Trang thông tin liên lạc của cựu Giáo Sư và học sinh Trung Học Cường Để Qui Nhơn

Trang Facebook của cuongde.org

  • DaiThinhDuong1200
  • CD4 1200
  • hinhCu 1200
  • NhaGiuXe1200
Chào mừng, Khách
Tài khoản: Mật mã: Tự động đăng nhập

CHỦ ĐỀ: Hoi thu 25

Hoi thu 25 06 11 2010 08:17 #13

Hồi thứ 54

Tuẩn Lâm Phụ túng thuộc vong sư
Mạnh Châu Nho thác Ưu ngộ chúa

(Tuẩn Lâm Phụ không kiềm chế bộ thuộc để thua trận
Mạnh Châu Nho mượn hề Ưu nhắc nhở vua)

Chỉ xem Sở Trang vương phạt Trịnh là biết sẽ làm bá; bởi người ta không chịu tùng phục mình bèn đem quân đi đánh, phục tìng mình rồi, thành trì có bị sập cũng không đem quân vào, ân và oai cùng hiển lộ, làm sao không bá được ? Đến lúc Tấn đem một đoàn quân lục bách thừa đi thua trận vì một tên phó tướng không chịu nghe theo hiệu lệnh, đấy chính là trời thành tựu cho Sở làm bá vậy.

Hành quân đánh trận, quyền hành hoàn toàn trong tay chủ soái, phàm có kẻ phạm lệnh, lấp tức xử theo đúng quân pháp. Bởi đánh trận là chỗ mất còn của một nước, mệnh vận sống chết của mọi người treo trên đó, quyền nghi ở trong từng hơi thở, hơi một chút là sai trật, là sẽ bại vong. Trận Tấn cứu Trịnh, quân điều động lên đến lục bách thừa, ba nhánh quân đều nhất tề xuất chiến, sáu viên đại tướng cùng chỉ huy, trách nhiệm nặng nề không thể nào lớn hơn lúc này. Sở Trang vương thân tự trong đám quân sĩ, mưu thần dũng tướng đều he6't thảy trong đó, một thứ cường địch hùng mạnh dường nào! Hai nước chịu hoà ước, cùng vui vẻ thoái binh, đấy là thượng sách; cho dù có muốn đánh, cũng phải định rõ mưu lược thiết bị kế hoạch vạn toàn; Tuẩn Lâm Phụ làm chủ tướng trung quân, hấp ta hấp tấp không biết bố trí, quân thì không có kỷ luật, đến nổi tướng sĩ lao nhao, Tiên Cốc vi lệnh, Triệu Đồng hùa theo, án quân pháp, lập tức đem ra chém đầu, nếu không vậy cũng phải bỏ vào tù xa, rồi mới bàn kế cự địch. Làm gì mà đến nổi hoang mang thất tá, mạnh ai mưu theo người đó, tiến cũng không ra tiến mà thoái cũng không thành thoái, thua quân nhục nưỚc, tội còn biết nói gì đây ? Lúc đó nếu không có Sĩ Hội dự bị thiết kế phục binh, quân Tấn còn sót lại được bao nhiêu người nữa ?

Tôn Thúc Ngao làm tể tướng đã bao nhiêu năm, chết chưa được bao lâu, đứa con phải đi chặt củi kiếm ăn, con người liêm khiết không cần nói mà ai cũng biết. Nhưng Sở Trang vương cũng là một hiền vưƠng, vậy mà lại không biết thương tiếc con cháu bậc hiền lương, làm cho họ đến nổi phải khốn cùng đến như thế hay sao ? Lúc đó nếu không có Ưu Mạnh nói cho một lời thì con của Tôn Thúc Ngao chắc sẽ suốt đời bửa củi kiếm ăn nhĩ, thật là đáng tán thán!

Vui lòng Đăng nhập để tham gia cuộc hội thoại.

