Trang thông tin liên lạc của cựu Giáo Sư và học sinh Trung Học Cường Để Qui Nhơn

Trang Facebook của cuongde.org

  • CD4 1200
  • hinhCu 1200
  • NhaGiuXe1200
  • DaiThinhDuong1200

bien quy nhon
Biển Quy Nhơn về chiều

Trong chúng ta, ai cũng có những kỷ niệm thuở thiếu thời. Bên cạnh những kỷ niệm đánh đáo, bắn bi, câu cá, đánh lộn... Ở nhà trường cũng có những bài học vỡ lòng mà cả đời chúng ta không bao giờ quên...Nhiều khi những bài học vỡ lòng này lại là kim chỉ nam cho những suy nghĩ, ứng xử của chúng ta sau này...

Hơn 40 năm trước, lúc đó tôi đang học lớp nhì (tức lớp 4 ngày nay) có một bài chính tả tựa đề là Mạo hiểm của Nguyễn Bá Học mà tôi còn nhớ đến bây giờ:

Mạo hiểm
"Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi.
Mà khó vì lòng người ngại núi e sông.

Xưa nay, những đấng anh hùng làm nên những việc gian nan không ai làm nổi, đó là nhờ ở gan mạo hiểm, cả đời không biết cái khó là gì. Sách có nói rằng "không vào hang hùm sao bắt được cọp" Các nước Âu Châu ngày nay đã trở nên giàu mạnh cũng là nhờ ở gan mạo hiểm. Kẻ đóng tàu vào Bắc cực, người vượt bể sang Mỹ Châu, đãu sức với ba đào, thi gan cùng sương tuyết mới có cái cảnh tượng ngày nay. Còn những kẻ giu giú như gián ngày, làm ciệc gì cũng cờ thời đợi số, chỉ mong cho được một đời an nhàn vô sự, sống lâu, giàu bền, còn việc nước, việc đời không quan hệ gì đến mình cả, như thế gọi là sống thừa. Còn mong có ngày vùng vẫy trong trường cạnh tranh này thế nào được nữa. Hãy trông những bọn thiếu niên con nhà kiều dưỡng, cả đời không dám đi đâu xa nhà, không dám làm quen với một người khách lạ, đi thuyền thì sợ sóng, trèo cao thì run chân, cứ áo buông chùng, quần đóng gót tưởng thế là nho nhã, tưởng thế là tư văn mà thực ra không có lực lưỡng, không có khí phách. Hễ ra khỏi nhà thì nhảy lên xe, hễ ngồi lâu thì kêu chóng mặt. Đó là những cách làm cho mình yếu đuối, nhút nhát, mất hẳn cái tinh thần mạo hiểm của mình đi".

Không biết là do bản tính cha mẹ sinh ra, hay do ảnh hưởng của bài chính tả này mà trong đời tôi ít khi tôi biết sợ. Sau khi đóng bè vượt biển, rồi gặp bão phải trở vào bờ và bị VC bắt vào tù. Trong hơn 3 năm tù VC, tôi đã bị bầm dập, khổ sở vì cái tính không biết sợ này. Đúng là thần khẩu hại xác phàm. Nhưng dù gì thì gì, tôi cũng không nghĩ đó là một tính xấu, và giữ cái tính này cho tới hết cuộc đời, không thay đổi. Kỷ niệm về những bài học thuở còn thơ thì nhiều, tôi còn nhớ nhưng không thể chép hết ra đây. Bây giờ xin độc giả đọc tiếp bài 2 nói về quê hương tôi : Bình Định

