Trang thông tin liên lạc của cựu Giáo Sư và học sinh Trung Học Cường Để Qui Nhơn

Trang Facebook của cuongde.org

  • hinhCu 1200
  • DaiThinhDuong1200
  • NhaGiuXe1200
  • CD4 1200

Tôi tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm năm 1962. Anh Trà Văn Bông, bạn cùng lớp người Chàm quê Ninh Thuận, nói với tôi, "Anh đừng về Miền Trung." Vì sao?

Những tôi đã về Qui Nhơn, không thắc mắc dodự. Nơi đây là quê hương tôi.anh em, bạn bè, và đồng bào ruột thịt trong những năm kháng chiến. Bắt đầu từ năm 1954, cái gì cũng như bắt đầu đào tạo xây dựng trở lại trên những đổ nát hoang tàn. Tôi được đi học đến nơi là nhờ sự hy sinh lớn lao của cha mẹ. Vẫn đến năm 1962, người các nơi dến tràn ngập các thành phố Bình Định để buôn bán, làm quan chức lớn nhỏ. Người Bình Định hầu hết bám vào đất đai sống đời vất vả cơ cực. Tôi về dạy học tại trường Cường Đễ từ năm 1962 đến năm 1973, đúng 11 năm và đạt được thành quả rất cao. Trước hết, học sinh và phụ huynh ở Bình Định và Quy Nhơn ý thức tầm quan trọng của giáo dục. Những năm kháng chiến, sự học rất khó khăn, nhất là bậc trung học; học sinh phải đốt đèn đi học ban đêm ở những nhà tranh vách đất thôn quê, thiếu sách vở, thiếu giáo sư, và phập phồng lo sợ máy bay Pháp pháo kích. Giáo dục sau năm 1954 ở Bình Định giống như đất tiếp nhận mưa sau thời gian dài nắng hạn. Phụ huynh có lòng tự tin và tự trọng, không muốn để con cái họ khi ra đời phải thua sút người khác, nên đã hy sinh tất cả để cho con cái họ được học hành đến nơi đến chốn. Học sinh cũng ý thức như vậy.

 

Nhiều người quên rằng Bình Định là Trung Tâm Thi Hương thời Nhà Nguyễn và thời Pháp thuộc Quy Nhơn có Collège Võ Tánh, một trong năm trường trung học công lập là Thanh Hoá, Nghệ An (Vinh), Thừa Thiên (Huế),Phan Thiết và Huế còn có vài trường trung học tư thục. Tiếp đến, trường Cường Để cỏ một ban giảng huấn trẻ và rất nhiệt thành. Một vài năm giảng dạy sau tốt nghiệp, các giáo sư này trở thành giảng viên đứng hàng đầu.

 

Tôi còn nhớ rõ như in các lớp và các học sinh niên khoá đầu tiên, 1962-1963. Tôi không sao quên được các bạn đồng nghiệp ở trường Cường Để.

Anh Phạm Ngọc Quan là giáo sư lý hoá. Anh về trường trước tôi và còn ở lại trường đến năm 1975. Đối với tôi anh như anh em. Bề ngoài anh trông nghiêm khắc, nhưng anh đóng góp rất nhiều cho sự thành đạt của các học sinh. Nên bây giờ nghĩ lại, ai cũng nhớ ơn anh. Tháng tư 1975, tôi gặp anh ở Sài Gòn, cùng nhau rủ đi xuất ngoại, nhưng sau cùng anh không đi vì còn cụ thân mẫu ở nhà. Sau nhiều năm, anh vượt biên, định cư ở Đức, anh không được khoẻ, đã mất sau mấy năm. Phu nhân anh, chị C. T. Tôn Nữ Ngọc Lan, là thanh tra ở Ty Giáo Dục Bình Định & Quy Nhơn.

Ở trường Cường Để, không ai quên được anh Vương Quốc Tấn, giáo sư giản dị, tài ba. Anh về trường Cường Để một năm với tôi, 1962. Anh là giáo sư lý hoá. Trong lớp anh giảng dạy, học trò thấy học là niềm vui, tiếp nhận dễ dàng, hết giờ học lúc nào không hay. Phu nhân anh, chị Tôn Nữ Nguyệt, cũng là học trò cũ trường Cường Để. Năm 2002, tôi về Việt Nam, đến thăm anh chị. Anh mở lớp lý hoá dạy tư, sống dễ dàng sung túc. Vì ở Việt Nam sự thu nhận vào trường đại học rất hạn hẹp, khó khăn. Tỷ số giữa sinh viên được thu nhận và ứng sinh rất thấp. Ai cũng cho con luyện thi để được nhận vào trường đại học. Anh Vương Quốc Tấn nay trông còn trẻ lắm.