Hoi thu 25 07 11 2010 06:24 #14

Hồi thứ 2

(Bao nhân chuộc tội hiến mỹ nữ
U Vương phong hỏa hý chư hầu)

(Người nước Bao hiến mỹ nữ để chuộc tội
U Vương nổi lửa đùa cợt chư hầu)

Câu "Thiên định thắng thiên" ai ai nói cũng được, chỉ có vua và tể tướng là không được nói thôi, bởi vì vua và tể tướng vốn có cái quyền hạn có thể vãn hồi tạo hóa. Doãn Cát Phủ nói "nhân định cũng có thể thắng thiên" quả là một câu danh ngôn chí lý. Nhưng đạo trời đã biểu thần biến hóa ở đoạn trước, thì nhân sự cũng phải có một phen gia bồi tu tỉnh, cực lực phấn đấu, mới vãn hồi lại được. Như chỉ bình bình thường thường xông tới, tự nhiên là chẳng thể nào "thắng thiên" nổi. Doãn Cát Phủ từ lúc U Vương tức vị về sau, không hề nghe một tiếng trung cáo mưu lược, cũng chẳng thấy tuyển cử mấy kẻ chính nhân, để ông ta cư vị trong tam công lục khanh, làm sao có hy vọng gì thắng được thiên ? Có thể thấy được, câu nói đó cũng chỉ ở đầu môi chót lưỡi giữ thể diện, nói nghe cho êm tai thôi nhĩ.

U Vương lúc còn thiếu thời đã quanh quẩn bên đám tiểu nhân, đám tiểu nhân đó từ đâu ra ? Nếu không phải là vua trước gởi đến thì do vua sau tiến cử. Doãn Cát Phủ, Thiệu Hổ được dặn dò phò tá vua kế thừa, đã chẳng tiến cử được hiền tài, xua đuổi kẻ bất tiếu, để biểu minh lòng trung của mình, lại chẳng có lời lẽ thẳng thắn can gián, để cảm ngộ bậc làm vua, không thể xem là có đủ tài phò tá vậy.

Bá Dương Phụ quả thật là một kẻ tuyệt diệu, xem ông ta bốc quẻ, đoán mộng, chiêm tinh mọi sự, luận về thuật số thôi, đã đúng phong phóc không nghi ngờ gì, đến chuyện núi lỡ sông cạn ông ta bàn luận có đầu có đuôi, viện kim chứng cổ, nói chuyện lý thì cực kỳ tinh vi, nói chuyện số thì cực kỳ chính xác, đương thời thái sử quả không hỗ với chức vị của mình, thật làm cho người ta ái mộ đến chết đi được!

U Vương con người tuy ám muội bạo tàn, nhưng không dùng lời lẽ của Thạch Phụ để làm tội Bá Dương Phụ, Thúc Đái, không lấy chuyện đánh đập Bao Tự mà trách cứ Vương hậu và thái tử, còn có thể xem là người hiểu biết, có hàm dưỡng, có thể làm thiện được. Nếu có người hiền phò tá, chắc gì mà không thể chuyển hung thành cát; chỉ tiếc bị một đám gian nịnh, suốt ngày ở một bên, a dua hùa làm chuyện ác, làm cho chìm lỉm vào trong hố sâu, không cách gì quay đầu trở lại, thật đáng thán!

Thúc Đái can gián, lời lẽ quả thật là thuần phác trung trực. Tuy U Vương bị gian thần mê muội, không nghe theo lời khuyên, nhưng cái chí hướng trung ái chiếu sáng vũ trụ! Con cháu sau này vẻ vang ở Tấn, cũng là do lòng trung hậu của tổ tiên để lại.

Danh phận lễ nghĩa, là cơ bản thánh nhân đặt ra để dạy dỗ; do đó duy trì được quốc gia, không để loạn lạc mất kỷ cương, là cũng nhờ ở đó. U Vương sủng ái Bao Tự có thể được, nhưng không nói bà ta đi triều Vương hậu, chính bà ta cũng không chịu đứng dậy nghinh tiếp, vô lễ vô nghĩa, hỗn loạn danh phận quá chừng nhĩ! Căn bản đã hư hỏng như thế đó, nước còn làm sao mà an cư lạc trị lâu dài cho được ?

Dâng biểu lên tạ tội là đúng lý, đến chuyện cảm động mà kêu về lại, lại là hàng thứ rồi nhĩ; Thế mà còn lấy cớ nhận tội, rồi lại nói sau đó sẽ tính tiếp, như thế là lý ở chỗ nào ? Tự rước lấy họa, còn biết nói gì bây giờ. Mỗi người có mỗi cách nói, như U Vương phế hoàng hậu thái tử, diệt lý thương luân, thiên hạ ai ai cũng có thể nói được. Chỉ có mỗi Thân Hầu là không nói được, tại sao ? Nằm ở cái chỗ hiềm nghi vậy. Nói mà nghe thì gần như là ép bức vua rồi, còn nói mà không nghe, chỉ để rước hoạ, "kiến cơ" mà làm, đó là hai chữ giữ thân của bậc minh triết. Thân Hầu không chừng chưa nghe chăng ?