Hai năm sau, hết bậc tiểu học, tôi bắt đàu học đệ thất (lớp 6 bây giờ) tại trường Trung học Tiến Đức thuộc quận Bình Khê, tỉnh Bình Định. Quê hương của vua Quang Trung-Nguyễn Huệ, cụ Mai Xuân Thưởng và nữ tướng Bùi thị Xuân. Thầy Nguyễn Văn Hùng dạy chúng tôi môn Cổ văn. Có một hôm thầy Hùng bận việc gì đó, nên nhờ thầy Mạc Khánh Tiên dạy thế. Thầy Tiên không theo chương trình, thầy đọc cho chúng tôi chép bài "Non Nước Bình Định" rất hay. Lúc đó tôi còn nhỏ, chưa đủ ý thức để hỏi thầy ai là tác giả bài này, thầy bảo chép thì chép, sau đó thấy hay, đọc nhiều lần rồi thuộc. Không cần biết tác giả là ai! Tiếc rằng 2 giờ Cổ văn hôm đó, chúng tôi chỉ chép được nửa bài, rồi thầy Tiên trở về trường của thầy, từ đó chúng tôi không bao giờ gặp lại thầy Tiên. Gặp bạn bè cùng quê Bình Định tôi thường hỏi thăm bài này, nhưng không ai biết. Tôi thử tìm trong cuốn "Nước Non Bình Định" của Quách Tấn, nhưng cũng không thấy. Hôm nay, nơi xứ người, nhớ quê hương. Tôi xin chép ra đây để tưởng nhớ thầy Tiên và cũng mong ai đó biết được tác giả bài này là ai và cho tôi chép tiếp phần sau. Xin muôn vàn cảm tạ. Tôi cũng xin thưa là cả hai bài này tôi chép theo trí nhớ. Nên có thể có những sai sót, xin quý vị lượng thứ cho.

NON NƯỚC BÌNH ĐỊNH
Có câu rằng:
Học trò Bình Định ra thi.
Thấy cô gái Huế chân đi không đành.

Vì vậy, khi thi xong cậu học trò bèn rủ:

Mãn vui Hương thủy Ngự Bình.

Ai vô Bình Định với mình thì vô.
Chẳng lịch bằng kinh đô.
Nhưng Bình Định không đồng khô cỏ cháỵ.
Hai dòng sông chảy.
Ba dãy non cao.
Biển đông sóng vỗ dạt dào.
Tháp xưa làm bút, ghi tiếng anh hào vào mây xanh.

Ban dao Phuong Mai
Bán đảo Phương Mai - Quy Nhơn
Mãy lời của anh học trò đa tình kia, đã nói lên những nét đại cương của tỉnh Bình Định. Một tỉnh miền Trung nguyên Trung phần, mà mặt Đông là biển cả, còn ba mặt Tây, Nam, Bắc là ba dãy non cao, nối nhau thành hình một chiếc ngai đồng vĩ đại. Trong ba dãy núi này, thì dãy phía Nam có hòn Tượng Sơn nằm vào địa phận phủ An Nhơn làm chúa. Dãy phía Bắc có hòn Vọng Phu ở Đề Gi, quận Phù Cát làm chúa. Hòn Vọng Phu đứng chon von bên mé biển. Trên đỉnh có một hòn đá xanh, trông phảng phất một con người đứng. Người ta bảo đó là người đàn bà đứng trông chồng lâu ngày thành đá. Vì vậy mà núi mang tên là Vọng Phu, tục gọi Hòn Bà. Còn hòn Tượng Sơn hùng tráng, hoành vĩ tục gọi là Hòn Ông. Hòn Ông ngó thẳng ra Bắc, Hòn Bà ngoảnh mặt xuống biển Đông. Phải chi hai ngọn này xoay mặt vào nhau, để Ông ở trong ngó ra, Bà ở ngoài ngó vô thì thú biết mấy. Vì vậy người địa phương có câu rằng:

Vọng Phu tục gọi Hòn Bà.
Tượng Sơn chất ngất gọi là hòn ông.
Phải chi đó vợ, đây chồng.
Gánh tương tư khỏi nặng lòng nước non.

Còn làm chúa dãy phía Tây có hòn Trưng Sơn ở Phú Lạc, quận Bình Khê, và tục gọi là Hòn Sung:

Hòn Sung tuy thấp mà cao.
Trời cho làm chốn Anh hào lập thân.
Kìa ai áo vải cứu dân.
Kìa ai ba thước gươm trần chống Tây.
Truyện đời rủi rủi, may may.
Hòn Sung cây trải đá xây bao sờn.