Năm tôi về trường Cường Để, ban Anh ngữ có anh Hoàng Thạch Thiết và anh Nguyễn Tri Tài. Sau một năm, còn có anh Tạ Quang Khanh. Tôi gần gũi với các anh vì cùng ban. Anh Thiết đứng đắn nghiêm trang, trông có vẻ thư sinh lắm. Anh tốt nghiệp đứng đầu ban Anh Văn. Anh xin về trường Cường Để vì thân sinh anh là cụ Hoàng Đình Giai lập nghiệp ở Quy Nhơn. Anh đi tu nghiệp một năm ở Tân Tây Lan. Sau anh về trường Bùi Thị Xuân Đà Lạt và gặp chị ở đây. Năm 2002, tôi về Sài Gòn, có đến thăm anh chị. Anh Thiết còn trẻ, khoẻ mạnh, nhưng tóc đã bạc trông phúc hậu. Anh chị mở lớp dạy Anh Văn, sống dễ dàng thoải mái, vì ở Sài Gòn từ lớn tới nhỏ rất nhiều người học Anh Ngữ. Anh chị có bốn người con, đều được học bỗng đi du học ở Hoa Kỳ. Anh Nguyễn Tri Tài không ở trường Cường Để nhiều năm. Anh đi làm ty trưởng Ty Giáo Dục Quảng Tín. Anh Tài là người hoạt bát, vui vẻ, rất tháo vát, lúc nào cũng hết lòng với bạn bè. Tôi có liên lạc với anh Tài ở Việt Nam cũng như ở Hoa Kỳ. Anh Tạ Quang Khanh tài cao, mệnh yểu. Anh rất hoạt động trong các ngành sinh hoạt. Chưa hết, phải kể anh Nguyễn Văn Thái, người cao lớn, khoẻ mạnh, đúng là một võ sư nhu đạo. Ở Hoa Kỳ anh là giáo sư trường Đại Học Philadelphia.

Trong ban Pháp Văn có anh Nguyễn Hoàng Sanh, anh Trương Ân, anh Lưu Quang Sang, và chị Ngô Thị Hoa phu nhân anh Trương Ân. Anh Trương Ân dạy hay, hấp dẫn, nên có người nói anh Trương Ân ở lại dạy Pháp Văn tốt hơn là làm hiệu trưởng. Tôi không chắc như vậy.

Phải kể các giáo sư toán vì toán có hệ số cao và trường Cường Để có những giáo sư toán thật giỏi và thật tận tâm. Đó là anh Nguyễn Đình Nhàn, anh Nguyễn Phụ Tài, anh Lê Đức Bé, và anh Lê Bá Tròn. Tôi thân với anh Tròn vì anh là người thẳng thắn, thật tình, và anh thấy tôi hiền lành.

Trong ban vạn vật có anh Lê Nhữ Tri và anh Lê Văn Tùng. Anh Lê Nhữ Tri là một ngôi sao sáng trong ban giảng huấn. Giữa anh Tùng và tôi có nhiều điểm tương đồng nên rất thông cảm nhau. Anh là người tầm thước. Lần đầu tiên được giới thiệu trước học sinh, anh kéo tôi lại, nói, "Hai đứa mình đứng gần nhau." Anh đã từng sống qua chín năm trong Liên Khu V. Anh rất chững chạc, chín chắn. Anh hiện ở Cali. Các con anh đều đã học thành tài.

Tôi còn nhớ rõ anh Võ Ái Ngự, nguyên là đại úy biệt động quân. Nếu anh còn ở trong quân đội, không mấy chốc anh có thể lên đại tá. Nhưng anh xin về trường cũ, dạy học. Đi dạy học, anh thường cầm một chiếc roi thật dài. Anh coi học trò như con. Anh nói thương con phải cho roi cho vọt. Anh chưa dùng roi để phạt học trò lần nào. Anh có một tấm lòng đối với học sinh và học đường. Anh cũng là huynh trưởng hướng đạo. Sau năm 1975, anh chết trong lao tù cọng sản.

