Trang thông tin liên lạc của cựu Giáo Sư và học sinh Trung Học Cường Để Qui Nhơn

Trang Facebook của cuongde.org

  • CD4 1200
  • hinhCu 1200
  • NhaGiuXe1200
  • DaiThinhDuong1200

Thơ

THÚ VĂN CHƯƠNG

Thơ văn, thù ứng thú vui chơi
Hợp ý nhau nên mới góp lời
Vận trắc, vận bằng nồng chén rượu
Câu dài, câu ngắn đậm hương đời
Tình sâu tâm sự khi cay đắng
Nghĩa nặng nhàn đàm lúc thảnh thơi
Chắp cánh cuộc đời nâng cõi mộng
Tri âm ai đó hãy xin mời.


PHẢI TRÁI

Phải trái giờ đây đã rõ ràng
Chốn nào địa ngục chốn vinh quang
Nửa phần đất nước vừa tang tóc
Một giải non sông lại võ vàng.
Cả khối dân đen quằng đói khổ
Riêng bầy gian trá ngự cao sang
Bởi phường đảng dữ hung đồ ấy
Dân tộc đau thương lệ đổ tràn.


NGÀY HỘI ĐỐNG ĐA

Rồi cứ hàng năm rộn lối về
Đống Đa ngày hội huyện Bình Khê
Bóng cờ rực rỡ chen đường nọ
Tiếng trống thì thùng khắp nẻo tê
Ơn nước chẳng quên người cứu nước
Lòng quê luôn nhắc chốn hương quê
Quang Trung Đại Đế người muôn thuở
Tiếng thét cầu phao đổ! Giặc hê.


BẢY MƯƠI TUỔI TỰ THỌ

Nhân sinh thất thập cổ lai hy
Ngoảnh lại thì ta cũng tới thì
Mái tóc còn xanh chừng lốm đốm
Hàm răng vẫn chắc chửa lung lay
Ngày ba bữa cứ đơm đầy đủ
Tối chín giờ sao đã ngủ khì
Chẳng lẽ theo chân ông Bành Tổ
Họa may món mén bách niên kỳ.


CHUYỆN ĂN NÓI

Ngon ăn đáng nói chuyện thường tình
Đáng nói ngon ăn dễ dám khinh
Lắm lúc ăn ngon đành chịu nhịn
Nhiều khi đáng nói phải làm thinh
Ăn sao địch thủ kinh hồn phách
Nói đến càn khôn động nghĩa tình
Ăn nói xoay chuyền răng với lưỡi
Răng còn lưỡi mất mới là kinh.


LẼ Ở ĐỜI

Muôn sự dầu chi cũng tại trời
Mong thường giữ mãi nét vui tươi
Công ơn dưỡng dục hằng ghi nhớ
Tình nghĩa thủy chung chẳng dám dời
Thân nợ trả vay trong cuộc thế
Lòng son thù tạc giữa muôn người
Khi nhàn thả mộng hồn cao thấp
Tiếng trúc đâu đây giọng tuyệt vời.


TẬP ẤP Ủ TỜ THƠ CỦA THÂN HỮU BÙI THÚC KHÁN

Trải ruột phơi gan giấy kín tờ
Kiếp tằm quạnh quẽ quyện đường tơ
Chua cay Ngũ Tủ thương đòi đoạn
Đắng chát thiên thu xót vật vờ
Vận nước đảo điên hồn lẫn bóng
Nỗi nhà lịu bịu mộng chen mơ
Cầu kia ai biết cầu bao nhịp
Mấy nhịp cầu qua mấy vận thơ.


MONG ĐƯỢC LÀM TRÂU

Mong được làm trâu thoát kiếp bò
Thân dài vai rộng ách thêm to
Hung hăng húc lộn hư chòm cải
Xấc lấc râm ngang nát đám ngò
Ráng sức bùn lầy bì bõm lội
Tàn hơi xương thịt để người kho
Tưởng chi cũng xếp loài ngưu mã
Da phất người khua ai biết cho.


THĂM CẦU GOLDEN GATE, SAN FRANCISCO

Mấy chục năm tròn trở lại đây
Cầu treo vẫn ẩn hiện trong mây
Bãi dài vắng lặng thuyền san sát
Biển rộng lăn tăn nắng trải đầy
Uốn éo đường quanh mây cách biển
Thấp cao phố dựng mái liền cây
Xưa sầu cảnh cũng thêm hờ hững
Nay đẹp đoàn viên cảnh sắc bày.