Anh hào nào đã cứu dân, Anh hào nào chống Tây mà câu ca dao đã nói đó? Đó là Vua Quang Trung-Nguyễn Huệ, và vị lãnh tụ Cần Vương Bình, Phú, Khánh, Thuận: Mai Xuân Thưởng

Còn về sông thì theo lời anh học trò ra Huế thi đã nói: Có hai con sông cái là Lại Giang ở phía Bắc và Côn Giang ở phía Nam. Hai con sông chảy song song từ miền Tây về biển Đông, song cữ nước lại khác:

Nước lại Giang mênh mông mùa nắng.
Dòng sông Côn lênh láng mùa mưa.

Đứng trước sự trái ngược thường xuyên của phong thủy, dân Bình Định rèn được tính thản nhiên trước điên đảo của việc đời. Hễ khi gặp việc nghĩa đáng làm, thì cứ làm, gắng sức làm, làm cho tròn nghĩa vụ. Còn kết quả nên hay hư là việc phụ, không đáng quan tâm. Bỡi vậy sau hai câu trên còn tiếp theo hai câu nữa rằng:

Đã cam tháng đợi năm chờ.
Duyên em đục chịu, trong nhờ quản bao.

Nước non Bình Định tình rất cao thâm. Nếu cô gái Huế đừng nông nổi, không chỉ xét bề ngoài thì chi đến nỗi thờ ơ cùng anh học trò ra thi vậy. Nhưng khách du quan đi ngang qua Bình Định ngoài phong cảnh hữu tình, người ta còn để ý đến những ngọn tháp Chàm vừa kỳ, vừa cổ đứng sừng sững khắp đó đây. Trong toàn cõi Việt Nam yêu dấu, không nơi nào nhiều tháp cho bằng Bình Định. Theo con đường Quốc lộ số I từ Bắc vào Nam ta thấy có hòn tháp Phúc Lộc, tục gọi là Phốc Lốc và người Pháp gọi là Tour d'or (tháp vàng). Tháp đứng chon von trên một thở sơn, dáng tròn, không cây cối, tháp trông có vẻ ngạo nghễ, song đượm sắc buồn. Người đến viếng tháp, xúc cảnh sanh tình thường hát:

Lên thăm hòn Phốc Lốc.
Núi cao đường dốc.
Em nghĩ thương dân tộc người Chiêm.
Gặp cơn biển nổi dâu chìm.
Đã không tài vá khuyết.
Lại không chim lấp thù.
Tháp đành ôm hận ngàn thu.
Nãu nung vàng đá mịt mù khói mây
Nhưng trời còn đây.
Đất cũng còn đây.
Lẽ đâu trục đất lại không vần xoay cơ trời

Hai giờ Cổ Văn hôm đó, chúng tôi chép đến dây thì ngừng. Chúng tôi hy vọng là 2 giờ sau sẽ chép tiếp. Nhưng thầy Tiên trở về trường cũ. Rồi từ đó chúng tôi không gặp lại thầy. Nên bị đứt đoạn sau, tiếc quá.Trong khi giảng cho chúng tôi bài này, thầy Tiên có nhắc đến những câu ca dao như:

Cầu Đôi nằm cạnh tháp Đôi
Vật vô tri còn thế, huống chi tôi với nàng.

Hay:
Khoai lang Đồng Phó.
Đậu phụng Hà Nhung.
Chàng bòn thiếp mót bỏ chung một gùi.
Chẳng may duyên nợ sụt sùi.
Chàng giận chàng đá cái gùi lăn đi.
Chim kêu dưới suối từ bi.
Nghĩa nhân còn bỏ huống chi cái gùi.

Toàn bài từ trên xuống dưới, chỉ dùng những câu ca dao của riêng Bình Định mà thôi

Tôi học trường Tiến Đức chỉ có một năm đệ thất, năm sau trường đóng cữa vì không đủ học sinh. Lúc đó ông thân sinh tôi đang làm công chức ở quận An Nhơn. Nên tôi cũng chuyển xuống đó học trường bán công An Nhơn cho tiện. Nhà tôi ở trọ gần thành Đồ Bàn, thủ đô của Chiêm Thành ngày xưa và cũng là nơi mà Trần Bá Lộc đã chém đầu nhà cách mạng Mai Xuân Thưởng.