Anh Lê Văn Ba về trường Cường Để sau tôi mấy năm. Trước sau tôi coi anh Ba như anh tôi vì anh ở gần nhà và anh lớn tuổi hơn tôi. Học trò trong lớp thấy anh không gò bó khuôn khổ. Những người chung quanh thấy anh vui vẻ, hiền hoà. Anh đúng là tiêu biểu cho người địa phương, trường kỳ cố gắng để vươn lên. Ra trường làm giáo viên ở Phú Yên, anh về dạy học ở trường Cường Để; anh cố gắng học hành và đã có văn bằng Cử Nhân Văn Khoa. Sau anh chuyển qua trường Sư Phạm. Nếu có ai nghĩ anh Lê Văn Ba hiền lành quá, thì không đúng. Trong những hoàn cảnh khó khăn, anh luôn luôn tìm ra một lối thoát. Năm 1973, thầy Đoàn Nhật Tấn nói với tôi, "Sao các anh có bao nhiêu người đưa ra hết? Nếu hoàn cảnh thay đổi thì còn ai?" Tôi nghĩ ngay đến anh Lê Văn Ba. Anh là một tài năng lớn chưa được xử dụng.

Anh Hồ Sĩ Duy về trường Cường Để thay thế chỗ trống giáo sư Việt Văn để lại do anh Nguyễn Mộng Giác làm hiệu trưởng và anh Hà Thúc Hoan về nhiệm sở khác. Những năm dạy ở trường Cường Để chứng tỏ khả năng và lòng nhiệt thành của anh không thua kém ai. Anh sẵn sàng góp một bàn tay cho nền giáo dục tỉnh nhà. Trường Tăng Bạt Hổ đang ở trong tình trạng rối ren vì phải di chuyển về Quy Nhơn sau những năm không có người chủ trương. Anh về làm hiệu trưởng trường Tăng Bạt Hổ, ổn định tình hình và đem niềm hy vọng và tin tưởng cho các học sinh và phụ huynh Bắc Bình Định. Trong kỳ làm chủ khảo ở Tuy Hoà, anh làm biên bản và lột mặt vụ thi gian lận "quan lớn" từ Sài Gòn cho người khác thi tú tài để lên tướng. Anh thừa hưởng sĩ khí của gia đình; cụ Tiến Sĩ Hồ Sĩ Tạo không ra làm quan với Pháp. Tháng tư năm 1975, lịch sử mở sang trang khác. Tôi ra đi, lòng bùi ngùi nghĩ đến những anh em khác như anh còn ở lại.

Sau hết, nhưng không thể quên được là anh Huỳnh Hữu Dụng. Anh đã từng là giáo sư và hiệu trưởng trường Tăng Bạt Hổ. Sau anh về trường Cường Để. Chức vụ sau cùng của anh trước năm 1975 là Ty Trưởng Ty Giáo dục tỉnh Bình Định và thành phố Quy Nhơn. Anh là bộ óc điều hành và quản trị. Anh có kiến thức sâu rộng về lịch sử nước nhà cũng như lịch sử thế giới và luôn luôn theo dõi thời cuộc. Nên các học sinh chăm chú lắng nghe anh giảng bài trong lớp học. Là giáo sư sử học, không phải người làm chính trị, anh trình bày các sự kiện và biến cố lịch sử một cách khách quan, không quan tâm phản ứng từ các phía. Anh với tôi là bạn thân. Chúng tôi, và những anh em khác, có cùng chung một mối ưu tư, là phát triển nền giáo dục của tỉnh nhà.

Những anh em giáo sư tôi nói trên đây là tiêu biểu, không phải là tất cả. Còn nhiều ngôi sao sáng khác, còn nhiều cây cổ thụ khác, làm cho trường Cường Để có thể so sánh với trường Trương Vĩnh Ký và trường Chu Văn An ở Sài Gòn và trường Quốc Học ở Huế. Từ năm 1954 đến năm 1975, các giáo sư trường Cường Để phần đông từ các nơi đến. Tôi không có ý phân biệt địa phương này với địa phương khác vì cùng là người Việt Nam với nhau. Nhưng có ý nói rằng đặc tính đa dạng này làm cho trường Cường Để thêm phong phú. Các giáo sư người Bắc ăn nói hoạt bác và ham thích hoạt động. Các giáo sư người Huế, vì từ chốn cung đình, việc gì cũng suy nghĩ kỹ lưỡng không vội vàng hấp tấp. Người địa phương còn hiếm hoi. Tập kết năm 1954 như sóng thần cuốn đi rất nhiều người. Nhìn lại thấy một chỗ trống lớn. Giống như kỳ di tản năm 1975 đã đưa vô Nam, ra ngoại quốc, hay vào tù các giáo chức, kỹ sư, bác sĩ, hay những người học thức khác đã được đào tạo rất công phu, rất tốn kém trong bao nhiêu năm trời.