Vui lòng Đăng nhập để tham gia cuộc hội thoại.

Hoi thu 25 13 11 2010 06:43 #15

Hồi thứ 16

Thích lam tù Bao Thúc tiến Trọng
Chiến Trường Thược Tào Kịch bại Tề

(Thả tù nhân Bao Thúc tiến cử Quản Trọng
Trận Trường Thược Tào Kịch đánh bại quân Tề)

Quản Trọng có chí hướng thi triển tài mình ở Tề, do đó mà chuyện chính sự, nhân vật nước Tề, không có gì là không hiểu rõ trong lòng, chỉ xem lúc đầu mới gặp Tề Hoàn công nói chuyện, đâu phải là nhất thời mà nói ra được những điều như thế ? Bởi vì muốn ở Tề, mới không ngại ngồi trong tù xa, hướng bắc mà phụng sự cho kẻ thù.

Bảo Thúc tiến cử Quản Trọng không khó, khó là chỗ Hoàn Công có muốn dùng hay không. Dùng cũng không khó, khó là đã dùng thì phải dùng làm tể tướng. Bỏ đi cái hận bắn tên vào ngực xém chết mà tôn sủng một người, lại chuyên dùng họ không nghi ngờ gì, không lấy lời sàm tấu của kẻ tiểu nhân mà sinh nghi, Quản Trọng được cơ hội thi triển tài năng của mình là cũng nhờ hết vào đó.

Bảo Thúc tiến cử Quản Trọng, toàn là dùng kế dụ dỗ; thừa lúc Yề Hoàn Công tráng chí nổi lên, bèn nói đến chuyện công danh sự nghiệp huy hoàng sáng lạng, làm cho ông ta xốn xang không chịu nổi trước, rồi lại nói, muốn được vậy thì phải có người này, làm ông ta không cách nào không đi theo đường đó, đúng là một kẻ biết dùng dụ kế.

Bảo Thúc biết tài của Quản Trọng, dùng chuyện nhỏ không đủ để hiển lộ tài năng, do đó mới nói Hoàn công dùng lễ long trọng; bởi vì nếu lễ không long trọng thì dùng người không chuyện, dùng người không chuyên không đủ thành chuyện vậy. Bảo Thúc tiến cử hiền tài vì nước một phen khổ tâm, làm người ta không ngớt than thở!

Quản Trọng trị nước Tề, có rất nhiều cách, nhưng lúc trả lời câu hỏi của Hoàn công, rằng muốn dùng dân trước hết phải thương dân, thật là đã hiểu được yếu quyết rồi vậy. Hay nhất là vừa mở miệng đã nói: "Lễ nghĩa liêm sĩ, quốc chi tứ duy", lại là yếu quyết trọng yếu nữa. Bởi bốn chữ đó, thật sự là bản đồ trị quốc gia nhĩ. Quản Trọng còn chưa xa hẳn với thời xưa, học thuật thuần chính, mở miệng ra là đề cập đến ngay đến bốn chữ đó. Người xưa có nói rằng Tề Tương công dâm dật mà gây ra hỗn loạn, khó lòng trị binh, Quản Trọng đưa lời đó ra trước để làm chính cương thường; nói thế không những đã nghĩ thấp về Quản Trọng mà còn coi thường bốn chữ đó nữa vậy.

Chia ra ngũ kiệt để phân nhiệm vụ, lại là một phen trí thuật tuyệt diệu, bởi cho dù là thánh nhân, cũng không ai một mình có thể làm được chuyện cai trị. Tề dùng ngũ kiệt, là Quản Trọng trước tiên đã được năm kẻ đắc lực bang trợ, ở giữa điều động, tùy cơ ứng biến, quả là có cái tài của một tể tướng.

Tào Kịch đánh bại Tề, chỉ ở trong một chữ "ổn". Trước giờ, kẻ nào thắng được kẻ địch, không ai là không nhờ vào chữ ổn, không phải chỉ là nhờ ở cách dùng binh mà
thôi.

Vui lòng Đăng nhập để tham gia cuộc hội thoại.

