Trang thông tin liên lạc của cựu Giáo Sư và học sinh Trung Học Cường Để Qui Nhơn

Trang Facebook của cuongde.org

  • NhaGiuXe1200
  • hinhCu 1200
  • DaiThinhDuong1200
  • CD4 1200

vietbang
Học trường Quốc Học-Huế từ năm 1956 đến năm 1959, tôi được may mắn thụ giáo nhiều vị thầy giàu kiến thức và đức hạnh. Qua hình ảnh quý thầy, tôi yêu nghề dạy học và thi vào Đại học Sư phạm để trở thành thầy giáo dạy Việt văn ở trung học và đại học. Sống và làm việc nhiều năm trong ngành sư phạm, tôi luôn luôn thao thức với câu hỏi: Một nhà giáo mẫu mực, đúng tiêu chuẩn phải hội đủ những phẩm chất gì? Gần đây, khi đã đến tuổi hưu trí, qua một lần nói chuyện nghề nghiệp với một cựu giáo chức Quốc Học là anh Nguyễn Đức Đồng, tôi đã nhận ra cái "sơ đồ" phác thảo cho mình cái chân dung nhà giáo: Như năm ngón tay trên một bàn tay, có năm mẫu người cùng tồn tại trong một nhà mô phạm là học giả,tu sĩ, lực sĩ, nghệ sĩ và cảnh sát viên.

Có một vị học giả cần mẫn
trong đời sống của nhà mô phạm

Học giả là người có kiến thức sâu rộng trong một lãnh vực chuyên môn nào đó. Muốn dạy tốt môn nào, thày giáo, cô giáo phải hiểu biết tường tận môn ấy. Chính vì yêu cầu này mà người làm nghề dạy học cần phải có bằng cấp chuyên môn, thầy giáo muốn có uy tín đối với học sinh và đồng nghiệp thì phải có công trình nghiên cứu liên quan bộ môn được phân công giảng dạy. Dạy là học suốt đời. Nói chung, điều này không có gì phải bàn luận thêm nữa. Nhưng vấn đề cần thảo luận là phải chăng dạy học trò một, thầy giáo phải biết mười như có người đã khẳng định?

Tôi nghĩ những bộ môn thuộc khoa học tự nhiên như Toán, Lý, Hóa thì không cần phải có yêu cầu cao như thế. Bằng chứng là thầy Châu Trọng Ngô dạy Toán năm đệ nhỉ (lớp 11), thầy Bùi Ngoạn Lạc dạy Toán năm đệ nhất (lớp 12) đều được tất cả ban B kính phục về kiến thức chuyên môn và phương pháp giảng dạy, mặc dù khi dạy toán cho chúng tôi hai thầy có tuổi đời còn trẻ mà tuổi nghề thì chưa nhiều.

Đối với thầy giáo dạy các bộ môn thuộc khoa học xã hội như Anh văn, Việt văn, Sử Địa thì yêu cầu về kiến thức phải cao hơn. Kinh nghiệm cho biết, muốn dạy Việt văn một cách tự tin và có kết quả, thầy giáo, cô giáo tốt nghiệp sau ba năm hoặc bốn năm học tập ở đại học còn phải trải qua hàng chục năm nghiên cứu và giảng dạy. Dạy các môn Công dân, Sử Địa và Pháp văn ở trường Quốc Học, thầy Nguyễn Hữu Thứ có kiến thức tổng quát chẳng khác gì một cuốn tự điển sống. Tuy không được học với thầy, nhưng qua lời truyền tụng của những anh chị ở các lớp trước, tôi được biết nhờ có trí nhớ tuyệt vời mà thầy đã có hiểu biết sâu rộng về pháp luật, sử địa, ngôn ngữ và văn chương Pháp cùng các lãnh vực khác như thể thao,điện ảnh, âm nhạc. Nhờ vậy, thầy đã chiếm trọn cảm tình và sự kính trọng của nhiều thế hệ học sinh.

Có một ông thầy tu nho nhỏ
trong đời sống của nhà mô phạm

Theo truyến thống Đông phương, tu sĩ là người đã thoát khỏi năm cái bẫy sập là tài, sắc, danh, thực, thùy. Muốn có mặt một cách xứng đáng trong hàng ngũ của những nhà mô phạm, thầy giáo, cô giáo phải biết dừng lại ở một giới hạn để không mất uy tín vì tiền bạc, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ.