Trong cuộc chiến tranh tương tàn, nền giáo dục tỉnh nhà còn đứng vững, trường Cường Để còn đó, là niềm hy vọng vẫn còn. Mỗi lần mở quyển Đặc San Cường Để & Nữ Trung Học ra, tôi bồi hồi xúc động đọc đến tên những học trò cũ. Các anh, các chị nầy đang nghĩ gì, làm gì? Bao nhiêu lớp học sinh trẻ đã qua trong đời dạy học của tôi. Tôi vẫn còn đó, đứng giảng bài trong lớp học. Nay làm ông thầy già. Trường Cường Để là trường trung học chính và kỳ cựu nhất ở Bình Định & Quy Nhơn. Các tiền thân của trường Cường Đễ là Collège Võ Tánh ở Quy Nhơn thời Pháp và trường trung học cấp 2 và cấp 3 thời kỳ Việt Minh. Collège Võ Tánh là một trong năm trường trung học công lập ở Trung Phần, đào tạo và cung cấp giới trí thức cho Bình Định thời bấy giờ. Trường trung học cấp 2 và cấp 3 thời kỳ Việt Minh đào tạo và chuẩn bị đa số các anh thuộc thế hệ đầu tiên sau năm 1954 tiếp tục con đường học vấn và tốt nghiệp trung học và đại học. Nếu xét những điều kiện khó khăn, lòng tận tâm của giáo sư, thành quả đạt được và sự hiếu học của học sinh, trường nầy đáng được ghi một điểm son.

Nhà giáo luôn luôn ý thức quan hệ giữa học đường và cộng đồng. Cộng đồng nói rộng là đất nước và xã hội Việt Nam. Cộng đồng gần hơn là tỉnh Bình Định và thành phố Quy Nhơn, và đồng bào sinh sống ở đây.

Thủ đô Đồ Bàn (Vijaya) ở gần Quy Nhơn về phía tây bắc từ năm 1000 đến năm 1471 (ngày 21 tháng 3). Đây là thời kỳ cường thịnh của nước Champa (Chiêm Thành). Thế quan hệ giữa Chiêm Thành và Việt Nam ngang ngửa nhau trong gần 500 năm. Thời kỳ nầy vua Chế Bồng Nga đem quân ra đánh Việt Nam và Thăng Long trong những năm 1378, 1380, 1389, và 1390. Năm 1471, vua Lê Thánh Tôn đem quân đánh chiếm thành Đồ Bàn và đưa người Việt vô lập nghiệp. Nước Chiêm Thành suy yếu từ đó. Và từ đó xuất hiện tỉnh gọi là Bình Định bây giờ.

Nhà Tây Sơn xuất phát từ Bình Định với ba người nông dân áo vải, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, và Nguyễn Huệ. Vua Quang Trung đánh đuổi quân Tàu ở Bắc Hà và trong Nam tiêu diệt quân Xiêm. Vua Quang Trung không phải chỉ là võ tướng. Giống như Napoléon, ngài bắt đầu cải tổ và sau chiến chinh, ngài bắt tay vào việc xây dựng một nước Việt Nam cường thịnh. Nhưng mệnh trời không cho! Ngài mất sớm và ấu chúa không gánh vác nổi sơn hà. Nhà Tây Sơn bắt đầu mất từ đó.

Bình Định là một tỉnh rộng lớn ở miền trung nguyên. Dân số khoảng một triệu rưỡi người. Bình Định có cữa biển Quy Nhơn (Thị Nại), là cữa ngõ ra biển của Miền Cao Nguyên Trung Phần, Quảng Ngãi, Phú Yên, và Nam Lào. Phần đông người ở các tỉnh Kontum, Pleiku, Phú Bổn, và ngay cả Ban Mê Thuột là dân Bình Định đến làm ăn, lập nghiệp, và tạo dựng các tỉnh nầy cho được như ngày hôm nay. Bình Định là nguồn nhân lực của Cao Nguyên Trung Phần. Người Quảng Ngãi dám nói, dám làm. Người Phú Yên cũng cẩn trọng như người Bình Định.