Hoi thu 25 20 11 2010 06:52 #16

Hồi thứ 3

Khuyển Nhung chúa đại náo Kiểu Kinh
Chu Bình Vương đông thiên Lạc Ấp

(Chúa Khuyển Nhung đại náo Kiểu Kinh
Chu Bình vương đời đô về Lạc Ấp ở hướng đông)

Thân Hầu làm chuyện gì cũng thật hồ đồ, không có tý gì đầu não mưu trí, từ đầu tới cuối, không có lấy một chuyện cho được. Ở trong chỗ bị hiềm nghi, nói ra những lời trái tai đã là bất trí. Nghe thiên tử hưng binh lại thảo tội, nếu dâng lên một tờ biểu nữa, mạnh dạn biện bạch một phen, hoặc ước đồng lân quốc chư hầu cùng can gián. Như nếu vương sư không chịu rút lui, lúc đó mới dùng binh chư hầu cảm ngộ nhà vua cũng là một kế. Lúc đó những kẻ dám mở miệng nói gì trong lúc nhà vua đang giận, cũng chỉ có lèo tèo mấy người trong triều là Quắc Thạch Phụ, Tế Công Dịch, Doãn Cầu thế thôi. Vương hậu, thế tử vô tội bị phế, gian thần hoạn quan bại hoại cương thường, công đạo tự có trong lòng người, trong đám liệt quốc, không lẽ không có ai đồng chí hướng ? Xướng nghị truyền lời cùng khuyên giải vua, đưa thái tử về, thả Vương hậu ra, cũng có thể là chuyện làm được. Tại sao lại đi mượn binh Nhung Địch, tự làm mất kỷ cương của mình ? Cho dù lỡ có bất hạnh, không biết làm sao hơn, vạn bất đắc dĩ phải mượn binh Nhung, thì cũng phải trước tiên ước định, không được cướp bóc, khao quân thù lao số mục, cũng phải trước tiên quy định, làm sao lại chỉ có mấy lời đơn giản để bọn họ mặc tình hoành hành không chút cấm kỵ được ? Mở hướng cho Nhung vào rồi rước thảm họa, Thân Hầu không thể thoát được tội can hệ!

Kỳ Phong là cơ nghiệp của nhà vua, bỏ đó cho Nhung Địch thì chắc là không được, bỏ đi cho phiên quốc, cũng không được nữa. Xem đoạn sau này quân Tần mấy lần đánh bại Khuyển Nhung đoạt hết đất ở Kỳ Phong, có thể thấy Khuyển Nhung không phải là vô địch gì. Nếu Bình Vương lúc đó nghe theo lời Vệ Vũ công, thủ chắc ở Kiểu Kinh, khích lệ các nước chư hầu ở tây bắc hứa trọng thưởng, cùng đuổi quân Nhung ra khỏi bờ cỏi, rồi từ từ tính kế xây dựng lại cung thất, phục hồi lại vẻ tráng quan, thì chắc gì mà không khôi phục lại được cơ nghiệp. Kế sách không tới được vậy, chỉ có chuyện dời đô mà tính tới thôi, chí hướng ở chỗ cầu an, bởi vậy mới để cho cái thế của quốc gia càng ngày càng suy nhược, không còn chấn phấn nổi rồi cuối cùng đành bị diệt vong, thương thay!

Vệ Vũ công hai phen nghị luận, có đầu có đuôi, cân nhắc nặng nhẹ, thẩm đoán sự việc, có bản lãnh có kế toán, như đứng tren núi cao chót vót, vạch chỉ hình thế, không đâu là không rõ ràng minh bạch, thật là lòng dạ của một đấng lão thành mưu việc nước. Bình Vương và một đám quần thần đều là thứ nho phu thiển cận, chỉ nhắm vào cái bình an trước mắt, mà không thấy cái kế lâu dài, do đó mà nói không nghe lọt vào tai, để nhà Chu rốt cuộc dời đô về hướng đông. Tiếc thay trung ngôn trái tai nhĩ! Lúc không có chuyện gì không nghe; đợi đến lúc xảy ra chuyện gì, dù có tận sức tận tâm, không những chẳng làm gì được, mà còn tan tành cả ngọc lẫn đá! Như U Vương không nghe lời can gián của Trịnh bá, bị giặc giết là thế. Người không tốt liên lụy người tốt, thật là một chuyện đáng hận ngàn đời.