Tôi còn nhớ năm đó thầy Trương Trọng Thông dạy chúng tôi môn hình học. Thầy Thông dáng người cao, nước da ngăm đen rất có duyên, thầy khá đẹp trai và chuyên dạy môn hình học rất nổi tiếng. Có một hôm, có lẽ vì hồn thơ lai láng lại gặp lúc thì giờ cũng còn rộng rãi, nên thầy đọc và giảng cho chúng tôi bài thơ "Mòn mỏi" của Thanh Tịnh. Bài thơ rất hay, nhưng nếu không có sự dẫn giải của thầy Thông thì chắc chắn chúng tôi sẽ không hiểu và không thấm thía hết cái hay của bài thơ. Thầy giảng :

Chiều hôm đó, trong căn nhà cô quạnh chỉ có hai chị em. Người em, tuổi còn thơ dại, còn chị đã có chồng. Nhưng chồng của chị đã lên lưng ngựa hồng, theo đoàn quân đi chinh chiến ngoài biên thùy đã lâu chưa thấy về. Chị đã khóc nhiều đêm vì thương nhớ chồng đến nỗi đôi mắt chị đã bị mù. Trong niềm thương nhớ tận cùng, chị bảo đứa em:

Em ơi nhẹ cuốn bức rèm tơ.
Tìm thử chân mây khói tỏa mờ.
Có bóng tình quân muôn dặm ruổi.
Ngựa hồng tuôn bụi cõi xa mơ.

Nghe lời chị, đứa em nhìn ra cữa sổ và cứ ngây thơ thấy sao nói vậy, nên trả lời:

Xa nhìn bên cõi trời mâỵ.
Chị ơi em thấy một cây liễu buồn.

Câu trả lời của cô em vô tình đã làm cho chị càng buồn hơn, nhưng chị vần cứ hy vọng nên bảo em:

Bên rừng em hãy lặng nhìn theo.
Có phải chăng em ngựa xuống đèo.
Chị ngờ như chàng lên tiếng gọi.
Trên mình ngựa hí lạc vang reo.

Cô em nhìn ra cữa rồi quay lại trả lời:
Bên đường ngọn gió rung cây.
Chị ơi con nhạn lạc bầy kêu sương.

Chị đang nhớ chồng quay quắt, lại gặp cô em ngây thơ, thấy gì không thấy lại thấy cây liễu buồn, rồi bây giờ lại thấy con nhạn lạc bầy kêu sương. Bỗng người chị nghe trong gió chiều dường như có tiếng chàng gọi tên mình, không biết là thật hay vì nhớ nhung mà tưởng tượng ra, nàng vội bảo em:

Tên chị ai gieo giữa gió chiều.
Phải chăng em hỡi tiếng chàng kêu.
Trên dòng sông lặng em nhìn thử.
Có phải chăng người của chị yêu.

Cô em nhìn ra rồi trả lời:
Sóng chiều đùa chiếc thuyền nan.
Chị ơi con sáo gọi đàn bên sông.

Hết cây liễu buồn, đến con nhạn lạc bầy kêu sương, bây giờ lại đến con sáo gọi đàn bên sông. Sao mà toàn những cảnh não lòng ? Nhưng ngay lúc đó, đứa em lại mừng rỡ thốt lên:

Ô kìa bên cõi trời đông.
Ngựa ai còn ruổi dặm hồng xa xa.

Không bút mực nào có thể tả hết nỗi mừng của người chị trong lúc này. Chị vội vàng bảo em:
Này lặng em ơi lẳng lặng nhìn.
Phải chăng mình ngựa sắc hồng in.
Nhẹ nhàng em sẽ buông rèm xuống.
Chị sợ trong sương bóng ngựa chìm.

Nghe có bóng ngựa hồng trở về, chị mừng quá đến nỗi chị lo sợ bóng ngựa sẽ chìm mất trong sương mù, hay rẽ đi lối khác. Nên bảo em hãy buông rèm xuống để cho hy vọng của chị không bị tắt, cho dù ngựa có chạy về hướng nào thì trong lòng chị vẫn thấy con ngựa hồng đang chở người yêu của chị trở về . Bỗng lúc đó có tiếng vó câu trước cữa nhà, và cô em thốt lên:

Ngựa hồng đã đến bên hiên.