Một triệu năm trăm ngàn người dân Bình Định thông minh, cần cù, và nhẫn nại! Địa thế và người dân chứng tỏ một tiềm lực rất lớn chưa được khai thác. Cữa biển Quy Nhơn vẫn còn y như hai trăm năm trước. Những biến động lịch sử cầm chân người Bình Định tại chỗ. Người dân thường tự hào tỉnh nhà là quê hương vua Quang Trung và Nhà Tây Sơn. Đâu đây thỉnh thoảng tôi nghe câu "Địa Linh Nhân Kiệt". Không sao! Người các địa phương khác như Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bến Tre thường tự hào về địa phương họ. Tại sao người Bình Định lại không được tự hào. Nhưng nếu nghĩ đến vua Quang Trung, một tiền nhân anh hùng hiển hách, muốn cho câu "Địa Linh Nhân Kiệt" không phải là câu trống rỗng, mọi người và mỗi người phải đóng góp một bàn tay vào để cho tiềm lực lớn lao của tỉnh nhà được khai thác đúng mức và người Bình Định có thể tự tin hơn ở mình và địa phương mình.

Từ xưa, Bình Định vốn là đất văn học với Trung Tâm Thi Hương và với Đặng Đức Siêu, Đào Tấn, và nhiều vị khác nữa. Trước năm 1945, một Bình Định đã sản sinh Hàn Mạc Tử, Xuân Diệu, Quách Tấn, Chế Lan Viên, và Yến Lan, những đỉnh cao vòi vọi trong nền văn học nước nhà. Hàn Mạc Tử lớn lên ở Bình Định từ nhỏ và quê mẹ Xuân Diệu ở Gò Bồi, Tuy Phước. Thời quốc gia có Võ Phiến và Nguyễn Mộng Giác, là những nhà văn tên tuổi và đứng đắn. Bây giờ tôi thấy có nhiều người khác trong các ngành sáng tác (thơ văn), biên khảo, và báo chí. Ở Bình Định văn học thời nào cũng có, gần như là bản tính tự nhiên.

Người Bình Định tính tình giản dị, hiền hoà, không khoác lác hay đài các kiêu ngoa. Có người dùng chữ "thàn" để diển tả người Bình Định. "Thàn" có nghĩa là người có hiểu biết, có sức mạnh tiềm ẩn, nhưng hiền hoà, tử tế với những người chung quanh. Hiền hoà không có nghĩa là nhút nhát. Bình Định có Mai Xuân Thưởng, Tăng Bạt Hổ, và biểu tình chống thuế thời Pháp thuộc.

Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh chấm dứt Nhà Tây Sơn và đem chữ Bình Định gán lên cho tỉnh nhà như là một ếm chú. Nhà Nguyễn cáo chung năm 1945. Nhưng tỉnh nhà vẫn còn là "Bình Định". Lâu quá thành người ta không còn nhớ "Bình Định" có nghĩa là gì. Tỉnh Bình Định vẫn còn là tỉnh bình định. Tôi tự hỏi tại sao các nhà chức trách qua các thời đại lại vô tình đến thế.

Học sinh trường Cường Để rất hiếu học và trọng kỷ luật. Qua các cuộc biến động từ năm 1963 đến năm 1969, các lớp học vẫn mở cữa. Học sinh chăm chú nghe thầy giáo giảng bài như không có gì xảy ra ngoài lớp học. Một đêm tôi ở trong nhà, nghe tiếng ồn ào huyên náo từ phía trường Cường Để. Tôi vội ra xem, gặp anh Phan Long Khẩn trên đường Hai Bà Trưng. Anh bảo tôi, "Thầy đừng lên trên đó! Có lộn xộn." Thì ra học sinh bao vây trung tá Lê Trung Tường, tỉnh trưởng, từng là tư lệnh sư đoàn, ở sân trường Cường Để. Trung tá Tường bó tay, đành bất lực. Thế mà cũng chính những học sinh nầy ngày hôm sau vào lớp ngồi nghe các thầy giảng bài, hiền lành như bồ câu.