Vui lòng Đăng nhập để tham gia cuộc hội thoại.

Hoi thu 25 27 11 2010 03:56 #17

Hồi thứ 4

Tần Văn công giao thiên ứng mộng
Trịnh Trang công quật địa kiến mẫu

(Tần Văn công tế trời nằm mộng
Trịnh Trang công đào đất gặp mẹ)

Kiểu Kinh bị Khuyển Nhung nhiễu loạn cho một phen, Bình Vương thấy tận mắt nhà kho trống không, dân tình ly tán, binh lực bạc nhược, không thể chỉnh đốn nội cung thất tàn hủy, không thể trùng tu được, do đó mà dời đô. Giờ đây vừa mới đến Lạc Dương, chuyện nước còn chưa thư thả, đại cừu còn chưa kịp báo thù, vì lý do nạp cống chưa kịp, đã nghĩ đến chuyện phạt Sở; người thường bị đè là sợ, may mà được lên là kiêu, ngàn năm như một.

Yếu địa ở Kỳ Phong, hẳn là không thể bỏ được, hồi trước đã bàn luận qua rồi nhĩ. Nhưng chuyện Tần thế Chu đã là cái số tiền định, do đó mà Bình Vương ban cho, mà nước Tần nhận, đều có cái vẻ không làm gì cả mà đã làm tất cả rồi, không hẳn là cái lỗi của con người.

Nhung Địch là bọn sài lang thành tính, nếu mà an phận một mình mình thì tận sức mà tự tôn tự đại. Cho dù Kiểu Kinh bị nhiễu loạn một lần, dẫn đầu mối họa là Thân Hầu, đã may mắn cướp bóc được một phen đem về, cũng nên ngừng mới phải, còn ai lại mà tìm họ trả thù. Nhưng họ lại ỷ thị binh lực, xâm lược không thôi, ép cho thiên tử phải dời đô, chọc cho nước Tần phải đánh, binh tướng bị giết sạch trong chiến trận, vua thì không được ngồi yên chỗ, bị đuổi ra ngoài tây hoang, còn để cho đất đai mình bị chiếm đoạt hết sạch, có thể nói là cái gương cho kẻ tham lam không biết chán.

Lễ nhạc là cơ bản để trị dân, chinh phạt là cái quyền nghi để chế ngự, nhưng chỗ mà chinh phạt không đi đến được, phải cần vào lễ nhạc để duy trì. Tần bá dám dùng lễ giao, tiếm lễ quá chừng, thiên tử không có sức để thảo phạt, nếu sai một sứ giả nào đó, lấy lời nhiêm chỉnh trách cứ, Tần chắc gì đã dám cả gan kháng lại mệnh lệnh. Thử xem chuyện hỏi cửu đỉnh lúc Chu đã tới lúc yếu ớt vô cùng rồi, mà hai phen chính luận, vẫn còn làm cho Tấn và Sở cúi đầu cụp tai, huống hồ bấy giờ nhà Chu vẫn còn chưa thấy tệ gì lắm. Đại khái cái chất của Bình Vương cốn đã bình thường, không biết được đại thể, cầu an cầu ổn đến nổi nuôi thành mầm loạn, làm cho Tần thay thế được nhà Chu, không phải là ý Trời đấy sao ?

Tần dám lễ thượng đế, chuyện tiếm vị còn phải nói, nhưng còn làm bộ nói là lễ Bạch đế, xưng là lễ này lễ nọ, dấu đầu dấu đuôi, bởi còn sợ mang tiếng nhĩ. Lỗ lại dám đi xin lễ giao, lại càng quá chừng hỷ! Xin mà không cho, kháng mệnh tự làm, tội càng nặng nhĩ! Làm cho Tần so sánh, Lỗ là nước tông quốc, người thân thuộc nhất trong vương tộc, nước của Chu công, lễ nghĩa từ đó ra, mà làm như vậy thì một nước xa lắc xa lơ như nước Tần làm sao mà bắt chước được bây giờ ? Chư hầu tiếm vị, xâm đoạt nhau, ngang ngược với vương triều, bỏ bê văn hiến, thật là do Lỗ đã xướng lên vậy.

