ càng là vì Tý Ngọ Mão Dậu chỉ có một khí, dùng Kim Thủy thì có thể xung, dùng Mộc Hỏa thì không thể xung. Nhưng cũng phải nhìn cho thoáng, không thể nhất định phải thế. Nếu dùng Kim Thủy của mùa xuân mùa hạ thì khí của Kim Thủy hưu tù, thế của Mộc Hỏa vượng, Kim Thủy e là ngược lại bị tổn thương thì có? Phải tham cứu kỹ càng.
甲寅 壬申 癸巳 癸亥
癸酉 甲戌 己亥 丙子 丁丑 戊寅 己卯 庚辰
Bát tự:
Giáp Nhâm Quý Quý
Dần Thân Tỵ Hợi
Đại vận:
Quý Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh
Dậu Tuất Hợi Tý Sửu Dần Mão Thìn
秋水通源,金当令,水重重,木囚逢冲,不足为用。火虽休而紧贴日支,况秋初余气未息,用神必在巳火。巳亥逢冲,群劫纷争,所以连克三妻,无子。兼之运走北方水地,以致破耗异常;至戊寅己卯,运转东方,喜用合宜,得其温饱;庚运制伤生劫,又逢酉年,喜用两伤,不禄。
Thu thủy thông nguyên,kim đương lệnh,thủy trùng trùng,mộc tù phùng xung,bất túc vi dụng。Hỏa tuy hưu nhi khẩn thiếp nhật chi,huống thu sơ dư khí vị tức,dụng thần tất tại tị hỏa。Tị hợi phùng xung,quần kiếp phân tranh,sở dĩ liên khắc tam thê,vô tử。Kiêm chi vận tẩu bắc phương thủy địa,dĩ trí phá háo dị thường;chí mậu dần kỉ mão,vận chuyển đông phương,hỉ dụng hợp nghi, đắc kì ôn bão;canh vận chế thương sinh kiếp,hựu phùng dậu niên,hỉ dụng lưỡng thương,bất lộc.
Dịch: Thủy mùa thu thông nguồn, Kim đương lệnh, Thủy trùng điệp, Mộc bị tù lại gặp xung, không đủ để làm dụng thần. Hỏa tuy hưu nhưng núp trong chi ngày, huống hồ sơ thu dư khí của Hỏa còn chưa hết, dụng thần phải là Tỵ hỏa. Tỵ Hợi gặp xung, quần Kiếp tranh Tài, do đó mà khắc liên tiếp ba vợ, không có con. Thêm vào đó, vận đi hướng bắc đất Thủy, đến nổi tổn phá hư hao dị thường; đến vận Mậu Dần, Kỷ Mão, vận chuyển qua phương đông, hỷ thần dụng thần đều tốt, được ấm áp bão bọc; vận Canh kim khắc Thương sinh Kiếp, lại gặp năm Dậu, hỷ thần dụng thần đều bị tổn thương, không qua được.
癸巳 癸亥 甲寅 壬申
壬戌 辛酉 庚申 己未 戊午 丁巳
Bát tự:
Nhâm Quý Giáp Nhâm
Tỵ Hợi Dần Thân
Đại vận:
Nhâm Tân Canh Kỷ Mậu Đinh
Tuất Dậu Thân Mùi Ngọ Tỵ
甲寅日元,生于孟冬,寒木必须用火。柱中四逢旺水伤用,无土砥定,似乎不美,妙在寅亥临合,巳火绝处逢生,此即兴发之机。然初运西方金地,有伤体用,碌碌风霜,奔驰未遇;四旬外运转南方火土之地,助起用神,弃印就财,财发数万,娶妾,连生四子。由是观之,印绶作用,逢财为祸不小,不如就财,发福最大。
Giáp dần nhật nguyên,sinh vu mạnh đông,hàn mộc tất tu dụng hỏa。Trụ trung tứ phùng vượng thủy thương dụng,vô thổ chỉ định,tự hồ bất mĩ,diệu tại dần hợi lâm hợp,tị hỏa tuyệt xử phùng sinh,thử tức hưng phát chi cơ。Nhiên sơ vận tây phương kim địa,hữu thương thể dụng,lục lục phong sương,bôn trì vị ngộ;tứ tuần ngoại vận chuyển nam phương hỏa thổ chi địa,trợ khởi dụng thần,khí ấn tựu tài,tài phát số vạn,thú thiếp,liên sinh tứ tử。Do thị quan chi,ấn thụ tác dụng,phùng tài vi họa bất tiểu,bất như tựu tài,phát phúc tối đại.
Dịch: Nhật chủ Giáp Dần, sinh vào mạnh đông, Mộc lạnh phải cần dùng đến Hỏa. Trong trụ có 4 Thủy tổn thương dụng thần, không có Thổ để chế, tựa hồ không hay, diệu là Dần Hợi lục hợp thành Mộc, Tỵ hỏa gặp đường sống trong đất chết, đấy là cơ hội hưng thịnh lên. Nhưng vận lúc đầu ở phương tây đất Kim, khắc Thân và tổn dụng thần, chạy ngược chạy xuôi bên ngoài không gặp thời thế; bốn mươi ngoài vận chuyển qua phương nam là đất của Hỏa, bang trợ dụng thần, bỏ Ấn lấy Tài, phát tài số vạn, lấy thiếp sinh luôn 4 đứa con trai. Do đó có thể thấy, Ấn Thụ tác dụng gặp Tài là khắc gây họa vô cùng, gặp Thực Thương sinh Tài là phát phúc tối đa.
辛卯 丁酉 戊子 戊午
丙申 乙未 甲午 癸巳 壬辰 辛卯
Bát tự:
Tân Đinh Mậu Mậu
Mão Dậu Tý Ngọ
Đại vận:
Bính Ất Giáp Quý Nhâm Tân
Thân Mùi Ngọ Tỵ Thìn Mão
伤官用印,喜神即是官星,非俗论土金伤官忌官星也。卯酉冲,则印绶无生助之神;子午冲,使伤官得以肆逞。地支金旺水生,木火冲克已尽,天干火土虚脱,以致读书未遂,碌碌经营。然喜水不透,为人文采风流,精于书法。更兼中运天干金水,未免有志难伸。凡伤官佩印喜用在木火者,忌见金水也。
Thương quan dụng ấn,hỉ thần tức thị quan tinh,phi tục luận thổ kim thương quan kị quan tinh dã。Mão dậu xung,tắc ấn thụ vô sinh trợ chi thần;tý ngọ xung,sử thương quan đắc dĩ tứ sính。Địa chi kim vượng thủy sinh, mộc hỏa xung khắc dĩ tận,thiên can hỏa thổ hư thoát,dĩ trí độc thư vị toại,lục lục kinh doanh。Nhiên hỉ thủy bất thấu,vi nhân văn thái phong lưu,tinh vu thư pháp。Cánh kiêm trung vận thiên can kim thủy,vị miễn hữu chí nan thân。Phàm thương quan bội ấn hỉ dụng tại mộc hỏa giả, kị kiến kim thủy dã.
Dịch: Thương Quan vượng, dụng thần là Ấn, hỷ thần chính là Quan tinh Mộc, không phải như người ta thường nói là Thương Quan vượng thì kỵ có Quan tinh. Mão Dậu xung, thì Ấn Thụ không có chỗ sinh cho (Mộc sinh Hỏa Dụng thần); Tý Ngọ xung làm Thương Quan Kim tha hồ vùng vẫy. Địa chi Kim vượng Thủy sinh, Mộc và Hỏa bị xung khắc cạn kiệt, thiên can Hỏa Thổ bị mất căn, đến nổi đọc sách không thành tài, chỉ buôn bán nho nhỏ. Nhưng may mà Thủy không thấu, bình thời văn thái phong lưu, giỏi về thư pháp. Lại thêm vào vận giữa chừng gặp thiên can Kim Thủy, không khỏi có chí mà không đi đến đâu. Phàm Thương Quan vượng mà có Ấn là Hỷ Dụng thần ở Mộc Hỏa, kỵ gặp Kim Thủy.
辛未 辛丑 戊辰 壬戌
庚子 己亥 戊戌 丁酉 丙申 乙未
Bát tự:
Tân Tân Mậu Nhâm
Mùi Sửu Thìn Tuất
Canh Kỷ Mậu Đinh Bính Ất
Tý Hợi Tuất Dậu Thân Mùi
此造非支全四库之美,所喜者辛金吐秀,丑中元神透出,泄其精英,更妙木火伏而不见,纯清不混。至酉运,辛金得地,中乡榜;后因运行南方,木火并旺,用神之辛金受伤,由举而进,而不能选。
Thử tạo phi chi toàn tứ khố chi mĩ,sở hỉ giả tân kim thổ tú,sửu trung nguyên thần thấu xuất,tiết kì tinh anh, cánh diệu mộc hỏa phục nhi bất kiến,thuần thanh bất hỗn。Chí dậu vận,tân kim đắc địa,trúng hương bảng;hậu nhân vận hành nam phương,mộc hỏa tịnh vượng, dụng thần chi tân kim thụ thương,do cử nhi tiến,nhi bất năng tuyển.
Dịch: Mệnh này không phải là được Thìn Tuất Sửu Mùi mà đẹp, cái may là Tân kim vượng và Thổ tú, nguyên thần trong Sửu thấu ra, phát tiết tinh anh (Sửu tàng Kỷ thổ, Quý thủy, Tân kim tất cả đều thấu thiên can), lại hay nữa là Mộc và Hỏa nằm ẩn trong chi không thấy, thuần thanh không bị hỗn tạp. Đến vận Dậu, Tân kim đắc địa, trúng bảng thi Hương; sau này vận đi về phương nam, Mộc và Hỏa đều vượng; Dụng thần Tân kim bị tổn thương, được cử lên, nhưng không được chọn.
戊辰 壬戌 辛未 己丑
癸亥 甲子 乙丑 丙寅 丁卯 戊辰
Bát tự:
Mậu Nhâm Tân Kỷ
Thìn Tuất Mùi Sửu
Đại vận:
Quý Giáp Ất Bính Đinh Mậu
Hợi Tý Sửu Dần Mão Thìn
此满局印绶,土重金埋,壬水用神伤尽,未辰虽藏乙木无冲,或可借用,以待运来引出,乃被丑戌冲破,藏金暗相砍伐,以至克妻无子。由此论之,四库必要冲者,执一之论也,全在天干调剂得宜,更须用神有力,岁运辅助,庶无偏枯之病也。
Thử mãn cục ấn thụ,thổ trọng kim mai,nhâm thủy dụng thần thương tận,Mùi Thìn tuy tàng Ất Mộc vô xung,hoặc khả tá dụng,dĩ đãi vận lai dẫn xuất,nãi bị Sửu Tuất xung phá,tàng kim ám tương khảm phạt,dĩ chí khắc thê vô tử。Do thử luận chi,tứ khố tất yêu xung giả, chấp nhất chi luận dã,toàn tại thiên can điều tề đắc nghi,cánh tu dụng thần hữu lực,tuế vận phụ trợ,thứ vô thiên khô chi bệnh dã.
Dịch: Mệnh cục này đầy Ấn thụ thổ, Thổ nhiều chôn Kim, Nhâm thủy làm Dụng thần bị tổn thương sạch, Mùi Thìn tuy có tàng Ất mộc không bị xung, có thể dùng tạm, chờ vận đến dẫn ra, lại bị Sửu và Tuất bị Mùi và Thìn xung phá, Kim tàng trong đó chạy ra chém Mộc, đến nổi khắc vợ không có con. Do đó mà thấy, Thìn Tuất Sửu Mùi chắc chắn là xung chỉ là một trong những luận cứ, toàn là do thiên can điều hòa hợp lý, lại thêm dụng thần phải có sức lực, thêm tuế vận phò trợ, tiếp nữa tứ trụ có bị bệnh thiên khô không.
支神只以冲为重,刑与穿兮动不动
Chi thần chỉ dĩ xung vi trọng, hình dữ xuyên hề động bất động
【原注】冲者必是相克,及四库兄弟之冲,所以必动;至于刑穿之间,又有相生相合者存,所以有动不动之异
Nguyên chú: Xung giả tất thị tương khắc, nãi tứ khố huynh đệ chi xung, sở dĩ tất động; chí vu hình xuyên chi gián, hựu hữu tương sinh tương hợp giả tồn, sở dĩ hữu động bất động chi dị.
【任氏曰】:
地支逢冲,犹天干之相克也,须视其强弱喜忌而论之。至于四库之冲,亦有宜不宜,如三月之辰,乙木司令,逢戌冲,则戌中辛金,亦能伤乙木;六月之未,丁火司令,逢丑冲,则丑中癸水,亦能伤丁火。按三月之乙、六月之丁,虽属退气,若得司令,竟可为用,冲则受伤,不足用矣。所谓暮库逢冲则发者,后人之谬也。暮者,坟暮之意;库者,木火金水收藏埋根之地,譬如得气之坟,未开动而发福者也
Nhâm thị viết: địa chi phùng xung,do thiên can chi tương khắc dã,tu thị kì cường nhược hỉ kị nhi luận chi。Chí vu tứ khố chi xung,diệc hữu nghi bất nghi,như tam nguyệt chi Thìn,Ất mộc ti lệnh,phùng Tuất xung,tắc Tuất trung Tân kim,diệc năng thương Ất mộc;lục nguyệt chi Mùi, Đinh hỏa ti lệnh,phùng Sửu xung,tắc Sửu trung Quý thủy, diệc năng thương Đinh hỏa。Án tam nguyệt chi Ất, lục nguyệt chi Đinh, tuy thuộc thoái khí,nhược đắc ti lệnh,cánh khả vi dụng,xung tắc thụ thương,bất túc dụng hĩ。Sở vị mộ khố phùng xung tắc phát giả,hậu nhân chi mậu dã。Mộ giả,phần mộ chi ý;khố giả,mộc hỏa kim thủy thu tàng mai căn chi địa,thí như đắc khí chi phần,vị khai động nhi phát phúc giả dã
Dịch: Nhâm thị nói: địa chi gặp xung, là do thiên can khắc nhau, phải xem cường nhược hỷ kỵ ra sao mà suy luận. Còn Thìn Tuất Sửu Mùi xung nhau, cũng có chỗ được và không được, như Thìn tháng 3, Ất mộc đương lệnh, gặp Tuất xung, thì Tân kim trong Tuất cũng có thể tổn thương Ất mộc; Mùi tháng 6, Đinh Hỏa đương lệnh, gặp Sửu xung, thì Quý thủy trong Sửu cũng có thể tổn thương Đinh hỏa. Án Ất tháng 3, Đinh tháng 6, tuy đang thoái khí, nhưng nếu đương lệnh, vẫn có thể là dụng thần, nếu bị xung tức bị thụ thương, không thể là dụng thần được. Còn có câu mộ khố gặp xung thì sẽ phát, đấy là lời nói láo của những kẻ sau này. Mộ, là chỉ mộ phần; khố, là chỉ chỗ dấu căn của mộc hỏa kim thủy, tỷ như phần mộ được khí, chưa mở ra là đã phát phúc rồi.
如木火金水之天干,地支无寅、卯、巳、午、申、酉、亥、子之禄旺,全赖辰戌丑未之身库通根,逢冲则微根拨尽,未有冲动而强旺者也。如不用司令,以土为喜神,冲之有益无损,盖土动则发生矣。刑之义无所取,如亥刑亥、辰刑辰、酉刑酉、午刑午,谓之自刑,本支见本支,自谓同气,何以相刑?子刑卯,卯刑子,是谓相生,何以相刑?戌刑未,未刑丑,皆为土气,更不当刑。寅刑巳,亦是相生,寅申相刑,即冲何必再刑?又曰子卯一刑也,寅巳申二刑也,丑戌未三刑也,故称三刑,又有自刑,此皆俗谬,姑置之。穿,即害也,六害由六合而来,冲我合神,故为之害,如子合丑而未冲,丑合子而午冲之类。子未之害,无非相克,丑午寅亥之害,乃是相生,何以为害?且刑既不足为凭,而害之义,尤为穿凿。总以论其生克为是,至于破之义,非害即刑也,尤属不经,削之可也
Như mộc hỏa kim thủy chi thiên can,địa chi vô dần, mão, tị, ngọ, thân, dậu, hợi, tý chi lộc vượng,toàn lại thìn tuất sửu mùi chi thân khố thông căn,phùng xung tắc vi căn bạt tận,vị hữu xung động nhi cường vượng giả dã。Như bất dụng ti lệnh,dĩ thổ vi hỉ thần,xung chi hữu ích vô tổn,cái thổ động tắc phát sinh hĩ。Hình chi nghĩa vô sở thủ,như hợi hình hợi, thìn hình thìn, dậu hình dậu, ngọ hình ngọ,vị chi tự hình,bản chi kiến bản chi,tự vị đồng khí,hà dĩ tương hình?Tý hình mão,mão hình tý,thị vị tương sinh,hà dĩ tương hình? Tuất hình mùi,mùi hình sửu,giai vi thổ khí,cánh bất đương hình。Dần hình tị, diệc thị tương sinh,dần thân tương hình,tức xung hà tất tái hình?hựu viết tý mão nhất hình dã,dần tị thân nhị hình dã,sửu tuất mùi tam hình dã,cố xưng tam hình,hựu hữu tự hình,thử giai tục mậu,cô trí chi。Xuyên,tức hại dã,lục hại do lục hợp nhi lai,xung ngã hợp thần, cố vi chi hại, như tý hợp sửu nhi mùi xung,sửu hợp tý nhi ngọ xung chi loại。Tý Mùi chi hại,vô phi tương khắc,sửu ngọ dần hợi chi hại,nãi thị tương sinh,hà dĩ vi hại? thả hình kí bất túc vi bằng,nhi hại chi nghĩa,vưu vi xuyên tạc。Tổng dĩ luận kì sinh khắc vi thị,chí vu phá chi nghĩa, phi hại tức hình dã,vưu thuộc bất kinh,tước chi khả dã.