Nhiều vị thầy dạy tôi ở trường Quốc Học có tài cao học rộng mà vẫn bằng lòng với cuộc sống giản dị, thanh bạch đến trọn đời. Thầy Dương Thiệu Tống đỗ tiến sĩ giáo dục ở Đại học Colombia (Mỹ), hát hay, dạy Anh văn và từng làm Hiệu trưởng trường Quốc Học, vào Sài gòn làm Hiệu trưởng trường Thực nghiệm ở Thủ Đức rồi dạy Anh văn và Giáo dục học ở Đại học Sư phạm. Thầy Lê Khắc Phò đổ cử nhân luật ở Đại học Montpellier (Pháp), vẽ giỏi, ban đầu dạy Sử Địa ở trường Quốc Học, có một thời gian làm Tổng thư ký Đại học Huế khi mới 30tuổi, nhiều năm sau dạy Địa lý và Pháp văn ở Đại học Sư phạm Huế. Nhưng mãi cho đến những năm cuối đời, tại TP.HCM, ngôi nhà nhỏ của thầy Tống vẫn ẩn khuất trong ngõ ngách của đường Lê Văn Sĩ, còn ngôi nhà nhỏ của thầy Phò thì vào sâu trong một con hẻm của đường Phan Đăng Lưu. Tôi đã đến thăm hai thầy vài ba lần mà lần nào cũng phải hỏi nhà vì lối vào thì quanh co với nhiều ngả rẽ mà số nhà dù đã phân biệt A/B vẫn còn có thêm hai cái "xuyệc" (sur).

Năm tôi học lớp đệ tam, thầy Tôn Thất Ngạc dạy Toán với phong cách rất đặc biệt làm tôi nhớ mãi. Những buổi sáng mùa thu trời se lạnh, mặc com-lê (complet) màu lam nhạt,thắt cà-vạt (cravate) màu đỏ, thầy đứng hoặc đi lại chậm rãi trong lớp, nói nhỏ nhẹ,từ tốn, đầu hơi nghiêng xuống, hai bàn tay chắp thành hình hoa sen búp trước ngực đầu mấy ngón tay hướng lên cao và khẽ chạm vào cằm. Trong lớp học yên tĩnh, tôi lắng lòng tiếp thu những định nghĩa, định lý toán học mà có cảm tưởng như đang nghe một vị Thượng tọa thuyết giảng Phật pháp. Thầy Ngạc ngày trước là huynh trưởng Gia đình Phật tử An Lăng, về sau tu Thiền và hiện là bậc trưởng thượng của một môn phái Thiền Pháp Hoa ở Mỹ.

Có một sự trùng hợp khá thú vị là cùng với hai vị giáo sư dạy Toán cho tôi ở Đại học Huế là thầy Nguyễn Văn Hai và thầy Nguyễn Văn Trường, ba vị giáo sư dạy toán khả kính của tôi ở trường Quốc Hoc là thầy Tôn Thất Ngạc, thầy Châu Trọng Ngô, thầy Bùi Ngoạn Lạc kẻ trước người sau đều quy y Phật và đã trở thành những cư sĩ, những thiện tri thức có uy tín của Phật giáo quốc nội và hải ngoại.

Có một vận động viên không chuyên
trong đời sống của nhà mô phạm

Vận động viên là người có sức khỏe dồi dào để tập luyện và thi đấu ít nhất một môn thể thao. Phải có thể lực tốt như một vận động viên thì thầy giáo, cô giáo mới có đủ sức khỏe để sống thủy chung trọn đời với cái nghề dạy học "đem hơi ra" và nhiều hao tâm tổn trí. Ở trường Quốc Học, tôi đã được thụ giáo những vị thầy như thế.

Người phải nhắc đến trước hết là thầy Châu Trọng Ngô. Thầy là một cầu thủ bóng đá đã nhiều lần mang giày ra sân cỏ thi đấu với học sinh và giáo chức Huế trước và sau năm 1975. Nhờ chơi thể thao mà thầy Ngô có sức khỏe tốt, sống cởi mở, gần gũi với học sinh và thân ái hòa đồng với mọi người. Nhờ biết duy trì sự có mặt liên tục của một cầu thủ bóng đá trong cuộc đời của một nhà giáo mà thầy Ngô cho đến bây giờ, dù tuổi đã trên tám mươi, trông vẫn còn tráng kiện và nhanh nhẹn hơn nhiều bạn đồng nghiệp và học trò. Hiện nay, thầy vẫn có đủ sức khỏe để làm Phật sự, để tổ chức và thực hiện nhiều chương trình từ thiện.