Thương riêng con thứ, đó vốn là lẽ thường của đàn bà, nhưng làm sao mà tới được mức như Khương thị ? Huống gì tranh vị đoạt nước, không phải như con nhà sĩ thứ, cái thế tất phải hai bên dàn trận đối địch, không phải anh giết em thì em giết anh thôi; thương con này giết con kia, kẻ làm mẹ lòng dạ thế nào nhĩ ? Lúc đầu chẳng qua là ý nghĩ thương xót, nhưng không biết sau này họa hoạn thảm thiết đến nổi như thế, con người ngu si, ngu si đến mức đáng hận! Cũng đáng thương!

Trịnh Trang công không những cao siêu hơn Thúc Đoạn, so với đám công tử Lữ, còn cao hơn cả mấy tầng. Mọi người nhiều lần đòi đi đánh, xem Thúc Đoạn quá cao, phải lập tức trừ khử ông ta cho xong; dưới con mắt Trang công, chỉ như không có gì cả, bởi đã hiểu rõ tài lực không đủ làm gì mình rồi. Do đó mà cứ để mặc ông ta hoành hành, chẳng thèm để ý tới. Cũng như đùa với con khỉ, cứ để nó nhảy nhót chạy qua chạy lại, làm như không thấy gì cả vậy. Đợi đến lúc nó tưởng thiệt muốn chạy đi, là cầm dây kéo một cái, chẳng sợ nó chạy đi đâu mất tiêu. Còn như chuyện Thúc Đoạn vô lễ mà chẳng phát tác gì, chính là kẻ biết là kẻ chẳng vội vàng vậy. Trang công trước mặt mọi người không chịu đem cái ý đó ra nói rõ, chỉ hàm hồ đáp ứng, mọi người lo sốt vó dùm cho ông ta, có biết đâu trong bụng ông ta đang cười thầm. Nói ông ta vì tình mà quên đi đại kế là như nói trong mộng mỵ, cho dù nói ông ta nuôi cho thành hoạ hoạn rồi giết cho khỏi mang tiếng, cũng chỉ là gãi ngứa ngoài da nhĩ.

Chuyện Trang công thề không gặp mẹ, tự nó là một chuyện vô luân lý, không cần phải nói thêm cho tốn lời, nhưng may mà Khương thị cũng còn nhẫn nhịn được, Trang công cũng quay đầu hối ngộ. Nếu như bất hạnh, Khương thị vì tức và xấu hỗ cấu xé mà có chuyện gì, tôi không biết Trang công làm sao ăn nói với thiên hạ muôn vạn đời sau ? Và làm sao mà tự xử với lương tâm ? Giận dữ từ trong lòng ra, nếu không cẩn thận nói lỡ một lời sẽ thành tội nhân thiên cổ, người ta phải ráng mà để ý cẩn thận nhĩ!

Vui lòng Đăng nhập để tham gia cuộc hội thoại.

Hoi thu 25 28 11 2010 09:08 #18

Sủng Quắc Công Chu Trịnh giao chất
Trợ Vệ nghịch Lỗ Tống hưng binh

Vệ Hoàn công cứ theo lời một bên của Trịnh Hoạt, không xét rõ ràng minh bạch, là tự đi hưng sư động chúng, bang trợ kẻ nghịch, công kích kẻ hiếu thuận, vô duyên cớ gây tội với lân quốc, quả thật là hạng thấp kém bình thường. Viết thơ vài hàng, là thỏa đáng nhất, thị phi khúc trực đều phân biện đâu vào đó. Huống hồ chỉ cần viết một lá thơ là có thể bỏ thù làm bạn, đở biết bao nhiêu là nước miếng tranh cải, kẻ có quốc gia, ai cũng phải giữ trong lòng cái ý đó chứ nhĩ ?

Từ quân vương mà luận xuống, làm việc mà không có lỗi lầm gì, tự nhiên là không nên dễ dàng canh cải. Còn từ dưới mà luận thì công việc là công việc của vương triều, hoặc ban cho hoặc lấy lại, thì phải nghe theo lời vua, có đâu mà tham vị tự kiêu, chiếm làm của riêng của mình ? Huống hồ còn oán giận không thôi, đến nổi đòi vua đưa thái tử về nưỚc làm con tin, đòi về còn không chịu thôi, còn dùng tới binh đao, cướp lúa cướp thóc, không xem vua ra gì nhĩ.