Dịch: Như thiên can mộc, hỏa, kim, thủy mà không có địa chi dần, mão, tị, ngọ, thân, dậu, hợi, tý làm căn, chỉ dựa vào thìn tuất sửu mùi làm căn với thân, gặp xung thì căn nhỏ bé đó sẽ bị bật tận gốc, chẳng có chuyện xung động mà cường vượng được. Như nếu không dùng dụng thần, lấy thổ làm hỷ thần, xung thổ sẽ có ích không có tổn hại, bởi thổ động là phát sinh. Còn hình không thấy có nghĩa lý gì để nói, như hợi hình hợi, thìn hình thìn, dậu hình dậu, ngọ hình ngọ, gọi là tự hình, địa chi gặp chính nó, tức là đồng khí, tại sao lại tương hình? Tuất hình Mùi, Mùi hình Sửu, đều là khí Thổ, lại càng không thể là hình. Dần hình Tỵ, cũng là tương sinh, Dần Thân tương hình, đã xung rồi sao còn hình nữa? Lại nói Tý Mão là hình thứ nhất, Dần Tỵ Thân là hình thứ hai, Sửu Tuất Mùi là hình thứ ba, do đó gọi là tam hình, còn có ự hình, đều là nói ngoa, nên bỏ qua một bên. Xuyên, còn gọi là hại, lục hại là do lục hợp mà ra, xung ta không cho ta hợp tức là hại, như Tý hợp Sửu mà Mùi xung Sửu, Sửu hợp Tý mà Ngọ xung Tý vân vân. Mùi hại Tý, chính là tương khắc, Sửu Ngọ, Dần Hợi hại nhau, chính là tương sinh, tại sao lại gọi là hại? Với lại hình đã không có gì để làm bằng, nghĩa lý của hại lại càng xuyên tạc. Phải nên luận mệnh dùng sinh khắc là đủ, còn nói đến phá nữa, không hại thì hình, lại càng không ra đường lối gì, bỏ đi có thể được.
丙子 辛卯 壬子 癸卯
壬辰 癸巳 甲午 乙未 丙申 丁酉
Bát tự:
Bính Tân Nhâm Quý
Tý Mão Tý Mão
Đại vận:
Nhâm Quý Giáp Ất Bính Đinh
Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu
壬子日元,支逢两刃,干透癸辛,五行无土,年干丙火临绝,合辛化水,最喜卯旺提纲,泄其菁英,能化劫刃之顽。秀气流行,为人恭而有礼,和而中节。至甲运,木之元神发露,科甲连登;午运得卯木泄水生火,及乙未丙运,官至郡守,仕途平顺。以俗论之,子卯为无礼之刑,且伤官羊刃逢刑,必至傲慢无礼,凶恶多端矣。
Nhâm tý nhật nguyên,chi phùng lưỡng nhẫn,can thấu quý tân,ngũ hành vô thổ,niên can bính hỏa lâm tuyệt, hợp tân hóa thủy,tối hỉ mão vượng đề cương,tiết kì tinh anh,năng hóa kiếp nhẫn chi ngoan。Tú khí lưu hành,vi nhân cung nhi hữu lễ,hòa nhi trung tiết。Chí giáp vận,mộc chi nguyên thần phát lộ,khoa giáp liên đăng;ngọ vận đắc mão mộc tiết thủy sinh hỏa,cập ất mùi bính vận,
quan chí quận thủ,sĩ đồ bình thuận。Dĩ tục luận chi,tý mão vi vô lễ chi hình,thả thương quan dương nhẫn phùng hình,tất chí ngạo mạn vô lễ,hung ác đa đoan hĩ.
Dịch: Nhật chủ Nhâm Tý, địa chi có hai dương nhẫn Tý, can thấu Quý Tân, ngũ hành không có Thổ, can năm Bính hỏa tọa đất Tuyệt, hợp Tân hóa Thủy, thích nhất là nguyệt lệnh Mão, tiết tinh anh của Thủy, hóa được Kiếp Tài, Dương Nhẫn hung mãnh. Tú khí lưu hành (ý nói Kim Thủy thông?), con người cung cẩn mà có lễ độ, hòa mà trúng tiết (trung dung). Đến vận Giáp, nguyên thần của Mộc phát lộ (Giáp thấu can), trúng tuyển khoa giáp mấy lần; vận Ngọ (5 năm sau) được Mão mộc tiết Thủy sinh Hỏa, đến vận Ất Mùi, Bính, làm quan đến quận thú, con đường hoạn quan bình thản thuận lợi. Thầy bói thường thường hay luận rằng, Tý Mão là hình vô lễ, Thương Quan, Dương Nhẫn gặp hình là sẽ chỉ tới con người ngạo mạn vô lễ hung ác nhiều chuyện xấu hỷ.
辛未 乙未 庚辰 丁亥
甲午 癸巳 壬辰 辛卯 庚寅 己丑
Bát tự:
Tân Ất Canh Đinh
Mùi Mùi Thìn Hợi
Đại vận:
Giáp Quý Nhâm Tân Canh Kỷ
Ngọ Tỵ Thìn Mão Dần Sửu
庚辰日元,生于季夏,金进气,土当权,喜其丁火司令,元神发露而为用神,能制辛金之劫。未为火之余气,辰乃木之余气,财官皆通根有气,更妙亥水润土养金而滋木,四柱无缺陷。运走东南,金水虚,木火实,一生无凶无险。辰运午年,财、印皆有生扶,中乡榜,由琴堂而迁司马。寿至丑运。
Canh thìn nhật nguyên,sinh vu quý hạ,kim tiến khí,thổ đương quyền,hỉ kì đinh hỏa ti lệnh,nguyên thần phát lộ nhi vi dụng thần,năng chế tân kim chi kiếp。 Mùi vi hỏa chi dư khí,thìn nãi mộc chi dư khí,tài quan giai thông căn hữu khí,cánh diệu hợi thủy nhuận thổ dưỡng kim nhi tư mộc,tứ trụ vô khuyết hãm。Vận tẩu đông nam,kim thủy hư,mộc hỏa thật,nhất sinh vô hung vô hiểm。Thìn vận ngọ niên,tài, ấn giai hữu sinh phù,trúng hương bảng,do cầm đường nhi thiên ti mã。Thọ chí sửu vận.
Dịch: Nhật chủ Canh Thìn, sinh vào cuối hạ (Mùi), Kim tiến khí, Thổ đương quyền, thích Đinh hỏa đương lệnh, thấu can ở Đinh nên lấy làm Dụng thần, có thể chế ngự Kiếp Tài Tân kim. Mùi có dư khí của Hỏa, Thìn có dư khí của Mộc, Tài Quan đều có căn có khí, lại hay nữa là Hợi thủy làm nhuận Thổ dưỡng Kim lại sinh Mộc, tứ trụ không bị thiếu hay lõm. Vận đi hướng đông nam, Kim Thủy hư nhược, Mộc Hỏa thực chất, một đời không có hung hiểm. Vận Thìn, năm Ngọ, Tài, Ấn đều có có sinh phù, đổ thi Hương, từ cầm đường qua Tư Mã. Thọ đến vận Sửu.
辛丑 乙未 庚辰 丁丑
甲午 癸巳 壬辰 辛卯 庚寅 己丑
Bát tự:
Tân Ất Canh Đinh
Sửu Mùi Thìn Sửu
Đại vận:
Giáp Quý Nhâm Tân Canh Kỷ
Ngọ Tỵ Thìn Mão Dần Sửu
此与前造大同小异,财官亦通根有气,前则丁火司令,此则己土司令。更嫌丑时,丁火熄灭,则年干辛金肆逞,冲去未中木火微根,财官虽有若无。初运甲午,木火并旺,荫庇有余;一交癸巳,克丁拱丑,伤劫并旺,刑丧破耗;壬辰运,妻子两伤,家业荡然无存,削发为僧。以俗论之,丑未冲开财官两库,名利两全也。
Thử dữ tiền tạo đại đồng tiểu dị,tài quan diệc thông căn hữu khí,tiền tắc đinh hỏa ti lệnh,thử tắc kỉ thổ ti lệnh。Canh hiềm sửu thời,đinh hỏa tức diệt,tắc niên can tân kim tứ sính,xung khứ mùi trung mộc hỏa vi căn,tài quan tuy hữu nhược vô。Sơ vận giáp ngọ,mộc hỏa tịnh vượng,ấm tí hữu dư;nhất giao quý tị,khắc đinh củng sửu,thương kiếp tịnh vượng,hình tang phá háo;nhâm thìn vận,thê tử lưỡng thương,gia nghiệp đãng nhiên vô tồn,tước phát vi tăng。Dĩ tục luận chi,sửu mùi xung khai tài quan lưỡng khố,danh lợi lưỡng toàn dã.
Mệnh này so với mệnh trước giống nhiều hơn khác, Tài Quan cũng đều có căn có khí, mệnh trước thì Đinh Hỏa đương lệnh, mệnh này thì Kỷ thổ đương lệnh. Canh kim và Sửu làm mờ Đinh hỏa ở giờ, can năm Tân kim có gốc Kim trong Sửu tung hoành, Sửu Mùi xung hết Mộc Hỏa trong Mùi, Tài Quan tuy có mà không. Vận đầu Giáp Ngọ, Mộc Hỏa đều vượng, tuổi thơ đùm bọc; chạy qua Quý Tỵ, Đinh hỏa bị khắc bởi Tỵ (Dậu) Sửu củng Kim, Thương Quan và Kiếp Tài đêu vượng, nhà cửa tan nác; vận Nhâm Thìn, Thủy vượng, vợ con đều bị tổn thương, sản nghiệp sạch bách, cắt tóc đi tu. Nếu thầy bói thường luận thì, Sửu Mùi xung khai Tài Quan hai khố, danh lợi đều có đủ.
暗冲暗会尤为喜,彼冲我兮皆冲起
Ám xung ám hội vưu vi hỷ
Bỉ xung ngã hề giai xung khởi
【原注】如柱中无所缺之局,取多者暗冲暗会,冲起暗神,而来会合暗神,比明冲明会尤佳,子来冲午,寅与戌会午是也。是日为我,提纲为彼;提纲为我,年时为彼;四柱为我,运途为彼;运途为我,岁月为彼。如我寅彼申,申能克寅,是彼冲我;我子彼午,子能克午,是我冲彼。皆为冲起
Nguyên chú: như trụ trung vô sở khuyết chi cục,thủ đa giả ám xung ám hội,xung khởi ám thần,nhi lai hội hợp ám thần,tỉ minh xung minh hội vưu giai,tí lai xung ngọ, dần dữ tuất hội ngọ thị dã。Thị nhật vi ngã,đề cương vi bỉ;đề cương vi ngã,niên thời vi bỉ;tứ trụ vi ngã,vận đồ vi bỉ;vận đồ vi ngã,tuế nguyệt vi bỉ。Như ngã dần bỉ thân,thân năng khắc dần,thị bỉ xung ngã;ngã tí bỉ ngọ,tí năng khắc ngọ,thị ngã xung bỉ。Giai vi xung khởi.
【任氏曰】:
支中逢冲,固非美事,然八字缺陷者多,停匀者少。木火旺,金水必乏矣;金水旺,木火必乏矣。若旺而有余者冲去之,衰而不足者会助之为美。如四柱无冲会之神,得岁运暗来冲会尤为喜也。盖有病得良剂以生也。然冲有彼我之分,会有去来之理。彼我者,不必分年时为彼,日月为我,亦不必分四柱为我,岁运为彼也,总之喜神是我,忌神为彼可也。如喜神是午,逢子冲,是彼冲我,喜与寅戌会为吉;喜神是子逢午冲,是我冲彼,忌寅与戌会为凶。如喜神是子,有申得辰会而来之为吉;喜神是亥,有未得卯会而去之则凶。宁可我去冲彼,不可彼来冲我。我去冲彼,谓之冲起;彼来冲我,谓之不起。水火之冲会如此,余可类推
Nhâm thị viết: Chi trung phùng xung,cố phi mĩ sự, nhiên bát tự khuyết hãm giả đa,đình quân giả thiểu。Mộc hỏa vượng,kim thủy tất phạp hĩ;kim thủy vượng,mộc hỏa tất phạp hĩ。Nhược vượng nhi hữu dư giả xung khứ chi,suy nhi bất túc giả hội trợ chi vi mĩ。Như tứ trụ vô xung hội chi thần,đắc tuế vận ám lai xung hội vưu vi hỉ dã。Cái hữu bệnh đắc lương tề dĩ sinh dã。Nhiên xung hữu bỉ ngã chi phân,hội hữu khứ lai chi lí。Bỉ ngã giả,bất tất phân niên thời vi bỉ,nhật nguyệt vi ngã,diệc bất tất phân tứ trụ vi ngã,tuế vận vi bỉ dã,tổng chi hỉ thần thị ngã,kị thần vi bỉ khả dã。Như hỉ thần thị ngọ,phùng tí xung,thị bỉ xung ngã,hỉ dữ dần tuất hội vi cát;hỉ thần thị tí phùng ngọ xung,thị ngã xung bỉ,kị dần dữ tuất hội vi hung。Như hỉ thần thị tí,hữu thân đắc thìn hội nhi lai chi vi cát;hỉ thần thị hợi,hữu mùi đắc mão hội nhi khứ chi tắc hung。Ninh khả ngã khứ xung bỉ,bất khả bỉ lai xung ngã。Ngã khứ xung bỉ, vị chi xung khởi;bỉ lai xung ngã, vị chi bất khởi。Thủy hỏa chi xung hội như thử,dư khả loại thôi.
Dịch: Nhâm thị nói: Gặp xung trong chi, chắc chắn không phải là điều hay, nhưng đa phần bát tự đều bị khuyết lõm, ít có bát tự được quân bình. Mộc Hỏa vượng, thì Kim Thủy thiếu; Kim Thủy vượng thì Mộc Hỏa sẽ thiếu. Nếu vượng mà nhiều xung nó đi, thì suy mà không đủ sẽ bang trợ nó là chuyện hay. Nếu tứ trụ không có xung không có hội, khi có vận, và lưu niên lại xung và hội thì càng hay nữa. Bởi có bệnh mà được thuốc để sống lại. Nhưng xung cũng phân ra ta và họ, hội cũng có cái lý lại và bỏ đi. Họ và ta, không cần phải phân ra họ là giờ, ta là ngày và tháng, cũng chẳng cần phân tứ trụ là ta, vận tuế là họ, tổng chi, hỷ thần là ta mà kỵ thần là họ là được rồi. Như hỷ thần là Ngọ, gặp Tý xung, là họ xung ta, hỷ thần hội với Dần Tuất (thành cục Hỏa) là lành. Hỷ thần là Tý gặp Ngọ xung, là ta xung họ, kỵ Dần Tuất hội với Ngọ (thành cục Hỏa) là dữ. Như hỷ thần là Tý, có Thân được Thìn lại hội là lành; hỷ thần là Hợi, có Mùi được Mão lại hội mà bị khử đi thì gọi là dữ. Thà là ta xung họ, không được để họ xung ta. Ta xung họ gọi là xung được; họ xung ta, gọi là không được xung. Thủy Hỏa xung hội như vậy, ta có thể loại suy ra.
庚戌 乙酉 甲寅 庚午
丙戌 丁亥 戊子 己丑 庚寅 辛卯
Bát tự:
Canh Ất Giáp Canh
Tuất Dậu Dần Ngọ
Đại vận:
Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân
Tuất Hợi Tý Sửu Dần Mão
此造干透两庚,正当秋令,支会火局,虽制杀有功,而克泄并见。且庚金锐气方盛,制之以威,不若化之以德。化之以德者,有益于日主也;制之以威者,泄日主之气也。由此推之,不喜会火局也,反以火为病矣。故子运辰年大魁天下。子运冲破火局,去午之旺神也,引通庚金之性,益我日主之气;辰年湿土,能泄火气,拱我子水,培日主之根源也。
Thử tạo can thấu lưỡng canh,chính đương thu lệnh,chi hội hỏa cục,tuy chế sát hữu công,nhi khắc tiết tịnh kiến。Thả canh kim nhuệ khí phương thịnh,chế chi dĩ uy, bất nhược hóa chi dĩ đức。Hóa chi dĩ đức giả,hữu ích vu nhật chủ dã;chế chi dĩ uy giả,tiết nhật chủ chi khí dã。 Do thử thôi chi,bất hỉ hội hỏa cục dã,phản dĩ hỏa vi bệnh hĩ。Cố tí vận thìn niên đại khôi thiên hạ。Tí vận xung phá hỏa cục,khứ ngọ chi vượng thần dã,dẫn thông canh kim chi tính,ích ngã nhật chủ chi khí;thìn niên thấp thổ, năng tiết hỏa khí,củng ngã tí thủy,bồi nhật chủ chi căn nguyên dã.