Có dáng người nho nhã, thanh mảnh của một thư sinh. Nhưng thầy Lê Khắc Phò là một cầu thủ bóng đá có thành tích. Năm học 1949-1950, thầy Hiệu trưởng Nguyễn Hữu Thứ mời danh thủ bóng bàn Lê Văn Tiết đến thi đấu biểu diễn ở trường Quốc Học. Năm ấy, đang học lớp đệ nhất, được vinh dự thay mặt học sinh Quốc Học cầm vợt đấu giao hữu, thầy Phò đã chọn thế thủ để đương đầu với thế công của tuyển thủ bóng bàn Việt Nam, tạo cho mọi người cơ hội thưởng thức những đường bóng bay nhanh như chớp, mạnh như vũ bão của nhà vô địch Lê Văn Tiết, người đã từng hạ vô địch thế giới Murrakami với tỉ số 3/2 sít sao. Nhưng tất cả học sinh Quốc Học có mặt hôm ấy đều cảm thấy thích thú vì đã có dịp hăng say cổ vũ "gà nhà" trong một trận đấu thể thao sôi nổi và hào hứng. Mười năm sau, làm giáo sư hướng dẫn lớp đệ nhất B1, thầy Phò đã vui miệng thách đấu với các học sinh và tự tin hứa hẹn sẽ tặng phần thưởng nếu có bạn nào giành được chiến thắng.

Có một nghệ sĩ nghiệp dư
trong đời sống của nhà mô phạm

Nếu nhà nghệ sĩ bước ra sân khấu để giao lưu với nhiều khán giả thì nhà giáo bước lên bục giảng để tiếp xúc với nhiều học sinh. Dù công việc có khác nhau, nhưng muốn thành công thì có hai điều phải quan tâm đến hình thức và đồng thời phải có một ít năng khiếu về nghệ thuật.

Tuy không đua đòi ăn diện, nhưng thầy giáo, cô giáo cần có nét mặt tươi tỉnh và y phục chỉnh tề mỗi khi xuất hiện trước học sinh. Trừ mùa hạ nóng bức, trong ba mùa xuân, thu và đông, những giáo sư Quốc Học thế hệ chúng tôi đều thắt cà-vát, mặc áo vét-ton trông rất nghiêm chỉnh và lịch sự.

Ngày 26 tháng 12 năm 1956, trường Quốc Học tổ chức trọng thể Lễ đệ lục thập chu niên. Tối hôm ấy, tại nhà chơi, đã diễn ra một chương trình văn nghệ dàn dựng công phu có thể nói là chưa từng có. Mở đầu chương trình văn nghệ hoành tráng này là bản hợp ca bốn bè Ly rượu mừng của Phạm Đình Chương do thầy Lê Hữu Mục soạn phần hòa âm và 70 nam nữ học sinh Quốc Học trình diễn rất kỹ thuật và đầy nghệ thuật. Theo lời tường thuật sau này của thầy Nguyễn Hữu Thứ, rất nhiều khán giả cho rằng khó có một bài hợp ca gây ấn tượng đẹp như bài Ly rượu mừng của học sinh trường Quốc Học hôm đó.

Với những phút cuối giờ học Pháp văn, thầy Nguyễn Hữu Thứ thường tập những bài hát tiếng Pháp để học sinh luyện giọng, đồng thời giảm căng thẳng cho trí óc của học trò. Tôi được biết trong đại hội tái lập Hội ái hữu Cựu học sinh Quốc học tổ chức vào năm 1972, theo yêu cầu của Hội trưởng là thầy Nguyễn Đình Nam, thầy Thứ đã hát bài Sérénata của Eurico Tosseli và hát rất hay, làm cho Hội trưởng là thầy Hàm phải khen "Ông Phó quả là chim họa mi của Hội".

Nhiều thầy giáo dạy văn chương đã hơn một lần bước vào lớp học như đi vào một thế giới khác, một thế giới không hề có một thoáng lo toan về cơm áo gạo tiền của đời thường. Những khi ấy, đối diện thầy, cô là những gương mặt, những cái nhìn biểu hiện sự trong sáng và tin yêu của những tâm hồn còn trẻ, và trong lòng thầy, cô chỉ có ý cao, tình đẹp của những tài năng lỗi lạc như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du v.v.. Đó là lúc nhà giáo sống trọn vẹn với bài giảng, làm hồi sinh tình cảm và tư tưởng của tiền nhân với tất cả cảm xúc và đam mê của một nghệ sĩ trên sân khấu, tạo nên sự hứng thú, cảm thông, hòa hợp giữa thầy và trò, khắc ghi vào tâm trí học sinh những ấn tượng khó phai mờ...