Dựng ra minh đàn trao đổi con tin vốn là chuyện bá đạo, dùng trong việc nưỚc đã thấy là con đường không chính đạo, huống hồ gì là giữa quân thần với nhau ? Vả lại thái tử vốn là vua thứ hai, cũng là chúa của chung thiên hạ. Trịnh Bá nghiễm nhiên nhận làm con tin, vương triều suy nhược khỏi cần phải nói, mà Trịnh Bá hoạnh hoẹ đàn áp cũng là một chuyện xấu hiếm có xưa nay nhĩ.

Hắc Kiên luận Trịnh bá là con người khắc nghiệt, hiếm ân tình, không phải là thứ thần tử trung thuận, bàn luận chính xác. Bởi con người khắc nghiệt, ắt hẳn là ít ân tình, nếu là ít ân tình, tuy là quân thần phụ tử với nhau, cũng chẳng hề kỵ húy, muốn cho họ trung thuận cũng khó hỷ. Ông ta bàn rằng Trịnh vốn là kẻ có công, tất không nên đoạt quyền chính của Trịnh đi e Trịnh phẫn nộ làm chuyện quá đáng, lời bàn luận không nên đoạt quyền của Trịnh, chỗ lợi hại cũNg đã quá minh bạch. Hoàn Vương là Kẻ không biết gì, cho nên không nghe. Đến lúc Trịnh làm chuyện không đẹp, cướp lúa cướp thóc, Hoàn Vương tức giận muốn hưng binh , mà may là ông ta đứng ra điều đình giải vây; bởi đã quá hiểu lực lượng bạc nhược làm chi được Trịnh, chi bằng làm mặt tốt, để cho họ tự xấu hỗ, cũng là một cách hiểu chuyện.

Nước Trịnh quân và thần đều là một thứ gian và hiểm như nhau, đúng là "phương dĩ loại tụ", chỉ có mỗi một Đồi Khảo Thúc là có vẻ chính đạo một chút, nhưng một mình chẳng làm được gì. Tế Túc vừa gian lại vừa tham, do đó bang trợ Trịnh Trang công, làm ra vô số chuyện tổn hại luân thường đạo lý.

NgưỜi ta có người trợ giúp hay không có, đắc lực hay không đắc lực, cũng không hoàn toàn dựa vào hôn nhân. Trịnh Hốt nói: "TrưỢng phu chí ở tự lập", chắc chắn là đạo lý. Nhưng cũng còn xem mình ở thời thế ra sao, tài lực mình thế nào ? Không thế, nhờ vào hôn nhân cũng là một cách, chắc gì nên bỏ qua không xét đến.

Vệ Trang công, Vệ Hoàn công, Châu Vu, Tống Thương công, Công tử Liên một đám, đều là một thứ ác ôn côn đồ không kiến thức, lăn lộn cho qua ngày tháng trong ngu si, không thể xem là một tay đại gian đại ác, chỉ xem Về Trang thương con, biến ra hồ đồ, chẳng biết gì đến chuyện phòng bị cái họa về sau, tuy có Thạch Thác nói ra lời trung ngôn, ông ta chẳng hề tỉnh ngộ. Vệ Hoàn vừa mới lên tức vị, sủng ái đứa em vốn là kẻ côn đồ trưỚc giờ, ông ta lại chẳng đề phòng, đến nổi bị độc thủ ám hại. Vệ Trang còn nói là thương con không thấy đường thấy lối, Vệ Hoàn công cũng còn vẫn không đề phòng gì, không phải lại càng là kẻ hồ đồ quá mức ?

Trịnh Trang công thoái lui năm nước là hiểu chuyện sâu sắc, nắm đúng vấn đề, do đó mà không mất chút hơi sức giải quyết sự việc dễ dàng. Hay nhất là ở chỗ trá bại một phen, đủ làm cho kẻ địch thỏa lòng, mà mình chẳng hư hao tý nào, đủ thấy thủ đoạn của một tay gian hùng giảo hoạt.

Thạch Hậu kiến thức tính toán đều cao hơn Châu Vu mấy lần, nếu dùng ông ta chấp chính, chắc gì không có bổ ích cho nước nhà, chỉ tiếc là bang trợ nghịch đảng thí vua, đem đề mục căn bản làm trật ngay từ đầu rồi, thế là để tiếng xấu muôn đời, làm kẻ thông minh phải nhìn đó mà làm gương thận trọng giữ mình!

Vui lòng Đăng nhập để tham gia cuộc hội thoại.

Đăng Nhập / Đăng Xuất