Dịch: Mệnh này Canh kim thấu 2 can, Kim đương lệnh, địa chi Dần Ngọ Tuất tam hợp thành Hỏa cục, tuy chế Sát có công, nhưng phải có cả khắc và tiết. Với lại Canh kim thế đang vượng thịnh, chế Kim dùng uy không bằng hóa Kim bằng đức. Hóa Kim, có ích cho nhật chủ (Thủy hóa Kim sinh Mộc); chế Kim sẽ tiết khí của nhật chủ. Do đó mà suy ra là không nên hội Hỏa cục, ngược lại đó là bệnh Hỏa nhỉ. Vì thế mà vận Tý, năm Thìn, thống nhất thiên hạ. Vận Tý xung phá Hỏa cục, khử đi vượng thần Ngọ, dẫn thông Canh kim qua Thủy, tăng khí của nhật chủ Giáp mộc; Năm Thìn là Thổ ướt, có thể tiết Hỏa khí, bán hợp cục Thủy (Thân Tý Thìn), bồi dưỡng căn nguyên nhật chủ.
丁巳 癸丑 丁卯 丙午
壬子 辛亥 庚戌 己酉 戊申 丁未
Bát tự:
Đinh Quý Đinh Bính
Tỵ Sửu Mão Ngọ
Đại vận:
Nhâm Tân Canh Kỷ Mậu Đinh
Tý Hợi Tuất Dậu Thân Mùi
丁火虽生季冬,比劫重重,癸水退气,无力制劫,不足为用。必以丑中辛金为用,得丑土包藏,泄劫生财,为辅用之喜神也。所嫌者,卯木生劫夺食为病,以致早年妻子刑伤。初运壬子辛亥,暗冲巳午之火,荫庇有余。庚戌运暗来拱合午火,刑伤破耗;至己酉会金局冲去卯木之病,财发十余万。由此观之,暗冲其忌神,暗会其喜神,发福不浅;暗冲其喜神,暗会其忌神,为祸非轻。暗冲暗会之理,其可忽乎?
Đinh hỏa tuy sinh quý đông,tỉ kiếp trùng trùng,quý thủy thoái khí,vô lực chế kiếp,bất túc vi dụng。Tất dĩ sửu trung tân kim vi dụng,đắc sửu thổ bao tàng,tiết kiếp sinh tài,vi phụ dụng chi hỉ thần dã。Sở hiềm giả,mão mộc sinh kiếp đoạt thực vi bệnh,dĩ trí tảo niên thê tử hình thương。Sơ vận nhâm tí tân hợi,ám xung tị ngọ chi hỏa, ấm tí hữu dư。Canh tuất vận ám lai củng hợp ngọ hỏa, hình thương phá háo;chí kỉ dậu hội kim cục xung khứ mão mộc chi bệnh,tài phát thập dư vạn。Do thử quan chi,ám xung kì kị thần,ám hội kì hỉ thần,phát phúc bất thiển;ám xung kì hỉ thần,ám hội kì kị thần,vi họa phi khinh。 Ám xung ám hội chi lí,kì khả hốt hồ.
Dịch: Đinh hỏa tuy sinh cuối đông, Tỷ Kiếp trùng điệp, Quý thủy thoái khí, không có sức chế Kiếp Tài, không đủ làm Dụng thần. Phải lấy Kim trong Sửu làm dụng thần, được Sửu thổ bao bọc, lại có Thổ tiết Kiếp sinh Tài, làm hỷ thần phụ giúp cho dụng thần. Chỉ hiềm là, Mão mộc kề bên sinh Kiếp đoạt Thực thổ làm bệnh, đến nổi lúc đầu vợ con đều bị tổn thương. Vận đầu Nhâm Tý, Tân Hợi, ám xung Tý Ngọ khử Hỏa của Ngọ, tuổi thơ no đủ. Vận Canh Tuất ám củng Ngọ Tuất Hỏa, thương tổn, hao phá; đến vận Kỷ Dậu ám hội Tỵ Dậu Sửu cục Kim, Mão Dậu xung mất đi Mão (là bệnh đoạt Thực), mới phát tài hơn mười vạn. Do đó mà thấy, ám xung kỵ thần, ám hội hỷ thần, phát phúc không ít; ám xung hỷ thần, ám hội kỵ thần, gây họa không nhỏ. Cái lý ám xung ám hội, thật không thể sơ hốt được.
庚寅 辛巳 丙寅 辛卯
壬午 癸未 甲申 乙酉 丙戌 丁亥
Bát tự:
Canh Tân Bính Tân
Dần Tỵ Dần Mão
Đại vận:
Nhâm Quý Giáp Ất Bính Đinh
Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi
丙火生于孟夏,地支两寅一卯,巳火乘权,引出寅中丙火,天干虽逢庚辛,皆虚浮无根。初运壬午癸未无根之水,能泄金气,地支午未南方,又助旺火,财之气克泄已尽,祖业虽丰,刑丧早见。甲运临申,本无大患,因流年木火,又刑妻克子,家计萧条。一交申字,暗冲寅木之病,天干浮财通根,如枯苗得雨,勃然而兴。及乙酉十五年,自财数倍于祖业,申运驿马逢财,出外大利,经营得财十余万。丙戌运丙子年,凶多吉少,得风疾不起,比肩争财,乃临绝地,子水不足以克火,反生寅卯之木故也。
Bính hỏa sinh vu mạnh hạ,địa chi lưỡng dần nhất mão,tị hỏa thừa quyền,dẫn xuất dần trung bính hỏa,thiên can tuy phùng canh tân,giai hư phù vô căn。Sơ vận nhâm ngọ quý mùi vô căn chi thủy,năng tiết kim khí,địa chi ngọ mùi nam phương,hựu trợ vượng hỏa,tài chi khí khắc tiết dĩ tận,tổ nghiệp tuy phong,hình tang tảo kiến。Giáp vận lâm thân,bản vô đại hoạn,nhân lưu niên mộc hỏa,hựu hình thê khắc tử,gia kế tiêu điều。Nhất giao thân tự,ám xung dần mộc chi bệnh,thiên can phù tài thông căn,như khô miêu đắc vũ,bột nhiên nhi hưng。Cập ất dậu thập ngũ niên,tự tài số bội vu tổ nghiệp,thân vận dịch mã phùng tài,xuất ngoại đại lợi,kinh doanh đắc tài thập dư vạn。Bính tuất vận bính tí niên,hung đa cát thiểu,đắc phong tật bất khởi,tỉ kiên tranh tài, nãi lâm tuyệt địa,tí thủy bất túc dĩ khắc hỏa,phản sinh dần mão chi mộc cố dã.
Dịch: Bính Hỏa sinh vào đầu mùa hạ, địa chi có 2 Dần 1 Mão, Tỵ Hỏa đương lệnh, đẩy Bính hỏa trong Dần ra, thiên can tuy có Canh Tân kim, nhưng không có căn. Vận đầu Nhâm Ngọ, Quý Mùi Thủy không có căn chỉ tiết khí Kim, địa chi Ngọ Mùi hướng nam, trợ thêm cho Hỏa vượng, khắc Tài kiệt quệ, tổ nghiệp tuy nhiều đã sớm hao hết. Vận Giáp Thân, vốn không có đại hoạn, bởi lưu niên có Mộc Hỏa, nên hình vợ khắc con, gia kế tiêu điều. Rồi vừa đến chữ Thân, ám xung ngay Dần, khử đi bệnh Hỏa vượng, thiên can Tài hư phù có được căn Kim, như mạ khô được mưa rào, bùng lên hưng thịnh. Đến vận Ất Dậu được 15 năm, tụ tài còn gấp bội tổ nghiệp, vận Thân Dịch Mã gặp Tài, lợi xuất ngoại, kinh doanh phát tài hơn mười vạn. Vận Bính Tuất năm Bính Tý, dữ nhiều lành ít, bị bệnh tê thấp không dậy nổi, Tỷ Kiên tranh Tài, lâm vào tuyệt địa, nguyên do Tý thủy không đủ chế Hỏa, ngược lại còn sinh thêm Mộc.
旺者冲衰衰者拔,衰神冲旺旺神发
Vượng giả xung suy suy giả bạt
Suy thần xung vượng vượng thần phát
【原注】子旺午衰,冲则午拔不能立;子衰午旺,冲则午发而为福。余仿此
Nguyên chú: Tý vượng ngọ suy, xung tắc ngọ bạt bất năng lập; Tý suy ngọ vượng, xung tắc ngọ phát nhi vi phúc. Dư phảng thử
【任氏曰】:
十二支相冲,各支中所藏互相冲克,在原局为明冲,在岁运为暗冲。得令者冲衰则拔,失时者冲旺无伤。冲之者有力,则能去之,去凶神则利,去吉神则不利;冲之者无力,则反激之,激凶神则为祸,激吉神虽不为祸,亦不能获福也。如日主是午,或喜神是午,支中有寅卯巳未戌之类,遇子冲谓衰神冲旺,无伤;日主午,或喜神是午,支中有申酉亥子丑辰之类,遇子冲,谓旺者冲衰则拔。余支皆然。然以子、卯、午、酉、寅、申、巳、亥八支为重,辰、戌、丑、未较轻。如子午冲,子中癸水冲午中丁火,如午旺提纲,四柱无金而有木,则午能冲子;卯酉冲,酉中辛金,冲卯中乙木,如卯旺提纲,四柱有火而无土,则卯亦能冲酉;寅申冲,寅中甲木丙火,被申中庚金壬水所克,然寅旺提纲,四柱有火,则寅亦能冲申矣;巳亥冲,巳中丙火戊土,被亥中甲木壬水所克,然巳旺提纲,四柱有木,则巳亦能冲亥矣。必先察其衰旺,四柱有无解救,或抑冲,或助泄,观其大势,究其喜忌,则吉凶自验矣。至于四库兄弟之冲,其蓄藏之物,看其四柱干支,有无引出。如四柱之干支,无所引出,及司令之神,又不关切,虽冲无害,合而得用亦为喜。原局与岁运皆同此论
Nhâm thị viết: thập nhị chi tương xung,các chi trung sở tàng hỗ tương xung khắc, tại nguyên cục vi minh xung,tại tuế vận vi ám xung。Đắc lệnh giả xung suy tắc bạt,thất thời giả xung vượng vô thương。Xung chi giả hữu lực,tắc năng khứ chi,khứ hung thần tắc lợi,khứ cát thần tắc bất lợi;xung chi giả vô lực,tắc phản kích chi,kích hung thần tắc vi họa,kích cát thần tuy bất vi họa, diệc bất năng hoạch phúc dã。Như nhật chủ thị ngọ,hoặc hỉ thần thị ngọ,chi trung hữu dần mão tị mùi tuất chi loại, ngộ tí xung vị suy thần xung vượng,vô thương;nhật chủ ngọ,hoặc hỉ thần thị ngọ,chi trung hữu thân dậu hợi tí sửu thìn chi loại,ngộ tí xung, vị vượng giả xung suy tắc bạt。Dư chi giai nhiên。Nhiên dĩ tí, mão, ngọ, dậu, dần, thân, tị, hợi bát chi vi trọng,thìn, tuất, sửu, mùi giác khinh。Như tí ngọ xung,tí trung quý thủy xung ngọ trung đinh hỏa,như ngọ vượng đề cương,tứ trụ vô kim nhi hữu mộc,tắc ngọ năng xung tí;mão dậu xung,dậu trung tân kim,xung mão trung ất mộc,như mão vượng đề cương,tứ trụ hữu hỏa nhi vô thổ,tắc mão diệc năng xung dậu;dần thân xung,dần trung giáp mộc bính hỏa,bị thân trung canh kim nhâm thủy sở khắc,nhiên dần vượng đề cương,tứ trụ hữu hỏa,tắc dần diệc năng xung thân hĩ;tị hợi xung,tị trung bính hỏa mậu thổ,bị hợi trung giáp mộc nhâm thủy sở khắc,nhiên tị vượng đề cương,tứ trụ hữu mộc, tắc tị diệc năng xung hợi hĩ。Tất tiên sát kì suy vượng,tứ trụ hữu vô giải cứu,hoặc ức xung,hoặc trợ tiết,quan kì đại thế,cứu kì hỉ kị,tắc cát hung tự nghiệm hĩ。Chí vu tứ khố huynh đệ chi xung,kì súc tàng chi vật,khán kì tứ trụ can chi,hữu vô dẫn xuất。Như tứ trụ chi can chi,vô sở dẫn xuất,cập ti lệnh chi thần,hựu bất quan thiết,tuy xung vô hại,hợp nhi đắc dụng diệc vi hỉ。Nguyên cục dữ tuế vận giai đồng thử luận.
Dịch: Nhâm thị nói: 12 chi tương xung, ngũ hành trong chi hỗ tương xung khắc qua lại, trong mệnh cục gọi là minh xung, ở tuế và vận gọi là ám xung. Chi đắc lệnh xung chi suy sẽ nhổ mất chi suy, chi thất thời xung chi vượng không sao cả. Chi xung nó có lực sẽ khử nó đi, khử hung thần thì có lợi, khử cát thần thì bất lợi; Chi xung nó không có lực sẽ bị nó phản kích, hung thần phản kích là có họa, cát thần phản kích không có họa nhưng cũng không được phúc gì. Ví dụ như nhật chủ là Ngọ, hoặc hỷ thần là Ngọ, trong trụ có Dần Mão Tỵ Mùi Tuất, gặp Tý xung gọi là suy thần xung vượng thần, không sao cả; Nhật chủ Ngọ, hoặc hỷ thần là Ngọ, trong trụ có Thân Dậu Hợi Tý Sửu, gặp Tý xung, gọi là vượng thần xung suy thần, xung là bị nhổ đi. Các chi khác đều như thế. Nhưng lấy Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Dần, Thần, Tỵ, Hợi tàm chi là nặng, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi nhẹ hơn. Như Tý Ngọ xung, Quý thủy trong Tý xung Đinh hỏa trong Ngọ, nếu Ngọ vượng đương lệnh, tứ trụ không có Kim mà có Mộc, thì Ngọ cũng có thể xung Tý; Mão Dậu xung, Tân kim trong Dậu xung Ất mộc trong Mão, nếu Mão vượng đương lệnh, tứ trụ có Hỏa mà không có Thổ, thì Mão cũng có thể xung Dậu; Dần Thân xung, Giáp mộc, Bính hỏa trong Dần bị Can kim, Nhâm thủy trong Thân khắc, nhưng Dần vượng đương lệnh, tứ trụ có Hỏa, thì Dần cũng có thể xung Thân hỷ; Tỵ Hợi xung, Bính hỏa, Mậu thổ trong Tỵ bị Nhâm thủy, Giáp mộc trong Hợi khắc, nhưng nếu Tỵ vượng đương lệnh, tứ trụ có Mộc, thì Tỵ cũng có thể xung được Hợi. Phải trước hết xem xét các ngũ hành suy vượng ra sao, tứ trụ có giải cứu được không, hoặc nhổ đi chi xung, hoặc bang trợ chi nhược, xem đại thế ra sao, xét hỷ kỵ thế nào, thì lành dữ sẽ tự nghiệm ra hỷ. Còn tứ khố Thìn Tuất Sửu Mùi xung nhau, ngũ hành nằm trong chi, xem tứ trụ can chi có dẫn ra được không. Như nếu tứ trụ can chi không dẫn ra được ngũ hành gì, còn thần dương lệnh thì cũng không quan thiết, tuy xung cũng không sao, hợp mà dùng được thì cũng là vui. Nguyên cục và tuế vận đều luận như thế cả.
戊辰 辛酉 丙午 癸巳
壬戌 癸亥 甲子 乙丑 丙寅 丁卯
Bát tự:
Mậu Tân Bính Quý
Thìn Dậu Ngọ Tỵ
Đại vận:
Nhâm Quý Giáp Ất Bính Đinh
Tuất Hợi Tý Sửu Dần Mão
此造旺财当令,加以年上食神生助,日逢时禄,不为无根,所以身出富家。时透癸水,巳火失势,逢酉邀而拱金矣。五行无木,全赖午火帮身,则癸水为病明矣。一交子运,癸水得禄,子辰拱水,酉金党子冲午,四柱无解救之神,所谓“旺者冲衰衰者拔”,破家亡身。若运走东南木火之地,岂不名利两全乎?
Thử tạo vượng tài đương lệnh,gia dĩ niên thượng thực thần sinh trợ,nhật phùng thời lộc,bất vi vô căn,sở dĩ thân xuất phú gia。Thời thấu quý thủy,tị hỏa thất thế,phùng dậu yêu nhi củng kim hĩ。Ngũ hành vô mộc,toàn lại ngọ hỏa bang thân,tắc quý thủy vi bệnh minh hĩ。Nhất giao tí vận,quý thủy đắc lộc,tí thìn củng thủy,dậu kim đảng tí xung ngọ,tứ trụ vô giải cứu chi thần,sở vị vượng giả xung suy suy giả bạt,phá gia vong thân。Nhược vận tẩu đông nam mộc hỏa chi địa,khởi bất danh lợi lưỡng toàn hồ.