Các học sinh trường Cường Để rất quý trọng và thương mến các thầy cô, ngay cả sau nhiều năm nhiều người đã ra đời, có sự nghiệp và giữ những chức vụ cao trong xã hội. Tôi thường gặp nhiều học sinh tốt như vậy. Mỗi năm hay mỗi hai năm, trường Cường Để và trường Nữ Trung Học có cuộc hội ngộ vào cuối tháng sáu để thầy trò và bạn bè gặp nhau. Năm 2002 tôi về Sài Gòn. Trong một tiệc vui, có anh chị Vuơng Quốc Tấn và học sinh cũ khoảng hai chục người, nhiều người là luật sư, bác sĩ, kỹ sư, doanh nhân, giáo sư, hiệu trưởng, khoa trưởng (bây giờ cũng gọi là hiệu trưởng), có vài người giữ chức vụ cao trong chính quyền đương thời. Họ đối xử với tôi giống như khi họ còn là học sinh ở trường Cường Để. Sánh với ông Carnot xưa, họ có khác gì. Ngày hôm sau tôi trở về Mỹ, giữ một kỷ niệm đẹp trong đời.

Trong những năm dạy học ở trường Cường Đễ, tôi nghĩ tôi không dạy hay như anh Vương Quốc Tấn hay dạy có kết quả nhiều như anh Phạm Ngọc Quan, nhưng tôi đối xử với học sinh rất công bình và không thành kiến, không nghĩ cha mẹ họ giàu hay nghèo, họ con ai, học giỏi hay không. Trong các học sinh tôi, có các chú tiểu từ Chùa Long Khánh và các chủng sinh từ Chủng Viện Quy Nhơn. Tôi còn liên lạc với các học sinh nầy sau khi họ ra trường nhiều năm, như chú Nguyễn Đà bây giờ chắc là đại đức rồi hay chú Nguyễn Đình Sáng hiện giờ là linh mục ở New York. Tôi cứ nghĩ nếu mọi người trong xã hội ta giữ lời giáo huấn từ bi của Đức Phật hay lời giảng dạy bác ái của Chúa như các học sinh nầy, thì tốt biết mấy!

Những năm sau cùng trước khi qua Ty Giáo Dục, tôi dạy Anh Văn cho các lớp ban C. Nói dạy thì không đúng; đúng hơn là truyền lại cho học sinh cách tự học của tôi, nhờ đó mà tôi thi đậu vào ban Anh Văn trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn và đậu đầu trong ban Pháp Văn trường Đại Học Đà Lạt cùng lớp với các anh Võ Sum, Trương Ân, và Lưu Quang Sang. Đó là đọc sách thật nhiều, học thêm văn phạm, và viết thật nhiều hằng ngày. Trong các học sinh ban C của tôi, có nhiều người thi đậu vô ban Anh Văn trường Đại Học Sư Phạm và nối nghiệp thầy như các anh Hoàng Thái Dương, Chế Trọng Hùng, và những người khác.

Nhìn lại những năm dạy học ở trường Cường Đễ tôi rất vui, vì thấy mình làm một công việc có ích với tất cả cố gắng và tấm lòng. Nhưng không khỏi ân hận thấy một vài chấm đen trên tờ giấy trắng; đó là vài trường hợp về kỷ luật. Mong rằng những người trong trường hợp nầy quên đi và nghĩ rằng hồi đó tôi còn trẻ và cứng nhắc áp dụng nguyên tắc "phép công là trọng". Tôi không có ác ý. Bây giờ về già tôi thấy luôn luôn phải có lòng nhân ái với hết mọi người trong mọi trường hợp.

Trong cuộc tập kết năm 1954 cũng như cuộc di tản năm 1975, nhiều người học thức đã ra đi. Chúng tôi là lớp người tốt nghiệp đại học đầu tiên. Ra đời chúng tôi thấy cô đơn trống vắng. Mọi người phải phấn đấu nhiều lắm và mang ý thức về xây dựng lại tỉnh nhà. Lần lược có anh Nguyễn Mộng Giác rồi đến anh Huỳnh Hữu Dụng về Ty Giáo Dục. Chúng tôi không quan niệm chức tước gì. Thấy mình như là một "task force" để thực hiện một chương trình. Lần lược có anh Lê Công Minh về làm ty trưởng Ty Điền Địa, anh Đặng Đức Bích làm ty trưởng Ty Nông Nghiệp, anh Nguyễn Trác Hiếu bác sĩ ở nhà thương quân y Quy Nhơn, và anh Nguyễn Công Lượng quận phó quận An Nhơn. Còn những người khác nữa, tôi không biết hết. Họ là những người con xuất phát từ Đại Gia Đình Trường Trung Học Cường Để, nay trở về xây dựng quê hương.

Tháng tư năm 1975, lịch sử mở sang trang khác.


Hè 2009
Phan Bá Trác


Nguồn: Đặc San CĐ & NTH Qui Nhơn 2010

Thêm bình luận


Đăng Nhập / Đăng Xuất