Có một cảnh sát viên công tâm
trong đời sống của nhà mô phạm

"Tiên học lễ hậu học văn" là một đặc trưng giáo dục có tính truyến thống cần được tôn trọng và phát huy của người Việt Nam. Theo phương châm "dạy người trước dạy chữ sau" ấy, như ông cảnh sát giữ gìn an ninh trật tự trên đường phố, trong lớp học, ông thầy có công tâm không bao giờ quên nhiệm vụ uốn nắn, sủa chữa những sai sót, những lỗi lầm có tính đời thường để giáo dục nhân cách cho học sinh.

Năm học 1956-1957, tại lớp đệ tam B1 trường Quốc Học, thầy Phạm Đình Thắng đã để lại cho tôi một bài học khó quên về giữ gìn nhân cách. Là một nhà giáo trẻ dạy Anh văn, thầy Thắng vui tính, thích sống hòa đồng với học sinh. Vào một ngày chủ nhật, thầy dẫn chúng tôi đi xem các danh lam thắng cảnh của thành phố Huế. Vào đầu giờ học ở tuần sau, thầy phân phát những tấm hình chụp trong lần du ngoạn ấy để học trò chuyền tay nhau mà xem cho vui. Khi nhận lại những tấm hình, thầy đếm cẩn thận và biết mất một tấm. Hỏi trò nào còn giữ tấm ảnh mà không thấy ai trả lời, thầy đỏ mặt vì tức giận, lớn tiếng phê phán gay gắt bạn nào đó đã "ăn cắp" tấm hình. Thuở ấy, còn trẻ người non dạ, tôi tự hỏi tại sao mất một tấm ảnh không đáng giá bao nhiêu mà thầy Thắng đã không giữ được bình tĩnh, làm cho học trò có cảm tưởng thầy đang đau lòng tiếc của như mất bạc mất vàng? Sau này, khi đã trưởng thành, sống với nghề dạy học, tôi mới cảm thông cách thầy Thắng ứng xử một tình huống sư phạm. Mất một tấm ảnh trong lớp học có nghĩa là một tên trộm nhỏ đã xuất hiện ở học đường, nơi giảng dạy chữ nghĩa và trao truyền đạo lý. Tên trộm này nhỏ mà gan to vì dám đánh cắp của cải của ông thầy. Nó lại hèn nhát không dám nhận trách nhiệm việc làm sai trái và ngoan cố không chịu đứng lên nhận lỗi để ăn năn hối cải. Cho nên phải la mắng cho nó biết hỗ thẹn, phải mạnh tay đối phó để triệt tiêu ngay từ đầu mầm mống của cái xấu của sự gian dối vừa xuất hiện trong thế giới còn thơm mùi giấy mực học trò. Hôm nay một tên trộm nhỏ xuất hiện ở nhà trường mà chẳng biết xấu hổ và không bị trừng phạt thì mai sau xã hội phải hứng chịu nhiều tai họa do những tên trộm lớn vô cảm liên tục gây ra...

Không ai thi vào Đại học Sư phạm để thỏa mộng làm giàu hay kiếm tìm quyền cao chức trọng. Nhiều người chọn nghề dạy học vì không muốn "Ra trường danh lợi vinh liền nhục/Vào cuộc trần ai khóc lẫn cười"như Nguyễn Công Trứ. Cho nên, nếu được trả thù lao xứng đáng để tổ chức cuộc sống cho bản thân và gia đình, nếu được trung thực nói ra những điều mà mình đã cảm xúc và suy nghĩ, không cần thi đua, chẳng phải bình bầu, như quý thầy dạy trường Quốc Học trước đây, tôi tin phần đông giáo chức ngày nay sẽ tự trọng, tự giác hoàn thành nhiệm vụ trồng người, sẽ sống trọn vẹn, gắn bó, thủy chung với trường lớp, từ đó gìn giữ và phát huy phẩm cách Năm trong một của người thầy để trở thành những "lương sư" góp phần "hưng quốc".■

Source : Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 95
 
Bình luận


Đăng Nhập / Đăng Xuất