Dịch: Mệnh này Tài vượng đương lệnh, thêm vào đó, Thực Thần ở trụ năm sinh trợ, nhật chủ có lộc ở giờ, không phải là không có căn, do đó mà sinh trong gia đình giàu có. Trụ giờ thấu Quý thủy, Tị hỏa thất thế, gặp Dậu muốn bán hợp cục Kim (Tỵ Dậu Sửu). Ngũ hành không có Mộc, toàn nhờ vào Ngọ hỏa trợ thân, bệnh Quý thủy rõ ràng hỷ. Một khi vào vận Tý, Quý thủy được lộc, Tý Thìn bán hợp cục Thủy, Dậu kim một đảng với Tý lại xung Ngọ, tứ trụ không có ngũ hành giải cứu, chính là hành vượng xung hành suy, hành suy bị nhổ đi, nhà phá mạng vong. Nếu vận đi về hướng đông nam đất của Mộc Hỏa, không phải là danh lợi đều có sao.
庚寅 壬午 丁卯 癸卯
癸未 甲申 乙酉 丙戌 丁亥 戊子
Bát tự:
Canh Nhâm Đinh Quý
Dần Ngọ Mão Mão
Đại vận:
Quý Giáp Ất Bính Đinh Mậu
Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý
此财官虚露无根,枭比当权得势,以四柱观之,贫夭之命。前造身财并旺,反遭破败无寿,此则财官休囚,劫业有寿,不知彼则无木,逢水冲则拔,此则有水,遇火劫有救。至甲申乙酉运,庚金禄旺,壬癸逢生,又冲去寅卯之木,所谓“衰神冲旺旺神发”,骤然发财巨万。“命好不如运好”,信斯言也!
Thử tài quan hư lộ vô căn,kiêu tỉ đương quyền đắc thế,dĩ tứ trụ quan chi,bần yểu chi mệnh。Tiền tạo thân tài tịnh vượng,phản tào phá bại vô thọ,thử tắc tài quan hưu tù,kiếp nghiệp hữu thọ,bất tri bỉ tắc vô mộc,phùng thủy xung tắc bạt,thử tắc hữu thủy,ngộ hỏa kiếp hữu cứu。Chí giáp thân ất dậu vận,canh kim lộc vượng,nhâm quý phùng sinh,hựu xung khứ dần mão chi mộc,sở vị suy thần xung vượng vượng thần phát,sậu nhiên phát tài cự vạn。Mệnh hảo bất như vận hảo,tín tư ngôn dã.
Dịch: Mệnh này Tài Quan lộ trên can mà không có rễ, Kiêu và Tỷ đương quyền đắc thế, xem tứ trụ, là một mệnh vừa bần vừa yểu. Mệnh trước Thân và Tài đều vượng, ngược lại lại bị phá hư không thọ, mệnh này thì Tài Quan bị hưu tù, nhưng Kiếp có thọ (nhật chủ có căn), có biết đâu, mệnh trước không có Mộc, gặp Thủy xung là bị nhổ đi, mệnh này có Thủy gặp Hỏa, Kiếp Tài cứu được. Đến vận Giáp Thân, Ất Dậu, Canh kim lộc vượng, Nhâm và Quý được sinh, lại xung đi mộc của Dần (Dần Thân), Mão (Mão Dậu), gọi là ngũ hành suy xung ngũ hành vượng, ngũ hành vượng hưng phát lên, thình lình phát tài cự vạn. Mệnh tốt không bằng vận tốt, thật tin câu đó.

Vui lòng Đăng nhập để tham gia cuộc hội thoại.

Trích Thiên Tủy chương V 31 08 2020 05:03 #2

CHƯƠNG VII THIÊN CAN
________________________________________
五阳皆阳丙为最,五阴皆阴癸为至。
Ngũ dương giai dương bính vi tối
Ngũ âm giai âm quý vi chí
【原注】甲、丙、戊、庚、壬为阳,独丙火秉阳之精,而为阳中之阳;乙、丁、己、辛、癸为阴,独癸水秉阴之精,而为阴中之阴。
Nguyên chú: Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm vi dương, độc Bính hỏa bỉnh dương chi tinh, nhi vi dương trung chi dương; Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý vi âm, độc Quý thủy bỉnh âm chi tinh, nhi vi âm trung chi âm.
【任氏曰】:
Nhâm thị viết:
丙乃纯阳之火,万物莫不由此而发,得此而敛;癸乃纯阴之水,万物莫不由此而生,得此而茂。阳极则阴生,故丙辛化水;阴极则阳生,故戊癸化火。阴阳相济,万物有生生之妙。
Bính nãi thuần dương chi hỏa, vạn vật mạc bất do thử nhi phát, đắc thử nhi liễm; Quý nãi thuần âm chi thủy, vạn vật mạc bất do thử nhi sinh, đắc thử nhi mậu. Dương cực tắc âm sinh, cố Bính Tân hóa thủy; Âm cực tắc dương sinh, cố Mậu Quý hóa hỏa. Âm dương tương tế, vạn vật hữu sinh sinh chi diệu.
Dịch: Bính là hỏa của thuần dương, vạn vật đều từ đó mà phát ra, được đó mà thu nhận; Quý là thủy của thuần dương, vạn vật đều từ đó mà sinh ra, được đó mà sinh sôi nãy nở. Dương cực thì âm sinh, do đó mà Bính Tân hóa thành thủy; Âm cực thì dương sinh, do đó mà Mậu Quý hóa thành hỏa. Âm dương hỗ tương với nhau, vạn vật cứ thế mà sinh nở diệu kỳ.
夫十干之气,以先天言之,固一原同出,以后天言之,亦一气相包。甲乙一木也,丙丁一火也,戊己一土也,庚辛一金也,壬癸一水也,即分别所用,不过阳刚阴柔,阳健阴顺而已。窃怪命家作歌为赋,比拟失伦,竟以甲木为梁栋,乙木为花果;丙作太阳,丁作灯烛;戊作城墙,己作田园;庚为顽铁,辛作珠玉;壬为江河,癸为雨露。相沿已久,牢不可破,用之论命,诚大谬也。如谓甲为无根死木,乙为有根活木,同是木而分生死,岂阳木独禀死气,阴木独禀生气乎?又谓活木畏水泛,死木不畏水泛,岂活木遇水且漂,而枯槎遇水反定乎?论断诸干,如此之类,不一而足,当尽避之,以绝将来之谬。
Phu thập can chi khí, dĩ tiên thiên ngôn chi, cố nhất nguyên đồng xuất, dĩ hậu thiên ngôn chi, diệc nhất khí tương bao. Giáp Ất nhất mộc dã, Bính Đinh nhất hỏa dã, Mậu Kỷ nhất thổ dã, Canh Tân nhất kim dã, Nhâm Quý nhất thủy dã, tức phân biệt sở dụng, bất quá dương cương âm nhu, dương kiện âm thuận nhi dĩ. Thiết quái mệnh gia tác ca vi phú, tỷ ức thất luận, cánh dĩ Giáp mộc vi lương đống, Ất mộc vi hoa quả; Bính tác thái dương, Đinh tác đăng chúc; Mậu tác thành tường, kỷ tác điền viên; Canh vi ngoan thiết, Tân vi châu ngọc; Nhâm vi giang hà, Quý vi vũ lộ. Tương duyên dĩ cửu, lao bất khả phá, dụng chi luận mệnh, thành đại mậu dã. Như vị Giáp vi vô căn tử mộc, Ất vi hữu căn hoạt mộc, đồng thị Mộc nhi phân sinh tử, khởi dương mộc độc bẩm tử khí, âm mộc độc ẩm sinh khí hồ? Hựu vị hoạt mộc úy thủy phiếm, tử mộc bất úy thủy phiếm, khởi hoạt mộc ngộ thủy thả phiêu, nhi khô tra ngộ thủy phản định hồ? Luận đoán chư can, như thử chi loại, bất nhất nhi túc, đương tận tỵ chi, dĩ tuyệt tương lai chi mậu.
Dịch: Bởi khí của thập can, tiên thiên mà nói, là đồng xuất ở một nguồn, hậu thiên mà nói, là được một khí bao bọc. Giáp Ất cùng là Mộc, Bính Đinh cùng là hỏa, Mậu Kỷ cùng là thổ, Canh Tân cùng là kim, Nhâm Quý cùng là thủy, phân biệt để dùng, chẳng qua dương thì cương mà âm thì nhu, dương thì kiện mà âm thì thuận thế thôi. Riêng trách những mệnh gia làm bài ca bài phú, so sánh âm dương trật lất, đi cho Giáp mộc là gỗ rường cột, Ất mộc là hoa quả; cho Bính là mặt trời, Đinh là đèn đuốc; Mậu là thành, tường còn Kỷ là ruộng vườn; Canh là sắt thép còn Tân là châu ngọc; Nhâm là sông bể còn Quý là mưa, sương. Truyền xuông lâu ngày, chắc nịch không thể phá bỏ, dùng nó để đoán mệnh, thành ra láo nặng. Như cho Giáp là cây khô không có căn, Ất là cây sống có căn, cũng cùng là mộc mà chia ra sống chết, có phải dương mộc là chỉ bẩm thụ tử khí, còn âm mộc thì bẩm thụ sinh khí đâu? Lại cho hoạt mộc là sợ thủy tràn ngập, tử mộc không sợ thủy ngập, có phải hoạt mộc gặp thủy là trôi nổi còn bè gỗ gặp thủy ngược lại vững chắc đâu? Luận đoán thiên can như thế, không thể là đầy đủ, phải tránh né, để tương lai khỏi bị sai lầm.
五阳从气不从势,五阴从势无情义。
Ngũ dương tòng khí bất tòng thế
Ngũ âm tòng thế vô tình nghĩa
【原注】五阳得阳之气,即能成乎阳刚之势,不畏财杀之势;五阴得阴之气,即能成乎阴顺之义,故木盛则从木,火盛则从火,土盛则从土,金盛则从金,水盛则从水。于情义之所在者,见其势衰,则忌之矣,盖妇人之情也。如此,若得气顺理正者,亦未必从势而忘义,虽从亦必正矣。
Nguyên chú: ngũ dương đắc dương chi khí, tức năng thành hồ dương cương chi thế, bất úy Tài Sát chi thế; ngũ âm đắc âm chi khí, tức năng thành hồ âm thuận chi nghĩa, cố mộc thịnh tắc tòng mộc, hỏa thịnh tắc tòng hỏa, thổ thịnh tắc tòng thổ, kim thịnh tắc tòng kim, thủy thịnh tắc tòng thủy. Vu tình nghĩa chi sở tại giả, kiến kỳ thế suy, tắc kỵ chi hỷ, cái phụ nhân chi tình dã. Như thử, nhược đắc khí thuận lý chính giả, diệc vị tất tòng thế nhi vong nghĩa, tuy tòng diệc tất chính hỷ.
【任氏曰】:
五阳气避,光亨之象易观;五阴气翕,包含之蕴难测。五阳之性刚健,故不畏财煞,而有测隐之心,其处世不苟且;五阴之性柔顺,故见势忘义,而有鄙吝之心,其处世多骄谄。是以柔能克制刚,刚不能制克柔也。大抵趋利忘义之徒,皆阴气之为戾也;豪侠慷慨之人,皆阳气之独钟。然尚有阳中之阴、阴中之阳,又有阳外阴内、阴外阳内,亦当辨之。阳中之阴,外仁义而内奸诈;阴中之阳,外凶险而内仁慈;阳外阴内者,包藏祸心;阴外阳内者,秉持直道。此人品之端邪?故不可以不辨。要在气势顺正,四柱五行停匀,庶不偏倚,自无损人利己之心。凡持身涉世之道,趋避必先知人,故云"择其善者而从之",即此意也。
Nhâm thị viết:
Ngũ dương khí tỵ, quang hanh chi tượng dị quan; ngũ âm khí hấp, bao hàm chi uẩn nan trắc. Ngũ dương chi tính cương kiện, cố bất úy Tài, Sát, nhi hữu trắc ẩn chi tâm, kỳ xử thế bất cẩu thả; ngũ âm chi tính nhu thuận, cố kiến thế vong nghĩa, nhi hữu bỉ lận chi tâm, kỳ xử thế đa kiêu siểm. Thị dĩ nhu năng khắc cương, cương bất năng chế khắc nhu dã. Đại để xu lợi vong nghĩa chi đồ, giai âm khí chi vi lệ dã; hào hiệp khảng khái chi nhân, giai dương khí chi độc chủng. Nhiên thượng hữu dương trung chi âm, âm trung chi dương, hựu hữu dương ngoại âm nội, âm ngoại dương nội, diệc đương biện chi. Dương trung chi âm, ngoại nhân nghĩa nhi nội gian trá; âm trung chi dương, ngoại hung hiểm nhi nội nhân từ; dương ngoại âm nội giả, bao tàng họa tâm; âm ngoại dương nội giả, bỉnh trì trực đạo. Thử nhân phẩm chi đoan tà? Cố bất khả dĩ bất biện. Yêu tại khí thế thuận chính, tứ trụ ngũ hành đình quân, thứ bất thiên ỷ, tự vô tổn nhân lợi kỷ chi tâm. Phàm trì thân thiệp thế chi đạo, xu tỵ tất tiên tri nhân, cố vân “trạch kỳ thiện giả nhi tòng chi”, tức thử ý dã.
Dịch: Năm dương can, khí vốn thiên tỵ một bên, hình tượng rõ ràng dễ thấy; năm âm can, khí hòa hợp, khó thấy được rõ ràng. Tính của năm dương can cương kiện, cho nên không sợ Tài hoặc Sát, tâm có trắc ẩn, xử thế không cẩu thả; tính của năm âm nhu thuân, do đó thấy xu thế là quên nghĩa, tâm có bỉ lận, xử thế đa phần siểm nịnh. Vì vậy mà nhu có thể khắc cương, nhưng cương không khắc nhu được. Đại để là những kẻ xu lợi vong nghĩa đều là do khí âm ngược ngạo gây ra; những tay hào hiệp khẳng khái, đều từ một thứ khí dương mà có. Nhưng cũng có thứ trong dương có âm, trong âm có dương, lại có thứ bên ngoài là dương bên trong là âm, bên ngoài là âm bên trong là dương, cũng phải biện biệt rõ ràng. Trong dương có âm, bề ngoài nhân nghĩa mà bên trong gian trá; trong âm có dương, bề ngoài hung hiểm mà bên trong nhân từ; bên ngoài dương bên trong âm, ôm ấp tai họa trong lòng; bên ngoài âm bên trong dương, kẻ vẫn duy trì chính khí. Không phải đấy là đầu mối của nhân phẩm chăng? Vì vậy mà không thể không phân biệt cho rõ ràng. Điểm chính yếu là khí thế thuận và chính, tứ trụ ngũ hành quân bình, sau đó là không thiên không ỷ, thì không có lòng tổn thương người ta để có lợi cho mình. Phàm là đạo để giữ thân giữa đời là, thân sơ phải biết người ta ra sao, do đó mà nói “Chọn cái tốt mà theo”, chính là cái ý đó.
甲木参天,脱胎要火。春不容金,秋不容土。火炽乘龙,水宕骑虎。地润天和,植立千古。
Giáp mộc tham thiên, thoát thai yêu hỏa. Xuân bất dung kim, thu bất dung thổ. Hỏa xí thừa long, thủy đãng kỵ hỗ. Địa nhuận thiên hòa, thực lập thiên cổ.
【原注】纯阳之木,参天雄壮。火者木之子也,旺木得火而愈敷荣。生于春则欺金,而不能容金也;生于秋则助金,而不能容土也。寅午戌,丙丁多见而坐辰,则能归;申子辰,壬癸多见而坐寅,则能纳。使土气不干,水气不消,则能长生矣。
Nguyên chú: thuần dương chi mộc, tham thiên hùng tráng. Hỏa giả mộc chi tử dã, vượng mộc đắc hỏa nhi dũ phu vinh. Sinh vu xuân tắc khi kim, nhi bất năng dung kim dã; sinh vu thu tắc trợ kim, nhi bất năng dung thổ dã. Dần Ngọ Tuất, Bính Đinh đa kiến nhi tọa Thìn, tắc năng quy; Thân Tý Thìn, Nhâm Quý đa kiến nhi tọa Dần, tắc năng nạp. Sử thổ khí bất can, thủy khí bất tiêu, tắc năng trường sinh hỷ.
【任氏曰】:
甲为纯阳之木,体本坚固,参天之势,又极雄壮。生于春初,木嫩气寒,得火而发荣;生于仲春,旺极之势,宜泄其菁英。所谓强木得火,方化其顽。克之者金,然金属休囚,以衰金而克旺木,木坚金缺,势所必然,故春不容金也。生于秋,失时就衰,但枝叶虽凋落渐稀,根气却收敛下达,受克者土。秋土生金泄气,最为虚薄。以虚气之土,遇下攻之木,不能培木之根,必反遭其倾陷,故秋不容土也。柱中寅午戌全,又透丙丁,不惟泄气太过,而木且被焚,宜坐辰,辰为水库,其土湿,湿土能生木泄火,所谓火炽乘龙也。申子辰全又透壬癸,水泛木浮,宜坐寅,寅乃火土生地,木之禄旺,能纳水气,不致浮泛,所谓水宕骑虎也。如果金不锐,土不燥,火不烈,水不狂,非植立千古而得长生者哉!
