Trang thông tin liên lạc của cựu Giáo Sư và học sinh Trung Học Cường Để Qui Nhơn

Trang Facebook của cuongde.org

  • NhaGiuXe1200
  • CD4 1200
  • DaiThinhDuong1200
  • hinhCu 1200

LTS. Bài này đã đăng trong Đặc san Cường Để & Nữ Trung Học Quy Nhơn 2007 & 2008.

Không hiểu sao mỗi lần nhớ Quy Nhơn tôi lại nghĩ đến cái phi trường. Có gì liên hệ giữa thành phố biển thân yêu ấy, tuổi 17, 18 mơ mộng và lãng mạn của tôi với một thứ tưởng chừng như đầy cả sắt thép và xi măng? Lẩn thẩn tự hỏi, tự tìm câu trả lời cũng là hành trình của sự trở về….

Năm 64 gia đình tôi chuyển từ Huế vào Quy Nhơn. Chúng tôi thuê một ngôi nhà nằm đầu ngõ của phi trường. Chủ nhà là một người đàn bà không chồng (thực ra là bị chồng bỏ) nhường hẳn cho chúng tôi toàn bộ căn nhà rút lại ở một phòng xép nhỏ phía sau. Chị ta bán một thứ chè đặc sản Bình Định mà chúng tôi rất thích “Chè bột khoai, đường cát, nước dừa”. Mỗi buổi sáng dậy sớm học bài, mùi lá dứa phả vào không gian thơm nức. Đã bao năm rồi mà vị béo ngậy của nước cốt dừa như còn đọng ở đầu lưỡi (dừa thì ở Huế rất hiếm). Cái tên của chị: Hai Cà không chỉ một thứ trái mà gợi một sắc hoa, ngan ngát tím dân dã, đồng nội, như vẻ đẹp tươi giòn của người phụ nữ mới chỉ ngoài 30, bị chồng bỏ chỉ bởi cái tội không sinh được con. Cái dáng liêu xiêu của chị, và tiếng rao giọng nẫu kéo dài có cái gì đó rất cô đơn, cam chịu khiến tôi chạnh lòng. Chao ôi! Thân phận của người phụ nữ nào phải chỉ có ở chuyện xưa, trong Kiều, Cung Oán hay Chinh Phụ…..

Láng giềng của tôi là gia đình một người Bắc di cư đông con. Nhà tôi cũng thế và lũ trẻ tùy lứa mà cặp bạn với nhau. Tôi thì khác, tôi đâu còn là trẻ con. Con gái Huế không đánh bạn như thế. Anh P., con trai trưởng của nhà ấy học trên tôi hai lớp. Người ta bảo “gần nhà xa ngõ”. Nhà thì gần mà ngõ cũng chẳng xa. Chỉ có xa vì cái nếp của người Huế chúng tôi (không biết đúng hay sai nữa). Chúng tôi chỉ thấy chứ không nhìn nhau. Chúng tôi cũng có trao đổi một vài lần về chuyện sách vở, học hành, chẳng có gì quan trọng. Đậu tú tài xong, anh ấy không đi học tiếp đại học mà vào không quân. Sau một thời gian huấn luyện anh được về phép thăm nhà. Anh ấy đón gặp tôi trên bãi cát dẫn ra đường Cường Để dưới tán một cây keo có hoa vàng rực. Cho đến bây giờ tôi cũng không còn nhớ anh ấy nói với tôi điều gì và tôi trả lời ra sao. Một cảm giác hoảng sợ tràn ngập. Tôi lo “người ta nhìn thấy tôi đứng nói chuyện với con trai giữa đường giữa sá”. Không soi gương nhưng tôi biết mặt mình cứ đỏ lựng lên, hai gót guốc Đa Kao nhọn hoắt lún sâu xuống cát, cái thế chênh vênh ấy khiến tôi càng mất bình tĩnh. Tôi càng lúng túng anh ấy càng bối rối. Chưa bao giờ tôi thấy một người nào cao lớn, khỏe mạnh dường ấy lại có cặp mắt bối rối đến dường ấy… Sau khi nhấc đôi gót guốc ra khỏi cát, vội vàng trả lời thêm một hai câu, tôi chào và quay ngoắt ra đường Cường Để. Khi cảm giác hoảng sợ lắng xuống, tôi thấy ân hận vô cùng nhưng không dám nhìn lại xem anh ấy còn ở đó hay đã đi rồi…

Vào ngày sau, anh P. đi qua ngõ nhà tôi, không quay lại. Tôi nhìn theo bộ đồ màu ô liu, chiếc xách nhỏ quàng vai. Anh khuất sau cổng phi trường có những cuộn thép gai dùng làm chướng ngại, thấp thoáng bóng MP mũ sọc xanh, sọc đỏ. Hai tháng sau chúng tôi chuyển vào nhà mới ở khu 6. Vài tháng sau nữa nghe tin máy bay của anh bị bắn hạ trên cao nguyên. Cả nhà tôi ai cũng thương và tiếc vì anh ấy là người hiền lành. Tôi thấy hẫng hẫng và tan loãng trong một cảm xúc mơ hồ không rõ nét. Tối hôm đó, chờ cho mọi người đi ngủ xong tôi lẻn ra bờ giếng đứng một mình. Cái lạnh của trời đêm, cái lạnh của giếng nước, những ngôi sao ganh nhau lấp lánh. Tôi thấy rợn ngợp trước khoảng không vô tận ấy. Những cảm xúc dồn nén bật ra như nước tràn qua con đập. Tôi khóc, khóc nức nở, khóc như thể chưa bao giờ được khóc. Khóc xong, tôi tự cảm thấy mình vô duyên nhưng lòng cũng đã nhẹ nhàng. Tôi chẳng hiểu vì sao mình khóc nữa? Ân hận? Cảm thương về số phận mong manh của con người trong cuộc chiến tranh khốc liệt? Rắc thêm một chút gia vị cho cuộc sống vốn bình lặng và khép kín của mình? Nước mắt của con gái phức tạp lắm, truy nguyên cho cặn kẽ để mà làm gì.