THU SẦU XUÂN THẢM

Lá cuộn dòng khô mỏi mắt em
Chiều rơi vàng vọt nắng bên thềm
Thu xưa tráo trác buồn chưa bớt
Xuân tới ngỡ ngàng tóc bạc thêm
Sau trước đìu hiu chùn nẻo lạ
Đó đây vắng vẻ lạc đường quen
Xuân Thu lần lữa Xuân Thu nữa
Hỏi tại vì đâu những bóng đêm.


SINH NHẬT THỨ BẢY MƯƠI BỐN

Chưa nghiệm nhân sinh lẽ thiệt hư
Trời đà cho tớ bảy mươi tư
Được thua danh lợi không buồn nhắc
Hay dở khen chê cũng cố từ
Trót đã nợ dâu tằm trả kén
Nên đành gắn bó nghiệp thi thư
Bạn xưa gợi lại thời niên thiếu
Là lúc cùng vang rộn tiếng cười.


BIỂN JUNEAU, ALASKA

Tuyết tan từng mãnh nổi bềnh bồng
Như thảm nhung xanh rải rác bông
Núi đá sững sừng đầu bạc trắng
Suối cao vắt vẻo giải là trong
Con thuyền lờ lững trườn lên Bắc
Dòng nước lạnh lùng chảy xuống Đông
Diễn biến nơi đây tuồng tan hợp
Nước non gắn bó bể cùng sông.


ĐÊM THANH

Đêm thanh vằng vặc một bầu sao
Gió lọt qua khe cửa thấm vào
Bỗng ló dạng ngời gương ánh nguyệt
Dường nghe phảng phất khúc tiêu tao
Bóng lồng trùng trập vương niềm nhớ
Sáo lộng gần xa giọng thấp cao
Hờ hững tầng không không biến động
Bâng khuâng nhi nữ nhớ anh hào.


THĂM BẠN

Dòng đời xuôi ngược trải bao năm
Lắm khúc quanh co, ít khúc đằm
Nhớ đuốc dạ du bừng thức dậy
Ngẫm lời tự viễn vội sang thăm
Câu thơ xứng ý câu thơ đẹp
Chén rượu thâm tình chén rượu tăm
Nắng nhạt chiều xuân nhoà tóc bạc
Sáu mươi, bảy chục vẫn kề trăm.


TÌNH THU

Thu nhớ, thương hoài dáng vóc em
Thu sầu, liễu rũ bóng xuyên thềm
Thu buồn, xơ xác cành trơ trọc
Thu thảm, mây vần ảm đạm thêm
Thu đắm, thuyền xa mờ nhạt khói
Thu say, bến lạ biết đâu quen
Thu mơ, cành biếc bao giờ lại
Thu mộng, đêm trường mãi mãi đêm.



Trác Như



Vài hàng về tác giả:

Tên thật: Trương Toại, Sinh năm: Quý Dậu (1933)
 - Sinh quán: Trường Định, Bình Hòa, Bình Khê, Bình Định.
 - Trú quán: Cupertino, California, Hoa Kỳ
 - Cao Học Văn Chương Việt Hán, ĐH Văn Khoa Saigon (1969)
 - Tiến Sĩ Chuyên Khoa Việt Hán, ĐH Văn Khoa Saigon (1974)
 - Trước năm 1975:
 - GS các trường Trung Học Công Lập và Tư Thục tại Saigon
 - Giám đốc Nhà Xuất Bản Sách Giáo Khoa Đồng Tâm Saigon
 - Sách đã soạn: Bộ sách Giảng Văn, Công Dân Giáo Dục, Luận Án Tiến Sĩ (Chiêu Minh Văn Tuyển và Hát Bội Hộ Sanh Đàn)
 - Từ năm 1980:- Vượt biên đang định cư tại Hoa Kỳ
 - Chủ Tịch Hội Đồng Tư Vấn Khu Học Chánh Lincoln
 - Trong Ban Biên Tập Dòng Sử Việt, cộng tác tạp chí Tân Văn, Văn Hóa Việt Nam, chủ biên Đặc San Bình Định Bắc California, hội viên Hội Independent Scholars of Asia, Berkely
 - Sách đang in:
 - Hoàng Giáp Nguyễn Tư Giản - Làng Xã Việt Nam Quê Hương Các Nhà Khoa Bảng Thời Hán Học.

Trích từ Đường Thi Bình Định, tuyển tập thơ do Bút Duyên Hội Tụ xuất bản năm 2009 tại Hoa Kỳ.
Bình luận


Đăng Nhập / Đăng Xuất