Nhâm thị viết: Giáp vi thuần dương chi mộc, thể bản kiên cố, tham thiên chi thế, hựu cực hùng tráng. Sinh vu xuân sơ, mộc nộn khí hàn, đắc hỏa nhi phát vinh; sinh vi trọng xuân, vượng cực chi thế, nghi tiết kỳ tinh anh. Sở vị cường mộc đắc hỏa, phương hóa kỳ ngoan. Khắc chi giả kim, nhiên kim thuộc hưu tù, dĩ suy kim nhi khắc vượng mộc, mộc kiên kim khuyết, thế sở tất nhiên, cố xuân bất dung kim dã. Sinh vu thu, thất thời tựu suy, đản chi diệp tuy điêu lạc tiệm hy, căn khí khước thu liễm hạ đạt, thụ khắc giả thổ. Thu thổ sinh kim tiết khí, tối vi hư bạc. Dĩ hư khí chi thổ, ngộ hạ công chi mộc, bất năng bồi mộc chi căn, tất phản tào kỳ khuynh hãm, cố thu bất dung thổ dã. Trụ trung Dần Ngọ Tuất toàn, hựu thấu Bính Đinh, bất duy tiết khí thái quá, nhi mộc thả bị phần, nghi tọa Thìn, Thìn vi thủy khố, kỳ thổ thấp, thấp thổ năng sinh mộc tiết hỏa, sở vị hỏa xí thừa long dã. Thân Tý Thìn hựu thấu Nhâm Quý, thủy phiếm mộc phù, nghi tọa Dần, Dần nãi hỏa thổ sinh dã, mộc chi lộc vượng, năng nạp thủy khí, bất trí phù phiếm, sở vị thủy đãng kỵ hỗ. Như quả kim bất nhuệ, thổ bất táo, hỏa bất liệt, thủy bất cuồng, phi thực lập thiên cổ nhi đắc trường sinh giả tai!
Dịch: Nhâm thị nói: Giáp là mộc thuần dương, bản chất kiên cố, hình thế ngất trời, lại cực kỳ hùng tráng. Sinh vào đầu xuân, mộc còn non khí còn lạnh, được hỏa thì sẽ phồn thịnh lên; sinh vào giữa xuân, hình thế cực vượng, nên bớt đi tinh anh của mộc. Cường mộc được hỏa chính là mới có thể hóa đi sức mãnh liệt của mộc. Kim là ngũ hành khắc mộc, nhưng kim đang hưu tù, lấy kim suy mà khắc mộc vượng, mộc cứng kim gãy, là chuyện tất nhiên, do đó mà xuân bất dung kim. Sinh vào mùa thu, mộc thất thời nên suy bại, nhưng cành lá tuy rụng dần, khí của căn lại thu hết xuống dưới, bị khắc chính là thổ. Thổ mùa thu sinh kim tiết khí, vô cùng bạc nhược Thổ bạc nhược lại bị căn của mộc khắc, không thể đối phó được căn mộc, tất sẽ bị mộc áp bức, do đó mà thu bất dung thổ. Trong trụ có Dần Ngọ Tuất cục hỏa thấu can Bính Đinh, thì không những hỏa tiết khí mộc quá độ, mà mộc còn bị đốt cháy, nên tọa Thìn, Thìn là khố thủy, thổ ướt, thổ ướt sinh được mộc và tiết hỏa, gọi là hỏa xí thừa long vậy. Thân Tý Thìn cục thủy thấu can Nhâm Quý, thủy tràn lan mộc trôi nổi, nên tọa Dần, Dần là ngũ hành sinh hỏa sinh thổ, lại có căn mộc, có thể nạp khí thủy không đến nổi bị trôi nổi, do đó mà gọi là thủy đãng kỵ hỗ. Như nếu kim không bén, thổ không khô, hỏa không mãnh liệt, thủy không tràn ngập, không phải là thực lập thiên cổ nhi đắc trường sinh sao!
乙木虽柔,刲羊解牛。怀丁抱丙,跨凤乘猴。虚湿之地,骑马亦忧。藤萝系甲,可春可秋。
Ất mộc tuy nhu, khuê dương giải ngưu, hoài Đinh bão Bính, khóa phượng thừa hầu. Hư thấp chi địa, kỵ mã diệc ưu. Đằng la hệ giáp, khả xuân khả thu.
【原注】乙木者,生于春如桃李,夏如禾稼,秋如桐桂,冬如奇葩。坐丑未能制柔土,如割宰羊、解割牛然,只要有一丙丁,则虽生申酉之月,亦不胃之;生于子月,而又壬癸发透者,则虽坐午,亦能发生。故益知坐丑未月之为美。甲与寅字多见,弟从兄义,譬之藤萝附乔木,不畏斫伐也。
Nguyên chú: Ất mộc giả, sinh vu xuân như đào lý, hạ như hòa giá, thu như đồng quế, đông như kỳ ba. Tọa Sửu Mùi năng chế nhu thổ, như cát tể dương, giải cát ngưu nhiên, chỉ yêu hữu nhất Bính Đinh, tắc tuy sinh Thân Dậu chi nguyệt, diệc bất vị chi; sinh vu Tý nguyệt, nhi hựu Nhâm Quý phát thấu giả, tắc tuy tọa Ngọ, diệc năng phát sinh. Cố ích tri tọa Sửu Mùi nguyệt chi vi mỹ. Giáp dữ Dần tự đa kiến, đệ tòng huynh nghĩa, tỷ chi đằng la phụ kiều mộc, bất úy khảm phạt giả.
【任氏曰】:
乙木者,甲之质,而承甲之生气也。春如桃李,金克则凋;夏如禾稼,水滋得生;秋如桐桂,金旺火制;冬如奇葩,火湿土培。生于春宜火者,喜其发荣也;生于夏宜水者,润地之燥也;生于秋宜火者,使其克金也;生于冬宜火者,解天之冻也。割羊解牛者,生于丑未月,或乙未乙丑日,未乃木库,得以蟠根,丑乃湿土,可以受气也。怀丁抱丙,跨凤乘猴者,生于申酉月,或乙酉日,得丙丁透出天干,有水不相争克,制化得宜,不畏金强。虚湿之地,骑马亦忧者,生于亥子月,四柱无丙丁,又无戌未燥土,即使年支有午,亦难发生也。天干甲透,地支寅藏,此谓藤萝系松柏,春固得助,秋亦合扶,故可春可秋,言四季皆可也。
Nhâm thị viết: Ất mộc giả, Giáp chi chất, nhi thừa Giáp chi sinh khí dã. Xuân như đào lý, kim khắc tắc điêu; hạ như hòa giá, thủy tư tắc sinh; thu như đồng quế, kim vượng hỏa chế; đông như kỳ ba, hỏa thấp thổ bồi. Sinh vu xuân nghi hỏa giả, hỷ kỳ phát vinh dã; sinh vu hạ nghi thủy giả, nhuận địa chi táo dã; sinh vu thu nghi hỏa giả, sử kỳ khắc kim dã; sinh vu đông nghi hỏa giả, giải thiên chi đông dã. Cát dương giải ngưu giả, sinh vu Sửu Mùi nguyệt, hoặc Ất Mùi, Ất Sửu nhật, Mùi nãi mộc khố, đắc dĩ bàn căn, Sửu nãi thấp thổ, khả dĩ thụ khí dã. Hoài Đinh bão Bính, khóa phượng thừa hầu giả, sinh vu Thân Dậu nguyệt, hoặc Ất Dậu nhật, đắc Bính Đinh thấu xuất thiên can, hữu thủy bất tương tranh khắc, chế hóa đắc nghi, bất úy kim cường. Hư thấp chi địa, kỵ mã diệc ưu giả, sinh vu Hợi Tý nguyệt, tứ trụ vô Bính Đinh, hựu vô Tuất Mùi táo thổ, tức sử niên chi hữu Ngọ, diệc nan phát sinh dã. Thiên can Giáp thấu, địa chi Dần tàng, thử vị đằng la hệ tòng bá, xuân cố đắc trợ, thu diệc hợp phù, cố khả xuân khả thu, ngôn tứ quý giai khả dã.
Dịch: Nhâm thị nói: Ất mộc có chất của Giáp, mà thừa hưởng sinh khí của Giáp. Xuân như đào lý, kim mà khắc là điêu tàn; hạ như lúa má, thủy tưới vào là sinh sôi nảy nở; thu như cây ngô đồng cây quế, kim vượng cần hỏa chế; đông như hoa cỏ dị kỳ, cần có hỏa có thổ ướt bồi dưỡng. Sinh vào mùa xuân cần hỏa, là để tươi tốt lên; sinh vào mùa hạ cần thủy là làm ướt thổ khô; sinh vào mùa thu cần hỏa là để khắc kim; sinh vào mùa đông cần hỏa là để làm tan cái lạnh của mùa đông. Cắt dê mỗ bò là sinh tháng Sửu tháng Mùi, hoặc ngày Ất Mùi, Ất Sửu, Mùi là khố của mộc, được như thế để quấn rễ vào, Sửu là đất ướt, có thể giữ được khí. Ôm Đinh bọc Bính, cỡi phượng đèo khỉ là sinh vào tháng Thân, Dậu, hoặc ngày Ất Dậu, được Bính Đinh thấu can, có thủy mà không bị tranh khắc, chế hóa tốt lành, sẽ không sợ gì kim cường. Đất ướt, cỡi ngựa cũng vẫn lo là sinh vào tháng Hợi tháng Tý, tứ trụ không có Bính Đinh, lại không có thổ khô của Tuất Mùi, thì cho dù chi năm là Ngọ, cũng khó mà sinh sôi nổi. Thiên can thấu Giáp, địa chi có Dần, chính là cây leo quấn vào tòng bá, xuân được bang trợ, thu cũng có phù giúp, do đó mà xuân thu đều được cả, ý nói là bốn mùa đều thích hợp.
丙火猛烈,欺霜侮雪。能煅庚金,逢辛反怯。土众成慈,水猖显节。虎马犬乡,甲木若来,必当焚灭(一本作虎马犬乡,甲来成灭)。
Bính hỏa mãnh liệt, khi sương vụ tuyết. Năng đoán canh kim, phùng tân phản khiếp. Thổ chúng thành từ, thủy xương hiển tiết. Hỗ mã khuyển hương, Giáp Mộc nhược lai, tất đương phần diệt (nhất bản tác hỗ mã khuyển hương, Giáp lai thành diệt)
【原注】火阳精也,丙火灼阳之至,故猛烈,不畏秋而欺霜,不畏冬而侮雪。庚金虽顽,力能煅之,辛金本柔,合而反弱。土其子也,见戊己多而成慈爱之德;水其君也,遇壬癸旺而显忠节之风。至于未遂炎上之性,而遇寅午戌三位者,露甲木则燥而焚灭也。
Nguyên chú: Hỏa dương tinh dã, Bính hỏa chước dương chi chí, cố mãnh liệt, bất úy thu nhi khi sương, bất úy đông nhi vụ tuyết. Canh kim tuy ngoan, lực năng đoán chi, tân kim bản nhu, hợp nhi phản nhược. Thổ kỳ tử dã, kiến mậu kỷ đa nhi thành từ ái chi đức; thủy kỳ quân dã, ngộ nhâm quý vượng nhi hiển trung tiết chi phong. Chí vu vị toại viêm thượng chi tính, nhi ngộ dần ngọ tuất tam vị giả, lộ giáp mộc tắc táo nhi phần diệt dã.
【任氏曰】:
丙乃纯阳之火,其势猛烈,欺霜侮雪,有除寒解冻之功。能煅庚金,遇强暴而施克伐也;逢辛反怯,合柔顺而寓和平也。土众成慈,不凌下也;水猖显节,不援上也。虎马犬乡者,支坐寅午戌,火势已过于猛烈,若再见甲木来生,转致焚灭也。由此论之,泄其威,须用己土;遏其焰,必要壬水;顺其性,还须辛金。己土卑湿之体,能收元阳之气;戊土高燥,见丙火而焦坼矣。壬水刚中之德,能制暴烈之火;癸水阴柔,逢丙火而涸干矣。辛金柔软之物,明作合而相亲,暗化水而相济;庚金刚健,刚又逢刚,势不两立。此虽举五行而论,然世事人情,何莫不然!
Nhâm thị viết: Bính nãi thuần dương chi hỏa, kỳ thế mãnh liệt, khi sương vụ tuyết, hữu trừ hàn giải đông chi công. Năng đoán Canh kim, ngộ cường bạo nhi thi khắc phạt dã; Phùng tân phản khiếp, hợp nhu thuận nhi ngụ hòa bình dã. Thổ chúng thành từ, bất lăng hạ dã; thủy xương hiển tiết, bất viên thượng dã. Hỗ mã khuyển hương giả, chi tọa dần ngọ tuất, hỏa thế dĩ quá vu mãnh liệt, nhược tái kiến giáp mộc lai sinh, chuyển trí phần diệt dã. Do thử luận chi, tiết kỳ oai, tu dụng kỷ thổ; át kỳ diễm, tất yêu nhâm thủy; thuận kỳ tính, hoàn tu tân kim. Kỷ thổ ty thấp chi thể, năng thu nguyên dương chi khí, mậu thổ cao táo, kiến bính hỏa nhi tiêu sách hỷ. Nhâm thủy cương trung chi đức, năng chế bạo liệt chi hỏa; Quý thủy âm nhu, phùng bính hỏa nhi hạc can hỷ. Tân kim nhu nhuyễn chi vật, minh tác hợp nhi tương thân, ám hóa thủy nhi tương tế; canh kim cương kiện, cương hựu phùng cương, thế bất lưỡng lập, thử tuy cử ngũ hành nhi luận, nhiên thế sự nhân tình, hà mạc bất nhiên!
Dịch: Nhâm thị nói: Bính là hỏa của thuần dương, thế rất mãnh liệt, khinh sương, khi tuyết, có công năng trừ hàn tan đông. Có thể luyện được Kim, gặp cường bạo sẽ khắc dẹp; Gặp Tân ngược lại bị khiếp, hợp với nhu thuận ôm lấy hòa bình. Thổ chúng thành từ, là không khinh ép phía dưới; thủy xương hiển tiết là không nương tựa phía trên (thủy là Quan của hỏa). Hỗ mã khuyển hương là địa chi có Dần Ngọ Tuất, thế hỏa sẽ mãnh liệt quá độ, nếu còn gặp Mộc lại sinh, sẽ chuyển sang đốt Mộc thành than. Vì vậy mà luận rằng, muốn tiết hỏa phải dùng Kỷ thổ; muốn dẹp ngọn lửa xuống phải dùng Nhâm thủy; muốn thuận theo tính của hỏa thì dùng Tân kim. Kỷ thổ thể thấp và ướt, có thể thu được khí nguyên dương của hỏa, Mậu thổ thì cao và khô, gặp Bính hỏa là tiêu nứt ra. Nhâm thủy là đức cương và trung, có thể chế ngự được hỏa bạo liệt; Quý thủy âm nhu, gặp Bính hỏa sẽ khô queo. Tân kim là vật nhu nhuyễn, ngoài thì hợp với Bính thành vợ chồng, trong thì hóa Bính thành ra thủy hỏa tương tế; Canh kim cương kiện, cương lại gặp cương, thế không đội trời chung, tuy là nói chuyện ngũ hành, nhưng thế sự nhân tình, không phải là cũng thế sao!
丁火柔中,内性昭融。抱乙而孝,合壬而忠。旺而不烈,衰而不穷,如有嫡母,可秋可冬。
Đinh hỏa nhu trung, nội tính chiêu dung. Bão ất nhi hiếu, hợp Nhâm nhi trung. Vượng nhi bất liệt, suy nhi bất cùng, như hữu đích mẫu, khả thu khả đông.
【原注】丁干属阴,火性虽阴,柔而得其中矣。外柔顺而内文明,内性岂不昭融乎?乙非丁之嫡母也,乙畏辛而辛抱之,不若丙抱甲而反能焚甲木也,不若乙抱丁而反能晦丁火也,其孝异乎人矣。壬为丁之正君也,壬畏戊而丁合之,外则抚恤戊土,能使戊土不欺壬也,内则暗化木神,而使戊土不敢抗乎壬也,其忠异乎人矣。生于秋冬,得一甲木,则倚之不灭,而焰至无穷也,故曰可秋可冬。皆柔之道也。
Nguyên chú: Đinh can thuộc âm, hỏa tính tuy âm, nhu nhi đắc kỳ trung hỷ. Ngoại nhu thuận nhi nội văn minh, nội tính khởi bất chiêu dung hồ? Ất phi đinh chi đích mẫu dã, ất úy tân nhi tân bão chi, bất nhược bính bão giáp nhi phản năng phần giáp mộc dã, bất nhược ất bão đinh nhi phản năng hối đinh hỏa dã, kỳ hiếu dị hồ nhân hỷ. Nhâm vi đinh chi chính quân dã, nhâm úy mậu nhi đinh hợp chi, ngoại tắc phủ tuất mậu thổ, năng sử mậu thổ bất khi nhâm dã, nội tắc ám hóa mộc thần, nhi sử mậu thổ bất cảm kháng hồ nhâm dã, kỳ trung dị hồ nhân hỷ. Sinh vu thu đông, đắc nhất giáp mộc, tắc ỷ chi bất diệt, nhi diễm chí vô cùng dã, cố viết khả thu khả đông. Giai nhu chi đạo dã.