Thời gian sau đó không hiểu sao tôi tìm đọc Saint-Exupéry: Vol de nuit, Pilote de Guerre, Terre des Hommes, Le Petit Prince. Hồi ấy tôi thích những trang văn giản dị, trong sáng đầy chất thơ của ông chứ chưa đủ trình độ hiểu hết ý nghĩa thâm sâu đầy tính nhân bản trong tác phẩm của nhà văn nổi tiếng này. Một phần cũng vì ông đã kết thúc đời phi công, đời văn một cách bí ẩn bằng một chuyến bay không bao giờ trở lại. Bí mật nào cũng tạo sự hấp dẫn.

Cuộc chiến mỗi lúc một ác liệt. Cường độ của nó có thể đo được bằng mật độ của phi cơ lên xuống trong phi trường hằng đêm. Thời gian ấy tôi bận ôn thi Tú tài I. Tuy thế vẫn có những lúc rãnh rỗi, tôi thường ngồi bó gối trên bậc cửa sổ. Bãi cát dọc theo phi trường sáng loáng, ngút mắt dưới ánh trăng. Tiếng phần phật của cánh quạt máy bay trực thăng, tiếng gầm rú của phi cơ vận tải trước khi cất cánh…Tôi nhìn theo cho đến lúc chiếc đèn sau đuôi máy bay chỉ còn là một chấm nhỏ… Vũ trụ bao la quá! Nhiều lần tôi tự hỏi có chiếc nào trong số những chiếc vừa ra đi kia không trở về, tan biến vào khoảng trời cao rộng, tít tắp ở trên kia…

Những năm trung học trôi qua nhanh… Tôi vào Sài Gòn rồi ra Huế. Đi đi về về sau mỗi kỳ nghỉ, phương tiện duy nhất còn an ninh hồi ấy là máy bay khiến tôi càng gắn bó hơn với cái phi trường. Rồi 1975…Trong cơn chuyển mình của lịch sử, số phận của mỗi người tách theo nhiều hướng khác nhau… Rồi thời gian qua,10, 20, 30 năm và những kỷ niệm về thành phố một thời gắn bó ấy lẫn vào đâu đó trong góc khuất của tâm hồn chỉ được đánh thức khi tôi bắt được liên lạc với một số thân hữu Cường Để cũ, thôi thúc tôi trở về. Và tôi trở về thực. Đó là mùa hè 2006… Mọi cái đều thay đổi, thay đổi lớn… Còn cái phi trường dường như chỉ còn lại trong ký ức của tôi mà thôi.

Vội vã trở về…Vội vã ra đi… Buổi chiều cuối cùng ở Quy Nhơn tôi ngồi với vài một người bạn trong một quán cà phê nhỏ ở một góc phố yên tĩnh. Tiếng nhạc jazz thả ra từng giọt, tiếng nước róc rách từ một hòn non bộ ở gần đó…ly nước cam vàng sóng sánh… và ngoài kia chiều lên dần dần… Thỉnh thoảng có tiếng xe chạy qua rồi trả lại cái không gian yên tĩnh hiếm hoi của thành phố bắt đầu công nghiệp hóa. Tôi nhắm mắt và thấy lòng rưng rưng. Chao ôi! Rồi cuối cùng tôi cũng đã trở về…

Nghĩ về thành phố biển thân yêu ấy tôi như còn thấy cảm giác khấp khởi khi máy bay từ từ hạ độ cao vòng vào thành phố, biển xanh biếc dưới cánh bay, những phi đạo trải dài, lười biếng, nhễ nhại dưới bóng chiều…Tôi nhớ lại một thời đạn bom và những con người mãi mãi gửi lại tuổi thanh xuân của mình ở đâu đó nơi đại ngàn khuất nẻo…Và cả tuổi 17,18 mơ mộng và lãng mạn của tôi, trong cái vẻ bề ngoài khép kín ấy là tâm hồn rung động như một cây kim trước một thỏi nam châm lớn. Đức Phật dạy: quá khứ đã qua mà tương lai thì chưa đến, hãy tìm hạnh phúc ở hiện tại (hiện pháp lạc trú). Nhưng mấy ai đủ minh triết để thực hiện lời dạy ấy. Người ta không ngừng cày xới, lục tung quá khứ lên để mà nhớ, mà thương, mà nuối tiếc, ân hận. Có lẽ ở cõi niết bàn hay thiên đường đâu đó ở trên kia mới có hạnh phúc miên viễn chứ ở “Cõi người ta” này hạnh phúc và đau thương luôn luôn là một cặp phạm trù nhị nguyên đối đãi. Mà suy cho cùng nếu không nếm trải đau thương làm sao biết được mùi vị của hạnh phúc.

Người ta biết Văn Cao nhiều về nhạc. Tôi thích một bài thơ của ông, bài Thời gian:

Thời gian qua kẽ tay
Làm khô những chiếc lá
Kỷ niệm trong tôi
Rơi
như tiếng sỏi
trong lòng giếng cạn
Riêng những câu thơ
còn xanh
Riêng những bài hát
còn xanh
Và đôi mắt em
như hai giếng nước…

Tiếng vọng của thời gian…Tiếng dội của quá khứ…
Có đôi mắt nào long lanh như hai đáy nước ám ảnh mãi đời ta…

Lê Thị Chân Tú
Huế, tháng 3 -2008


Thêm bình luận


Đăng Nhập / Đăng Xuất