Trong niềm hạnh phúc tràn trề, chị ngồi xuống dùng hai tay quơ lia quơ lịa để dò đường, chị trèo xuống bậc tam cấp, bò tới chân ngựa, rồi từ chân ngựa chị đứng lên để rờ lên lưng ngựa thì cùng lúc đó cô em mới thốt ra :

Chị ơi trên ngựa chiếc yên vắng người.

Đến đây chúng ta có thể hình dung niềm đau của người chị có chồng đã ra đi không bao giờ trở lại.

Tôi học ở trường bán công An Nhơn cũng chỉ một năm, vì cuối năm đó tôi thi đău vào trường Kỹ thuật Quinhơn và học luôn ở đãy cho đến đệ nhất.

Trong bài trước, tôi có đề cập đến Quận Bình Khê, quê hương tôi, nằm trên quốc lộ 19 cách thị xã Quinhơn 40 cây số trên đường đi Pleiku, Kontum. Quận lỵ Bình Khê nằm trong thị trấn Phú Phong, thuộc xã Bình Phú, ở đây nổi tiếng có món chim mía cũng như quận Tuy Phước có món nem chua Chợ Huyện. Những ngày cuối tuần, các cô cậu học sinh con nhà khá giả thường cùng gia đình từ Quinhơn tụ về đây ngoạn cảnh đền Tây Sơn, hoặc Hầm Hô và ăn chim mía. Hầm Hô là tên một địa danh nằm trên đầu nguồn của Sông Côn, cách Phú Phong chừng 5 cây số, ngay chỗ này con sông phải chảy qua một vùng núi đá , tạo nên những thác nước thiên nhiên rất kỳ vĩ, hai bên suối là những cây phượng và hoa rừng vàng đỏ trông rất đệp mắt. Đến mùa hè, bọn học trò nhỏ chúng tôi thường tổ chức những buổi du ngoạn ở đây, ăn cá nướng bắt tại chỗ và tắm suối suốt ngày.

Ham Ho
Hầm Hô - Phú Phong

Theo như tác giả Hồng Trung trong cuốn "Bóng Hoa Rừng" thì Hầm Hô là nới chứa lương thực của phong trào kháng chiến Mai Xuân Thưởng. Khi Pháp sai tên Trần Bá Lộc đánh dẹp phong trào kháng chiến Mai Xuân Thưởng không xong. Trần Bá Lộc sai bắt bà mẹ già của cụ, tra tấn rất dã man rồi biên thơ khuyên cụ ra hàng, và hứa rằng nếu cụ ra hàng hắn sẽ không để cho một giọt máu của cụ rơi xuống đất. Cụ Mai không tin lời hứa này, nhưng vì lực lượng kháng chiến ngày một hao mòn vì Pháp khủng bố quá gắt gao, cụ nghĩ chữ "Trung" đã không thành thôi thì cụ đành ra hàng để giữ chữ "Hiếu" với mẹ. Trần Bá Lộc đem cụ ra chém ở thành Bình Định ( thuộc quận An Nhơn, năm đệ lục tôi có ở trọ gần chỗ cụ Mai bị hành hình). Vì lời hứa "Không để một giọt máu của cụ Mai rơi xuống đất" nên Trần Bá Lộc đã chém cụ trên một đài cao, bên dưới chất nhiều rơm để cho máu cụ không rơi xuống đất, chém xong hắn đốt. Trước khi chết cụ có ngâm bài thơ sau đây:

Chết nào có sợ, chết như chơi.
Chết bỡi vì dân, chết bỡi thời.
Chết hiếu chi nài xương thịt nát.
Chết trung bao quản cổ đầu rơi.

Chết nhân tiếng để vang ngàn thuở.
Chết nghĩa danh lưu rạng mấy đời.
Thà chịu chết trung hơn sống nhục.
Chết nào có sợ chết như chơi

Dưới thời Tổng Thống Ngô đình Diệm, Lăng cụ Mai đã được xây cất rất uy nghi, hùng vĩ trên một ngọn đồi cao, cách Phú Phong chừng 5 cây số, bên bờ sông Côn, nhìn qua bên kia là làng Phú Lạc, quê hương của cụ.