【任氏曰】:
丁非灯烛之谓,较丙火则柔中耳。内性昭融者,文明之象也。抱乙而孝,明使辛金不伤乙木也;合壬而忠,暗使戊土不伤壬水也。惟其柔中,故无太过不及之弊,虽时当乘旺,而不至赫炎;即时值就衰,而不至于熄灭。干透甲乙,秋生不畏金;支藏寅卯,冬产不忌水。
Nhâm thị viết: Đinh phi đăng chúc chi vị, giác bính hỏa tắc nhu trung nhĩ. Nội tính chiêu dung giả, văn minh chi tượng dã. Bão ất nhi hiếu, minh sử tân kim bất thương ất mộc dã; hợp nhâm nhi trung, ám sử mậu thổ bất thương nhâm thủy dã. Duy kỳ nhu trung, cố vô thái quá bất cập chi táng, tuy thời đương thừa vượng, nhi bất chí hách viêm; tức thời trị tựu suy, nhi bất chí vu tức diệt. Can thấu giáp ất, thu sinh bất úy kim; chi tàng dần mão, đông sản bất kỵ thủy.
Dịch: Nhâm thị nói: Đinh không phải là đèn đuốc gì cả, so với Bính hỏa thì nhu và trung nhĩ. Nội tính chiêu dung là hình tượng của văn minh. Bão ất nhi hiếu, là rõ ràng làm tân kim không tổn thương đến Ất mộc; hợp Nhâm nhi trung, là ám làm Mậu thổ không tổn thương đến Nhâm thủy (là chính quan của Đinh). Bởi vì nhu và trung cho nên không bị sai lầm chuyện thái quá bất cập, tuy có lúc rất vượng, nhưng không đến nổi nóng quá mức, cho dù có lúc suy, cũng không đến mức tắt đi. Can thấu Giáp Ất, sinh ra hỏa không sợ kim; địa chi có Dần Mão, mùa đông vẫn sinh hỏa được không sợ thủy.
戊土固重,既中且正。静翕动辟,万物司命。水润物生,火燥物病。若在艮坤,怕冲宜静。
Mậu thổ cố trọng, ký trung thả chính, tĩnh hấp động tích, vạn vật tư mệnh. Thủy nhuận vật sinh, hỏa táo vật bệnh. Nhược tại cấn khôn, phạ xung nghi tĩnh.
【原注】戊土非城墙堤岸之谓也,较己特高厚刚燥,乃己土发源之地,得乎中气而且正大矣。春夏则气辟而生万物,秋冬则气翕而成万物,故为万物之司命也。其气属阳,喜润不喜燥,坐寅怕申,坐申怕寅。盖冲则根动,非地道之正也,故宜静。
Nguyên chú: Mậu thổ phi thành tường đê ngạn chi vị dã, giác kỉ đặc cao hậu cương táo, nãi kỉ thổ phát nguyên chi địa, đắc hồ trung khí nhi thả chính đại hĩ。Xuân hạ tắc khí tích nhi sinh vạn vật,thu đông tắc khí hấp nhi thành vạn vật,cố vi vạn vật chi tư mệnh dã。Kì khí thuộc dương,hỉ nhuận bất hỉ táo,tọa dần phạ thân,tọa thân phạ dần。Cái xung tắc căn động,phi địa đạo chi chính dã,cố nghi tĩnh
【任氏曰】:
戊为阳土,其气固重,居中得正。春夏气动而避,则发生,秋冬气静而翕,则收藏,故为万物之司命也。其气高厚,生于春夏,火旺宜水润之,则万物发生,燥则物枯;生于秋冬,水多宜火暖之,则万物化成,湿则物病。艮坤者,寅申之月也。春则受克,气虚宜静;秋则多泄,体薄怕冲。或坐寅申日,亦喜静忌冲。又生四季月者,最喜庚申辛酉之金,秀气流行,定为贵格,己土亦然。如柱见木火,或行运遇之,则破矣。
Nhâm thị viết: Mậu vi dương thổ,kì khí cố trọng,cư trung đắc chính。Xuân hạ khí động nhi tị,tắc phát sinh,thu đông khí tĩnh nhi hấp,tắc thu tàng,cố vi vạn vật chi tư mệnh dã。Kì khí cao hậu,sinh vu xuân hạ,hỏa vượng nghi thủy nhuận chi,tắc vạn vật phát sinh,táo tắc vật khô;sinh vu thu đông,thủy đa nghi hỏa noãn chi,tắc vạn vật hóa thành,thấp tắc vật bệnh。Cấn khôn giả,dần thân chi nguyệt dã。Xuân tắc thụ khắc,khí hư nghi tĩnh;thu tắc đa tiết,thể bạc phạ xung。Hoặc tọa dần thân nhật,diệc hỉ tĩnh kị xung。Hựu sinh tứ quý nguyệt giả,tối hỉ canh thân tân dậu chi kim,tú khí lưu hành,định vi quý cách,kỉ thổ diệc nhiên。Như trụ kiến mộc hỏa,hoặc hành vận ngộ chi,tắc phá hĩ。
Dịch: Mậu là dương thổ, khí chắc mà nặng, ở giữa trung chính. Xuân hạ khí động nên tránh né, do đó mà phát sự sinh, thu đông khí tĩnh nên hòa hợp, do đó mà thu tàng lại, nên vạn vật từ đó mà có. Khí của Mậu cao và dày, sinh vào xuân hạ, hỏa vượng nên có thủy làm ướt thổ, thì vạn vật sinh sôi nảy nở, khô thì sẽ héo; sinh vào thu đông, thủy nhiều phải có hỏa làm ấm, thì vạn vật sẽ sinh hóa, ẩm ướt là sẽ bị bệnh. Cấn Khôn là chỉ tháng Dần tháng Thân. Xuân thì bị khắc, khí hư nên cần tĩnh; thu thì bị tiết, thể mỏng nên sợ bị xung. Nếu ngày tọa Dần Thân cũng thích tĩnh mà kỵ xung. Còn sinh vào tháng Thìn Tuất Sửu Mùi, thích nhất là kim của Canh Thân, Tân Dậu, tú khí lưu hành, thành là quý cách, Kỷ thổ cũng thế. Như trong trụ có mộc hỏa, hoặc trong vận gặp, sẽ bị phá quý cách.
己土卑湿,中正蓄藏。不愁木盛,不畏水狂。火少火晦,金多金光。若要物旺,宜助宜帮。
Kỉ thổ ti thấp,trung chính súc tàng。Bất sầu mộc thịnh,bất úy thủy cuồng。Hỏa thiểu hỏa hối,kim đa kim quang。Nhược yêu vật vượng,nghi trợ nghi bang。
【原注】
己土卑薄软湿,乃戊土枝叶之地,亦主中正而能蓄藏万物。柔土能生木,非木所能克,故不愁木盛;土深而能纳水,非水所能荡,故不畏水狂。无根之火,不能生湿土,故火少而火反晦;湿土能润金气,故金多而金光彩,反清莹可观。此其无为而有为之妙用。若要万物充盛长旺,惟土势深固,又得火气暖和方可。

Kỉ thổ ti bạc nhuyễn thấp,nãi mậu thổ chi diệp chi địa,diệc chủ trung chính nhi năng súc tàng vạn vật。Nhu thổ năng sinh mộc,phi mộc sở năng khắc,cố bất sầu mộc thịnh;thổ thâm nhi năng nạp thủy,phi thủy sở năng đãng,cố bất úy thủy cuồng。Vô căn chi hỏa, bất năng sinh thấp thổ,cố hỏa thiểu nhi hỏa phản hối;thấp thổ năng nhuận kim khí,cố kim đa nhi kim quang thải,phản thanh oánh khả quan。Thử kì vô vi nhi hữu vi chi diệu dụng。Nhược yêu vạn vật sung thịnh trường vượng,duy thổ thế thâm cố,hựu đắc hỏa khí noãn hòa phương khả。
【任氏曰】:
己土为阴湿之地,中正蓄藏,贯八方而旺四季,有滋生不息之妙用焉。不愁木盛者,其性柔和,木藉以培养,木不克也。不畏水狂者,其体端凝,水得以纳藏,水不冲也。火少火晦者,丁火也,阴土能敛火,晦火也。金多金光者,辛金也,湿土能生金,润金也。柱中土气深固,又得丙火去其阴湿之气,更足以滋生万物,所谓宜助宜帮者也。
Nhâm thị viết: kỉ thổ vi âm thấp chi địa,trung chính súc tàng,quán bát phương nhi vượng tứ quý,hữu tư sinh bất tức chi diệu dụng yên。Bất sầu mộc thịnh giả,kì tính nhu hòa,mộc tạ dĩ bồi dưỡng,mộc bất khắc dã。Bất úy thủy cuồng giả,kì thể đoan ngưng,thủy đắc dĩ nạp tàng,thủy bất xung dã。Hỏa thiểu hỏa hối giả,đinh hỏa dã,âm thổ năng liễm hỏa,hối hỏa dã。Kim đa kim quang giả,tân kim dã,thấp thổ năng sinh kim,nhuận kim dã。Trụ trung thổ khí thâm cố,hựu đắc bính hỏa khứ kì âm thấp chi khí,cánh túc dĩ tư sinh vạn vật,sở vị nghi trợ nghi bang giả dã.
Dịch: Nhâm thị nói: kỷ thổ là đất ướt thuộc âm, trung chính súc tàng, đạt tới tám phương làm vượng tứ quý (Thìn Tuất Sửu Mùi), dùng để nuôi dưỡng vạn vật diệu kỳ không ngơi. Không sợ mộc thịnh, là vì tính của kỷ nhu hòa, mộc có chỗ bồi dưỡng, mộc không khắc kỷ. Không sợ thủy mãnh liệt là vì thể của kỷ đoan chính ngưng tụ, thủy có chỗ để yên ổn, thủy không xung. Hỏa ít, hỏa tối, là Đinh hỏa, âm thổ có thể phủ lên làm hỏa mờ. Kim nhiều kim sáng, là tân kim, thổ ướt có thể sinh kim, làm nhuận kim. Trong trụ có khí thổ sâu và chắc, lại được Bính hỏa khử khí ướt và âm, là có thể đủ sinh sôi vạn vật, gọi là cần được bang trợ mới tốt.
庚金带煞,刚健为最。得水而清,得火而锐。土润则生,土干则脆。能赢甲兄,输于乙妹。
Canh kim đái sát, cương kiện vi tối. Đắc thủy nhi thanh, đắc hỏa nhi nhuệ. Thổ nhuận tắc sinh, thổ can tắc thúy. Năng doanh giáp huynh, thâu vu ất muội.
【原注】庚金乃天上之太白,带杀而刚健。健而得水,则气流而清;刚而得火,则气纯而锐。有水之土,能全其生;有火之土,能使其脆。甲木虽强,力足伐之;乙木虽柔,合而反弱。
Nguyên chú: Canh kim nãi thiên thượng chi thái bạch, đái sát nhi cương kiện。Kiện nhi đắc thủy,tắc khí lưu nhi thanh;cương nhi đắc hỏa,tắc khí thuần nhi nhuệ。Hữu thủy chi thổ,năng toàn kì sinh;hữu hỏa chi thổ,năng sử kì thúy。Giáp mộc tuy cường,lực túc phạt chi;ất mộc tuy nhu,hợp nhi phản nhược.
【任氏曰】:
庚乃秋天肃杀之气,刚健为最。得水而清者,壬水也,壬水发生,引通刚杀之性,便觉淬厉晶莹。得火而锐者,丁火也,丁火阴柔,不与庚金为敌,良冶销熔,遂成剑戟,洪炉煅炼,时露锋砧。生于春夏,其气稍弱,遇丑辰之湿土则生,逢未戌之燥土则脆。甲木正敌,力能伐之;与乙相合,转觉有情。乙非尽合庚而助暴,庚亦非尽合乙而反弱也,宜详辨之。
Nhâm thị viết: canh nãi thu thiên túc sát chi khí,cương kiện vi tối。Đắc thủy nhi thanh giả,nhâm thủy dã,nhâm thủy phát sinh,dẫn thông cương sát chi tính,tiện giác thối lệ tinh oánh. Đắc hỏa nhi nhuệ giả,đinh hỏa dã,đinh hỏa âm nhu,bất dữ canh kim vi địch,lương dã tiêu dung,toại thành kiếm kích,hồng lô đoán luyện,thời lộ phong châm。Sinh vu xuân hạ,kì khí sảo nhược,ngộ sửu thìn chi thấp thổ tắc sinh,phùng mùi tuất chi táo thổ tắc thúy。Giáp mộc chính địch,lực năng phạt chi;dữ ất tương hợp,chuyển giác hữu tình。Ất phi tận hợp canh nhi trợ bạo,canh diệc phi tận hợp ất nhi phản nhược dã,nghi tường biện chi.
Dịch: Nhâm thị nói: Canh là khí tiêu sát của mùa thu, cương kiện là nhất. Được thủy sẽ trong, là Nhâm thủy, Nhâm thủy được sinh, dẫn thông tính cương và sát, bớt đi hung mãnh mà thành sáng ngời. Được hỏa sẽ bén nhọn, là Đinh hỏa, Đinh hỏa âm nhu, không đối địch với Canh kim, nung luyện kim tạo thành kiếm kích, nung nấu trong lò, sẽ có lúc thành bén nhọn. Sinh vào mùa xuân mùa hạ, khí của canh kim có nhược đi, gặp Sửu là thổ ướt sẽ được sinh, gặp Mùi hay Tuất là thổ khô sẽ trở thành mềm đi. Giáp mộc đối địch với Canh kim sẽ bị chặt gãy; nhưng Canh kim hợp với Ất mộc, thành ra hữu tình. Ất không phải là hợp với Canh mà tận tình biến ra hết thành Kim, mà Kim cũng không phải là hợp với Ất mà thành ra tận tình biến ra nhược, phải biện biệt rõ ràng.
辛金软弱,温润而清。畏土之叠,乐水之盈。能扶社稷,能救生灵。热则喜母,寒则喜丁。
Tân kim nhuyễn nhược,ôn nhuận nhi thanh。Úy thổ chi điệp,lạc thủy chi doanh。Năng phù xã tắc,năng cứu sinh linh。Nhiệt tắc hỉ mẫu,hàn tắc hỉ đinh.
【原注】辛乃阴金,非珠玉之谓也。凡温软清润者,皆辛金也。戊己土多而能埋,故畏之;壬癸水多而必秀,故乐之。辛为丙之臣也,合丙化水,使丙火臣服壬水,而安扶社稷;辛为甲之君也,合丙化水,使丙火不焚甲木,而救援生灵。生于九夏而得己土,则能晦火而存之;生于隆冬而得丁火,则能敌寒而养之。故辛金生于冬月,见丙火则男命不贵,虽贵亦不忠;女命克夫,不克亦不和。见丁男女皆贵且顺。
Nguyên chú: tân nãi âm kim,phi châu ngọc chi vị dã。Phàm ôn nhuyễn thanh nhuận giả,giai tân kim dã。Mậu kỉ thổ đa nhi năng mai,cố úy chi;Nhâm quý thủy đa nhi tất tú,cố lạc chi。Tân vi bính chi thần dã,hợp bính hóa thủy,sử bính hỏa thần phục nhâm thủy,nhi an phù xã tắc;tân vi giáp chi quân dã,hợp bính hóa thủy,sử bính hỏa bất phần giáp mộc,nhi cứu viện sanh linh。Sinh vu cửu hạ nhi đắc kỉ thổ,tắc năng hối hỏa nhi tồn chi;sinh vu long đông nhi đắc đinh hỏa,tắc năng địch hàn nhi dưỡng chi。Cố tân kim sinh vu đông nguyệt,kiến bính hỏa tắc nam mệnh bất quý,tuy quý diệc bất trung;nữ mệnh khắc phu,bất khắc diệc bất hòa。Kiến đinh nam nữ giai quý thả thuận.
【任氏曰】:
辛金乃人间五金之质,故清润可观。畏土之叠者,戊土太重,而涸水埋金;乐水之盈者,壬水有余,而润土养金也。辛为甲之君也,丙火能焚甲木,合而化水,使丙火不焚甲木,反有相生之象;辛为丙之臣也,丙火能生戊土,合丙化水,使丙火不生戊土,反有相助之美。岂非扶社稷救生灵乎?生于夏而火多,有己土则晦火而生金;生于冬而水旺,有丁火则温水而养金。所谓热则喜母,寒则喜丁也。
Nhâm thị viết: Tân kim nãi nhân gian ngũ kim chi chất, cố thanh nhuận khả quan。Úy thổ chi điệp giả,mậu thổ thái trọng, nhi hạc thủy mai kim;lạc thủy chi doanh giả,Nhâm thủy hữu dư,nhi nhuận thổ dưỡng kim dã。Tân vi giáp chi quân dã,Bính hỏa năng phần Giáp mộc,hợp nhi hóa Thủy,sử Bính hỏa bất phần Giáp mộc,phản hữu tương sinh chi tượng;Tân vi Bính chi thần dã,Bính hỏa năng sinh Mậu thổ,hợp Bính hóa Thủy,sử Bính hỏa bất sinh Mậu thổ,phản hữu tương trợ chi mỹ。Khởi phi phù xã tắc cứu sinh linh hồ?sinh vu hạ nhi Hỏa đa,hữu Kỉ thổ tắc hối Hỏa nhi sinh kim;sinh vu đông nhi Thủy vượng,hữu Đinh hỏa tắc ôn Thủy nhi dưỡng kim。Sở vị nhiệt tắc hỉ mẫu,hàn tắc hỉ Đinh dã.
Dịch: Nhâm thị nói: Tân kim có cái chất của ngũ kim trên nhân gian, do đó mà thanh mà nhuận dễ nhìn. Sợ thổ dày là vì Mậu thổ nặng quá, làm khô Thủy mà chôn Kim; thích Thủy tràn đầy, là vì có nhiều Thủy sẽ làm ướt Thổ nuôi Kim. Tân là vua của Giáp, là vì Bính hỏa có thể đốt Giáp mộc mà Tân hợp với Bính hóa ra Thủy, đã làm cho Hỏa không đốt Giáp mộc mà ngược lại còn có vẻ tương sinh với nhau; Tân là thần của Bính, là vì Bính hỏa có thể sinh Mậu thổ, Tân hợp với Bính hóa thành Thủy, làm cho Bính không còn phải sinh Mậu thổ, có cái đẹp tương trợ. Do đó không phải là bang trợ xã tắc, cứu sinh linh sao? Sinh vào mùa hạ mà nhiều Hỏa, có Kỷ thổ sẽ làm mờ Hỏa và sinh Kim; sinh vào mùa đông mà Thủy vượng, có Đinh hỏa sẽ làm ấm Thủy nuôi dưỡng Kim. Do đó mà nói là, nóng thì thích mẹ, lạnh thì thích Hỏa.
壬水通河,能泄金气,刚中之德,周流不滞。通根透癸,冲天奔地。化则有情,从则相济。
Nhâm thủy thông hà,năng tiết kim khí,cương trung chi đức,chu lưu bất trệ。Thông căn thấu quý,xung thiên bôn địa。Hóa tắc hữu tình,tòng tắc tương tế
【原注】壬水即癸水之发源,昆仑之水也;癸水即壬水之归宿,扶桑之水也。有分有合,运行不息,所以为百川者此也,亦为雨露者此也,是不可歧而二之。申为天关,乃天河之口,壬水长生于此,能泄西方金气。周流之性,冲进不滞,刚中之德犹然也。若申子辰全而又透癸,则其势冲奔,不可遏也。如东海本发端于天河,复成水患,命中遇之,若无财官者,其祸当何如哉!合丁化木,又生丁火,则可谓有情;能制丙火,不使其夺丁之爱,故为夫义而为君仁。生于九夏,则巳、午、未、申火土之气,得壬水熏蒸而成雨露,故虽从火土,未尝不相济也。
Nguyên chú: nhâm thủy tức quý thủy chi phát nguyên,côn luân chi thủy dã;quý thủy tức nhâm thủy chi quy túc,phù tang chi thủy dã。Hữu phân hữu hợp,vận hành bất tức,sở dĩ vi bách xuyên giả thử dã,diệc vi vũ lộ giả thử dã,thị bất khả kì nhi nhị chi。Thân vi thiên quan,nãi thiên hà chi khẩu,nhâm thủy trường sinh vu thử,năng tiết tây phương kim khí。Chu lưu chi tính,xung tiến bất trệ, cương trung chi đức do nhiên dã。Nhược thân tý thìn toàn nhi hựu thấu quý,tắc kì thế xung bôn,bất khả át dã。Như đông hải bản phát đoan vu thiên hà,phục thành thủy hoạn,mệnh trung ngộ chi,nhược vô tài quan giả,kì họa đương hà như tai! hợp đinh hóa mộc,hựu sinh đinh hỏa,tắc khả vị hữu tình;năng chế bính hỏa,bất sử kì đoạt đinh chi ái,cố vi phu nghĩa nhi vi quân nhân。Sinh vu cửu hạ,tắc tị, ngọ, mùi, thân hỏa thổ chi khí,đắc nhâm thủy huân chưng nhi thành vũ lộ,cố tuy tòng hỏa thổ,vị thường bất tương tế dã.
【任氏曰】:
壬为阳水。通河者,即天河也,长生在申,申在天河之口,又在坤方,壬水生此,能泄西方肃杀气,所以为刚中之德也。百川之源,周流不滞,易进而难退也。如申子辰全,又透癸水,其势泛滥,纵有戊己之土,亦不能止其流,若强制之,反冲激而成水患,必须用木泄之,顺其气势,不至于冲奔也。合丁化木,又能生火,不息之妙,化则有情也。生于四、五、六月,柱中火土并旺,别无金水相助。火旺透干则从火,土旺透干则从土,调和润泽,仍有相济之功也。
Nhâm thị viết: Nhâm vi dương thủy。Thông hà giả, tức thiên hà dã,trường sinh tại Thân, Thân tại thiên hà chi khẩu,hựu tại Khôn phương,Nhâm thủy sinh thử,năng tiết tây phương túc sát khí,sở dĩ vi cương trung chi đức dã。Bách xuyên chi nguyên,chu lưu bất trệ,dị tiến nhi nan thối dã。Như Thân Tý Thìn đầy đủ,hựu thấu Quý thủy,kì thế phiếm lạm,túng hữu Mậu kỉ chi thổ,diệc bất năng chỉ kì lưu,nhược cường chế chi,phản xung kích nhi thành thủy hoạn,tất tu dụng mộc tiết chi,thuận kì khí thế,bất chí vu xung bôn dã。Hợp Đinh hóa Mộc,hựu năng sinh hỏa,bất tức chi diệu,hóa tắc hữu tình dã。Sinh vu tứ, ngũ, lục nguyệt,trụ trung hỏa thổ tịnh vượng,biệt vô kim thủy tương trợ。Hỏa vượng thấu can tắc tòng hỏa,thổ vượng thấu can tắc tòng thổ,điều hòa nhuận trạch,nhưng hữu tương tế chi công dã.
Dịch: Nhâm thị nói: Nhâm là dương Thủy. Thông hà tức là thiên hà, trường sinh ở Thân, Thân là cửa khẩu của thiên hà, lại ở cửa Khôn, Nhâm thủy sinh ở đây, là có thể tiết được khí tiêu sát ở phương tây (là Kim), do đó mà có cái đức cương và trung vậy. Nguồn của trăm con sông, chu lưu không ngừng nghỉ, dễ tiến mà khó lùi hỷ. Nếu đầy đủ Thân Tý Thìn tam hợp cục Thủy hướng về nguyên Quý thủy, thế Thủy sẽ tràn lan, cho dù có thổ của Mậu cũng không thể nào ngưng được dòng nước chảy, nếu miễn cưỡng áp chế sẽ thành thủy hoạn, phải nên dùng Mộc tiết Thủy, thuận theo thế Thủy, do đó không đến nổi quá mãnh liệt. Hợp Đinh sẽ hóa thành Mộc, Mộc lại sinh được Hỏa, sinh rồi sinh không ngơi nghỉ, bởi vậy mà nói, hóa thì hữu tình. Sinh vào tháng 4, 5, 6, (Tỵ Ngọ Mùi) Hỏa và Thổ trong trụ đều vượng, không có Kim và Thủy tương trợ. Hỏa vượng thấu can thì tòng Hỏa, Thổ vượng thấu can thì tòng Thổ, điều hòa bồi dưỡng, nhưng có công hiệu của tương tế vậy.
癸水至弱,达于天津。得龙而运,功化斯神。不愁火土,不论庚辛。合戊见火,化象斯真。
Quý thủy chí nhược,đạt vu thiên tân。Đắc long nhi vận,công hóa tư thần。Bất sầu hỏa thổ,bất luận canh tân。Hợp mậu kiến hỏa,hóa tượng tư chân.
【原注】癸水乃阴之纯而至弱,故扶桑有弱水也。达于天津,随天而运,得龙以成云雨,乃能润泽万物,功化斯神。凡柱中有甲乙寅卯,皆能运水气,生木制火,润土养金,定为贵格,火土虽多不畏。至于庚金,则不赖其生,亦不忌其多。惟合戊土化火也,戊生寅,癸生卯,皆属东方,故能生火。此固一说也,不知地不满东南,戊土之极处,即癸水之尽处,乃太阳起方也,故化火。凡戊癸得丙丁透者,不论衰旺,秋冬皆能化火,最为真也。
Nguyên chú: quý thủy nãi âm chi thuần nhi chí nhược,cố phù tang hữu nhược thủy dã。Đạt vu thiên tân,tùy thiên nhi vận,đắc long dĩ thành vân vũ,nãi năng nhuận trạch vạn vật,công hóa tư thần。Phàm trụ trung hữu giáp ất dần mão,giai năng vận thủy khí,sinh mộc chế hỏa,nhuận thổ dưỡng kim,định vi quý cách,hỏa thổ tuy đa bất úy。Chí vu canh kim,tắc bất lại kì sinh,diệc bất kị kì đa. Duy hợp mậu thổ hóa hỏa dã,mậu sinh dần,quý sinh mão,giai thuộc đông phương,cố năng sanh hỏa。Thử cố nhất thuyết dã,bất tri địa bất mãn đông nam,mậu thổ chi cực xử,tức quý thủy chi tận xử,nãi thái dương khởi phương dã,cố hóa hỏa。Phàm mậu quý đắc bính đinh thấu giả, bất luận suy vượng,thu đông giai năng hóa hỏa,tối vi chân dã.
【任氏曰】:
癸水非雨露之谓,乃纯阴之水。发源虽长,其性极弱,其势最静,能润土养金,发育万物,得龙而运,变化不测。所谓逢龙即化,龙即辰也,非真龙而能变化也。得辰而化者,化辰之原神发露也,凡十干逢辰位,必干透化神,此一定不易之理也。不愁火土者,至弱之性,见火土多即从化矣;不论庚辛者,弱水不能泄金气,所谓金多反浊,癸水是也。合戊见火者,阴极则阳生,戊土燥厚,柱中得丙火透露,引出化神,乃为真也。若秋冬金水旺地,纵使支遇辰龙,干透丙丁,亦难从化,宜细详之。
Nhâm thị viết: quý thủy phi vũ lộ chi vị,nãi thuần âm chi thủy。Phát nguyên tuy trường,kì tính cực nhược,kì thế tối tĩnh,năng nhuận thổ dưỡng kim,phát dục vạn vật,đắc long nhi vận,biến hóa bất trắc。Sở vị phùng long tức hóa,long tức thìn dã,phi chân long nhi năng biến hóa dã。Đắc thìn nhi hóa giả, hóa thìn chi nguyên thần phát lộ dã,phàm thập can phùng thìn vị,tất can thấu hóa thần,thử nhất định bất dịch chi lí dã。Bất sầu hỏa thổ giả,chí nhược chi tính,kiến hỏa thổ đa tức tòng hóa hĩ;bất luận canh tân giả,nhược thủy bất năng tiết kim khí,sở vị kim đa phản trọc,quý thủy thị dã。Hợp mậu kiến hỏa giả,âm cực tắc dương sinh,mậu thổ táo hậu,trụ trung đắc bính hỏa thấu lộ,dẫn xuất hóa thần,nãi vi chân dã。Nhược thu đông kim thủy vượng địa,túng sử chi ngộ thần long,can thấu bính đinh,diệc nan tòng hóa,nghi tế tường chi.
Dịch: Nhâm thị nói: Quý thủy không phải gọi là mưa hay sương gì cả, chính là thủy thuần âm. Nguồn phát nguyên tuy dài, tính chất rất nhược, thế thủy rất tĩnh, có thể ướt Thổ, dưỡng Kim, dinh dưỡng vạn vật, được rồng sẽ chuyển động, biến hóa khôn lường. Nói là gặp rồng là hóa, rồng chính là Thìn, không phải rồng thật mà biến hóa được. Được Thìn là hóa được, nghĩa là nguyên thần của Thìn phát lộ ra, phàm thập can ở ngôi vị Thìn sẽ thấu hóa được dễ dàng, đây là cái lý bất di bất dịch. Không sợ Hỏa Thổ, bởi vì tính chất chí nhược, gặp Hỏa Thổ nhiều là theo hóa; bất kể Canh hoặc Tân, Quý thủy đều không tiết được, gọi là Kim nhiều thì ngược lại bị đục nước, chính là Quý thủy vậy. Hợp Mậu thành Hỏa nghĩa là âm cực thì dương sinh, Mậu thổ khô dày, trong trụ có Bính Hỏa thấu lộ, sẽ dẫn ra được hóa thần Hỏa. Gặp mùa thu và đông, Kim Thủy ở đất vượng, cho dù có gặp Thìn, can thấu Bính Đinh, cũng khó mà hóa được, phải xem kỹ.

Vui lòng Đăng nhập để tham gia cuộc hội thoại.

Trích Thiên Tủy chương V 24 08 2020 16:35 #3

《滴天髓阐微》上篇第06章 配合
CHƯƠNG VI PHỐI HỢP
________________________________________
配合干支仔细详,定人福祸与灾祥。
Phối hợp can chi tử tế tường
Định nhân phúc họa dữ tai tường
【原注】天干地支,相为配合,仔细推详其进退之机,则可以断人之祸福灾祥矣。
Nguyên chú: thiên can địa chi, tương vi phối hợp, tử tế thôi tường kỳ tiến thoái chi cơ, tắc khả dĩ đoán nhân chi họa phúc tai tường hỷ.
【任氏曰】:
此章乃辟谬之要领也。配合干支,必须正理搜寻详推,与衰旺喜忌之理,不可将四柱干支弗论,专从奇格、异局、神杀等类妄谈,以致祸福无凭,吉凶不验。命中至理,只存用神,不拘财、官、印绶、比劫、食伤、枭杀,皆可为用,勿以名之美者为佳,恶者为憎。果能审日主之衰旺,用神之喜忌,当抑则抑,当扶则扶,所谓去留舒配,取裁确当,则运途否泰,显然明白,祸福灾祥,无不验矣。
Nhâm thị viết: Thử chương nãi tích mậu chi yếu lĩnh dã. Phối hợp can chi, tất tu chính lý sưu tầm tường thôi, dữ suy vượng hỷ kỵ chi lý, bất khả tương tứ trụ can chi phất luận, chuyên tòng kỳ cách, dị cuộc, thần sát đẵng loại vọng đàm, dĩ trí họa phúc vô bằng, cát hung bất nghiệm. Mệnh trung chí lý, chỉ tồn Dụng thần, bất câu Tài, Quan, Ấn Thụ, Tỷ Kiếp, Thực Thương, Kiêu Sát, giai khả vi dụng, vật dĩ danh chi mỹ giả vi giai, ố giả vi tăng. Quả năng thẩm nhật chủ chi suy vượng, Dụng thần chi kỷ kỵ, đương ức tắc ức, đương phù tắc phù, sở vị khứ lưu thư phối, thủ tài xác đương, tắc vận đồ bĩ thái, hiển nhiên minh bạch, họa phúc tai tường, vô bất nghiệm hỷ.
Dịch: Nhâm thị nói: chương này chính là yếu quyết để tránh nói sàm. Phối hợp can chi, cần phải tìm kiếm suy luận theo lý chính đáng, cùng với lý luận suy vượng, hỷ kỵ, không thể bỏ qua can chi của tứ trụ không bàn, chuyên đi theo cách cuộc lạ kỳ, những loại thần sát mà bàn luận tầm sàm, để đến nổi họa phúc nói không bằng cớ, lành dữ nói không ứng nghiệm. Lý trong mệnh chỉ có Dụng thần, không câu chấp phải là Tài hay Quan hay Ấn Thụ hay Tỷ Kiếp hay Thực Thương hay Kiêu Sát, đều có thể làm Dụng thần, đừng có thấy tên đẹp là lành, tên xấu là dữ. Nếu có thể xét đoán nhật chủ suy vượng ra sao, Dụng thần hỷ kỵ chỗ nào, chỗ nào phải ức thì ức, chỗ nào phải bang trợ thì bang trợ, cái gọi là bỏ, giữ, thêm, phối hợp, giữ và bỏ thích đáng thì con đường vận mệnh lành hay dữ, hiển nhiên rõ ràng trước mắt, họa hay phúc, tai họa hay cát tường không gì không ứng nghiệm.
甲子 戊辰 庚申 壬午
己巳 庚午 辛未 壬申 癸酉 甲戌 乙亥 丙子 
Bát tự:
Giáp Mậu Canh Nhâm
Tý Thìn Thân Ngọ
Đại vận:
Kỷ Canh Tân Nhâm Quý Giáp Ất Bính
Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý
此造以俗论之,干透三奇之美,支逢拱贵之荣,且又会局不冲,官星得用,主名利双收。然庚申生于季春,水本休囚,原可用官,嫌其支会水局,则坎增其势,而离失其威,官星必伤,不足为用。欲以强众敌寡而用壬水,更嫌三奇透戊,枭神夺食,亦难作用。甲木之财,本可借用,疏土卫水,泄伤生官,似乎有情,不知甲木退气,戊土当权,难以疏通。纵用甲木,亦是假神,不过庸碌之人。况运走西南甲木休囚之地,虽有祖业,亦一败而尽,且不免刑妻克子,孤苦不堪。以三奇拱贵等格论命,而不看用神者,皆虚谬耳。
Thử tạo dĩ tục luận chi, can thấu tam kỳ chi mỹ, chi phùng củng quý chi vinh, thả hựu hội cuộc bất xung, quan tinh đắc dụng, chủ danh lợi song thu. Nhiên Canh Thân sinh vu Quý Xuân, thủy bản hưu tù, nguyên khả dụng Quan, hiềm kỳ chi hội thủy cục, tắc khảm tăng kỳ thế, nhi ly thất kỳ oai, Quan tinh tắc thương, bất túc vi dụng. Dục dĩ cường chúng địch quả nhi dụng Nhâm thủy, cánh hiềm tam kỳ thấu Mậu, Kiêu thần đoạt Thực, diệc nan tác dụng. Giáp mộc chi Tài, bản khả tá dụng, sơ thổ vệ thủy, tiết Thương sinh Quan, tựa hồ hữu tình, bất tri Giáp mộc thoái khí, Mậu thổ đương quyền, nan dĩ sơ thông. Túng dụng Giáp mộc, diệc thị giả thần, bất quá dung lộc chi nhân. Huống vận tẩu tây nam Giáp mộc hưu tù chi địa, tuy hữu tổ nghiệp, diệc nhất bại nhi tận, thả bất miễn hình thê khắc tử, cô khổ bất kham. Dĩ tam kỳ củng quý đẵng cách luận mệnh, nhi bất khán dụng thần giả, giai hư mậu nhĩ.