Phú Phong là một thị trấn nhỏ, nên những năm đầu thập niên 60 chỉ có một trường trung học và cũng chỉ có hai lớp đệ thất và đệ lục. Nhưng tôi cũng chỉ học được một năm, năm sau trường đóng cữa vì ít học sinh, đa số chúng tôi phải đi học ở Quinhơn. Những ngày cuối tuần chúng tôi thường về quê thăm nhà, tùy theo khả năng tài chánh có người vài tuần về một lần, có người 2,3 tháng mới về một lần. Chiều chủ nhật chúng tôi đón xe lam xuống Quinhơn để ngày hôm sau tiếp tục đi học. Năm đó tôi đang học đệ tứ. Tôi có một người bạn rất thân tên Đỗ Hiếu Nam, chúng tôi học chung suốt những năm tiểu học. Khi lên trung học, Nam học trường Cường Đễ, còn tôi học Kỹ thuật nhưng chúng tôi cũng thường chơi thân với nhau. Khi lên Đại học Nam học Văn Khoa và Sư Phạm, còn tôi học Luật. Nhưng chúng tôi ở trọ chung nhà. Nam là người có khiếu văn chương từ nhỏ và học giỏi tất cả mọi môn học. Hiện Nam đang sống tại Perth, WA . Có một hôm tôi và Nam đang ngồi trong quán uống nước mía để chờ xe đi Quinhơn, thì thấy có một cặp nam nữ từ trong xóm đi ra, anh chàng coi cũng bảnh trai, mặc quần xanh áo trắng học trò, còn nàng thì áo dài trắng, quần trắng. Hai cô cậu chờ chừng 5 phút thì có một chiếc xe lam chạy đến. Sau khi chàng lên xe để đi học ở Quinhơn, nàng cúi đầu ôm hai quyển tập trước bụng, bước từng bước thật chậm quay trở về. Lúc đó trời lại lất phất mưa, trông nó buồn làm sao ấy.

Một tuần sau, Nam đưa cho tôi coi bài thơ tự hắn làm có tựa đề : "Nói với người đi" bài thơ rất hay, tôi học thuộc và còn nhớ đến bây giờ:

Bỏ lại sau lưng những tháng ngày.
Người về đâu hỡi buổi chiều nay.
Nơi đây mưa gió gây sầu nhớ.
Tôi với tôi buồn theo lá bay.
Mây xám bơ vơ rụng xuống hồn.
Đường xưa chung bước ngập hoàng hôn.
Cúi đầu đi mãi trong mưa lạnh.
Dư ảnh nụ cười môi héo hon
Người đã đi rồi thật đó sao.
Không lời từ biệt gởi cho nhau.
Làm thân con gái nhiều đau đớn.
Dang dở từ đây giấc mộng đầu.
Dưới mái trường xưa tôi với tôi.
Lòng nghe bão tố dậy đơn côi.
Màu hoa chi dại hoa kỷ niệm.
Sắc thắm trung trinh ép tặng người.
Năm tháng bên nhau có nhớ không?
Nhớ ngày nắng ấm cuối mùa đông.
Tôi hong áo rét ngoài sân trước.
Người nắm tay tôi những ngại ngùng.
Nhớ buổi trưa hè gió lao xao.
Bài thơ nho nhỏ chép trao nhau.
Giờ xem thơ cũ hồn rưng rức.
Kỷ niệm này xưa ngập biển sầu.
Người mãi tha hương nên dễ quên.
Riêng tôi ngày tháng chảy không tên.
Những chiều mưa gió buồn hoang lạnh.
Kỷ niệm xuôi về trôi bấp bênh.
Ngơ ngác không gian nhẹ trở mùa.
Người đi, người đã trở về chưa ?
Tôi đưa mắt dõi đường quen thuộc.
Thấy mảng trời xa cánh nhạn thưa.

Kể ra, mới học đến lớp 9 mà làm thơ như vậy cũng khá quá, phải không quí vị ? Cho hay văn chương hay thơ phú là do năng khiếu của mỗi người. Có những người học cao nhưng rặn một bài không ra, ngược lại có những người học không bao nhiêu mà văn chương, thi phú rất hay.

Thầy Nguyễn Hữu Ba

Bình luận


Đăng Nhập / Đăng Xuất