Dịch: Mệnh này bình thường luận là “can thấu tam kỳ chi mỹ, chi phùng củng quý chi vinh”, phía trên là tam kỳ, phía dưới là củng quý, với lại nữa, Thân Tý Thìn hợp cục Thủy không bị xung, Quan tinh hỏa được dùng, chính là được vừa danh vừa lợi. Nhưng Canh Thân sinh nhằm cuối Xuân, thủy vốn hưu tù, tưởng là dùng Quan nhưng hiềm có cục thủy, Khảm thủy tăng thế lực, Ly hỏa mất đi oai thế, Quan tinh sẽ bị tổn thương, không thể lấy làm dụng thần. Muốn lấy cường chúng địch quả thì dùng Nhâm thủy làm Dụng thần, lại hiềm tam kỳ có Mậu thổ, Kiêu thần thổ sẽ đoạt Thực thần thủy, cũng không được. Giáp mộc Tài có thể dùng được, có ít thổ chế thủy, tiết Nhâm Thương sinh Quan hỏa, tựa hồ hữu tình, có biết đâu Giáp mộc thoái khí, Mậu thổ đương quyền, khó mà làm chuyện thông quan được. Cho dù dùng Mộc làm Dụng thần, cũng chỉ là giả thần thành ra một người tầm thường. Huống gì vận đi về đường tây nam là chỗ hưu tù của Giáp mộc, tuy có tổ nghiệp, cũng một lần bại là mất hết, với lại không khỏi bị hình vợ khắc con (dụng thần Giáp Tài bị khắc), cô khổ không kham nổi. Lấy cách cục tam kỳ củng quý để luận mệnh mà không xem Dụng thần, đều là giả dối láo toét nhĩ.
丙子 己亥 乙丑 壬午 
庚子 辛丑 壬寅 癸卯 甲辰 乙巳 丙午 丁未 
Bát tự:
Bính Kỷ Ất Nhâm
Tý Hợi Sửu Ngọ
Đại vận:
Canh Tân Nhâm Quý Giáp Ất Bính Đinh
Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi
此造初看,一无可取,天干壬丙一克,地支子午遥冲,且寒木喜阳,正遇水势泛滥,火气克绝,似乎名利无成。余细推之,三水二土二火,水势虽旺,喜无金;火本休囚,喜有土卫,谓儿能救母;况天干壬水生乙木,丙火生己土,各立门户,相生有情,必无争克之意。地支虽北方,然喜己土原神透出,通根禄旺,互相兹护,其势足以止水卫火,正谓有病得药。且一阳后万物怀胎,木火进气,以伤官秀气为用。中年运走东南,用神生旺,必是甲第中人。交寅,火生木旺,运登甲榜,入翰苑,是以青云直上。 
Thử tạo sơ khán, nhất vô khả thủ, thiên can Nhâm Bính nhất khắc, địa chi Tý Ngọ dao xung, thả hàn mộc hỷ dương, chính ngộ thủy thế phiếm lạm, hỏa khí khắc tuyệt, tựa hồ danh lợi vô thành. Dư tế thôi chi, tam thủy nhị thổ nhị hỏa, thủy thế tuy vượng, hỷ vô kim; hỏa bản hưu tù, hỷ hữu thổ vệ, vị nhi năng cứu mẫu; huống thiên can Nhâm thủy sinh Ất mộc, Bính hỏa sinh Kỷ thổ, các lập môn hộ, tương sinh hữu tình, tất vô tranh khắc chi ý. Địa chi tuy bắc phương, nhiên hỷ Kỷ thổ nguyên thần thấu xuất, thông căn lộc vượng, hỗ tương tư hộ, kỳ thế túc dĩ chỉ thủy vệ hỏa, chính vị hữu bệnh đắc dược. Thả nhất dương hậu vạn vật hoài thai, mộc hỏa tiến khí, dĩ thương quan tú khí vi dụng. Trung niên vận tẩu đông nam, dụng thần sinh vượng, tất thị giáp đệ trung nhân. Giao Dần, hỏa sinh mộc vượng, vận đăng giáp bảng, nhập hàn uyển, thị dĩ thanh vân trực thượng.
Dịch: Mệnh này mới nhìn, không được một cái gì, thiên can Nhâm, Bính khắc nhau là một, địa chi Tý Ngọ xung nhau ở xa, với lại âm mộc thích dương lại gặp thủy thế tràn lan, hỏa khí bị khắc một góc, tựa hồ danh lợi không thành. Ta xem kỹ, 3 thủy, 2 thổ, 2 hỏa, thủy thế tuy vượng, may mà không có kim; hỏa vốn hưu tù, may mà có thổ bảo vệ, gọi là con (thổ) có thể cứu mẹ (hỏa); huống hồ thiên can Nhâm thủy sinh Ất mộc, Bính hỏa sinh Kỷ thổ, mỗi hành tự lập môn hộ, tương sinh có tình, không tranh khắc nhau. Địa chi tuy ở phương bắc nhưng may là Kỷ thổ thấu can, thông căn lộc vượng ở Sửu, hỗ tương sinh (hỏa sinh thổ) và hộ vệ (thổ bảo vệ hỏa từ thủy), hình thế đủ để ngưng thủy và vệ hỏa (dụng thần), chính là mắc bệnh mà có thuốc. Vả lại, một dương có rồi vạn vật hoài thai, mộc hỏa tiến khí, lấy Thương Quan làm Dụng thần. Trung niên vận đi về đông nam, Dụng thần vượng lên, chính là người đổ đạt. Qua Dần, mộc vượng sinh hỏa, được đăng giáp bảng, vào hàn uyển, do đó con đường mây thênh thang tới trước.
由此两造观之,配合干支之理,其可忽乎?
Do thử lưỡng tạo quan chi, phối hợp can chi chi lý, kỳ khả hốt hồ?
Dịch: Xét hai mệnh tạo ở trên thấy là, cái lý phối hợp can chi, không thể hốt lược qua được.

Vui lòng Đăng nhập để tham gia cuộc hội thoại.

Trích Thiên Tủy chương V 01 08 2020 10:52 #4

《滴天髓阐微》上篇第05章 理气
CHƯƠNG V LÝ KHÍ
________________________________________
理承气行岂有常,进兮退兮宜抑扬。
Lý thừa khí hành khởi hữu thường
Tiến hề thoái hề nghi ức dương
【原注】阖关往来皆是气,而理行乎其间。行之始而进,进之极则为退之机,如三月之甲木是也;行之盛而退,退之极则为进之机,如九月之甲木是也。学者宜抑扬其浅深,斯可以言命也。
Nguyên chú: Hạp quan vãng lai giai thị khí, nhi lý hành hồ kỳ gián. Hành chi thủy nhi tiến, tiến chi cực tắc vi thoái chi cơ, như tam nguyệt chi giáp mộc thị dã; hành chi thịnh nhi thoái, thoái chi cực tắc vi tiến chi cơ, như cửu nguyệt chi giáp mộc thị dã. Học giả nghi ức dương kỳ thiển thâm, tư khả dĩ ngôn mệnh dã.
【任氏曰】:
进退之机,不可不知也。非长生为旺,死绝为衰,必当审明理气之进退,庶得衰旺之真机矣。凡五行旺相休囚,按四季而定之。将来者进,是谓相;进而当令,是谓旺;功成者退,是谓休;退而无气,是谓囚。须辨其旺相休囚,以知其进退之机。为日主,为喜神,宜旺相,不宜休囚;为凶煞,为忌神,宜休囚,不宜旺相。然相妙于旺,旺则极盛之物,其退反速,相则方长之气,其进无涯也。休甚乎囚,囚则既极之势,必将渐生;休则方退之气,未能遽复也。此理气进退之正论也,爰举两造为例。
Nhâm thị viết: Tiến thoái chi cơ, bất khả bất tri dã. Phi trường sinh vi vượng, tử tuyệt vi suy, tất đương thẩm minh lý khí chi tiến thoái, thứ đắc suy vượng chi chân cơ hỷ. Phàm ngũ hành vượng tướng hưu tù, án tứ quý nhi định chi. Tương lai giả tiến, thị vị tướng; tiến nhi đương lệnh, thị vị vượng; công thành giả thoái, thị vị hưu; thoái nhi vô khí, thị vị tù. Tu biện kỳ vượng tướng hưu tù, dĩ tri kỳ tiến thoái chi cơ. Vi nhật chủ, vi hỷ thần, nghi vượng tướng, bất nghi hưu tù; Vi hung sát, vi kỵ thần, nghi hưu tù, bất nghi vượng tướng. Nhiên tướng diệu vu vượng, vượng tắc cực thịnh chi vật, kỳ thoái phản tốc, tướng tắc phương trưởng chi khí, kỳ tiến vô nhai dã. Hưu thậm hồ tù, tù tắc ký cực chi thế, tất tương tiệm sinh; hưu tắc phương thoái chi khí, vị năng cự phục dã. Thử lý khí tiến thoái chi chính luận dã, viên cử lưỡng tạo vi lệ.
Dịch: Cơ tiến thoái không thể không biết. Không phải cứ trường sinh là vượng, tử tuyệt là suy, phải xem xét tiến thoái của lý khi, rồi mới biết được cái cơ chân thật của suy và vượng hỷ. Phàm ngũ hành vượng tướng hưu tù là theo bốn mùa mà định rõ. Ngũ hành đang tiến gọi là tướng; tiến mà đương lệnh gọi là vượng; xong việc thoái lui là hưu; lui mà vô khí gọi là tù. Phải biện biệt rõ ràng vượng tướng hưu tù, để biết cai cơ tiến thoái của ngũ hành. Là nhật chủ hay hỷ thần thì nên vượng tướng, không nên hưu tù; là hung sát hay kỵ thần thì nên hưu tù, không nên vượng tướng. Nhưng tướng thì hay hơn vượng, vượng tức là thứ đã tới mức cực thịnh, thoái lui sẽ rất nhanh, tướng thì là khí đang trưởng thành, mức tiến còn chưa biết. Hưu thì kém hơn tù, tù là thế đã tới cực hạn, sẽ bắt đầu sinh; hưu thì chỉ mới vừa thoái, còn một thời gian mới trở lại được. Đây là luận cứ chính thống của sự tiến thoái của lý khí, bây giờ xin cử hai mệnh tạo làm ví dụ.
丁亥 庚戌 甲辰 壬申
己酉 戊申 丁未 丙午 乙巳 甲辰 癸卯 壬寅 
Bát tự:
Đinh Canh Giáp Nhâm
Hợi  Tuất Thìn Thân
Đại vận:
Kỷ Mậu Đinh Bính Ất Giáp Quý Nhâm
Dậu Thân Mùi Ngọ Tỵ Thìn Mão Dần
甲木休困已极,庚金禄旺克之,一点丁火,难以相对,加之两财生杀,似乎杀重身轻,不知九月甲木进气,壬水贴身相生,不伤丁火。丁火虽弱,通根身库,戌乃燥土,火之本根,辰乃湿土,木之余气。天干一生一制,地支又遇长生,四柱生化有情,五行不争不妒。至丁运科甲连登,用火敌杀明矣。虽久任京官,而宦资丰存,皆一路南方运也。  
Giáp mộc hưu khốn dĩ cực, Canh kim lộc vượng khắc chi, nhất điểm Đinh hỏa, nan dĩ tương đối, gia chi lưỡng Tài sinh Sát, tựa hồ Sát trọng Thân khinh, bất tri cửu nguyệt Giáp mộc tiến khí, Nhâm thủy thiếp Thân tương sinh, bất thương Đinh hỏa. Đinh hỏa tuy nhược, thông căn thân khố, Tuất nãi táo thổ, hỏa chi bản căn, Thìn nãi thấp thổ, mộc chi dư khí. Thiên can nhất sinh nhất chế, địa chi hựu ngộ trường sinh, tứ trụ sinh hóa hữu tình, ngũ hành bất tranh bất đố. Chí vu vận khoa giáp liên đăng, dụng hỏa địch sát minh hỷ. Tuy cửu nhiệm kinh quan, nhi hoạn tư phong tồn, giai nhất lộ nam phương vận dã.
Dịch: Giáp mộc hưu khốn cực kỳ, Canh kim lộc vượng khắc mộc, một chút Đinh hỏa khó đối địch với kim, thêm vào 2 Tài sinh Sát, tựa hồ là trường hợp Sát nặng Thân khinh, có biết đâu, Giáp mộc tháng 9 đang tiến khí, Nhâm thủy sát bên Thân tương sinh, thủy xa không tổn thương đến Đinh hỏa. Đinh hỏa tuy nhược, có Tuất dư khí hỏa, Thìn là thổ ướt, dư khí của mộc. Nhật chủ mộc một bên sinh một bên chế, có địa chi Hợi là trường sinh, tứ trụ sinh hóa có tình, ngũ hành không tranh chấp, không đố kỵ. Vận khoa giáp liên tiếp đổ mấy kỳ, Dụng thần là hỏa để địch với kim rõ ràng hỷ. Tuy 9 lần nhiệm quan ở kinh đô, mà vẫn có tiền để dành, đều là một đường vận ở phương nam.
乙亥 庚辰 甲戌 壬申  
己卯 戊寅 丁丑 丙子 乙亥 甲戌 癸酉 壬申  
Bát tự:
Ất Canh Giáp Nhâm
Hợi Thìn Tuất Thân
Đại vận:
Kỷ Mậu Đinh Bính Ất Giáp Quý Nhâm
Mão Dần Sửu Tý Hợi Tuất Dậu Thân
此与前大同小异。以俗论之,“甲以乙妹妻庚,凶为吉兆”,含合忘冲,较之前造更佳,何彼则翰苑,此则寒袷?不知乙庚合而化金,反助其暴。彼则甲辰,辰乃湿土,能生木,此则甲戌,戌燥土不能生木;彼则申辰拱化,此则申戌生杀;彼则甲木进气,而庚金退,此则庚金进气,而甲木退。推此两造,天渊之隔,进退之机,不可不知也。
Thử dữ tiền đại đồng tiểu dị. Dĩ tục luận chi, “Giáp dĩ ất muội thê Canh, hung vi cát triệu”, hàm hợp vong xung, giác chi tiền tạo cánh giai, hà bĩ tắc hàn uyển, thử tắc hàn giáp? Bất tri Ất Canh hợp nhi hóa kim, phản trợ kỳ bạo. Bĩ tắc Giáp Thìn, Thìn nãi thấp thổ, năng sinh mộc, thử tắc Giáp Tuất, Tuất táo thổ bất năng sinh mộc; bĩ tắc Thân Thìn củng (thôi thúc) hóa (thủy sinh Thân), thử tắc Thân Tuất sinh Sát; bĩ tắc Giáp mộc tiến khí, nhi Canh kim thoái, thử tắc Canh kim tiến khí, nhi Giáp mộc thoái. Thôi thử lưỡng tạo, thiên uyên chi cách, tiến thoái chi cơ, bất khả bất tri dã.
Dịch: Mệnh này so với mệnh trước giống nhiều khác ít. Lấy lẽ thường mà luận thì, “Giáp đem em gái Ất gã cho Canh, hung là điềm lành”, ý nói ham hợp quên xung, còn đẹp hơn mệnh trước, nhưng sao mệnh đó lại là hàn uyển (thi đổ) còn mệnh này lại hàn giáp (lạnh lẽo quấn áo)? Có biết đâu, Ất Canh hợp hóa thành kim, ngược lại còn bang trợ cho bạo chúa kim. Bên kia thì Giáp Thìn, Thìn là thổ ướt sinh được mộc, bên này thì Giáp Tuất, Tuất là thổ khô không thể sinh mộc; bên kia là Thân Thìn thôi thúc bán hợp cục Thủy sinh mộc, bên này thì Thân Tuất sinh Sát kim; bên kia là Giáp mộc tiến khí, còn Canh kim thì thoái khí, bên này thì Canh kim tiến khí còn Giáp mộc thoái khí. Suy hai mệnh tạo đó, thật là một trời một vực, cơ tiến thoái, không thể không biết.

Vui lòng Đăng nhập để tham gia cuộc hội thoại.

  • Trang:
  • 1

Đăng Nhập / Đăng Xuất