Trang thông tin liên lạc của cựu Giáo Sư và học sinh Trung Học Cường Để Qui Nhơn

Trang Facebook của cuongde.org

  • CD4 1200
  • DaiThinhDuong1200
  • hinhCu 1200
  • NhaGiuXe1200

Ca Nhạc Sân Khấu

Nhận diện toàn bộ sân khấu Việt Nam từ xưa tới nay, ta thấy có đầy đủ các bộ môn Múa Rối, Kịch Nói, Kịch Thơ, Kịch Hát, Kịch Múa, Nhạc Kịch... mang những cái tên có từ thế kỷ XI như Trò Hề, Trò Tuồng, Hát Cởi Trần, Hát Giấu Mặt... hay từ vài thế kỷ gần đây như Trạo Phường, Chèo Bội, Hát Tuồng (Hát Bội hay là Hát Bộ), Hát Chèo, Hát Cải Lương v.v...

tuong1

Xem tiếp...

Trường Sư Phạm Qui Nhơn

Trước tháng Tư năm 1975, từ bến xe Qui Nhơn băng qua đường Gia Long, theo đại lộ Võ Tánh, đi về phía biển, cuối cùng gặp đường Nguyễn Huệ, rẽ mặt về hướng Tây Nam. Con đường Nguyễn Huệ chạy dọc theo bờ biển, bên trái là xóm dân chài Khu Hai, bên mặt có Trung Tâm Y Tế Toàn Khoa Qui Nhơn, rồi qua khúc quanh Eo Nín Thở, đến ngã ba Nguyễn Huệ và Nguyễn Hữu Lộc, ở góc đường phía Tây là cơ sở Quân Sự. Vẫn trên con đường Nguyễn Huệ, từ đây, bên trái là bãi Thùy Dương; bên phải, đi một quãng nữa, sẽ gặp Trường Trung Học Vi Nhân, rồi Trường Sư Phạm Qui Nhơn, kế đến là Trường Trung Học Kỹ Thuật, tiếp theo có Quân Y Viện và kho Y Dược 720 của Quân Đoàn 2. Nơi đây, qua khỏi ngả ba, là khu vực Ghềnh Ráng, nếu vẫn tiếp tục đi trên đường Nguyễn Huệ, bên phải là phía hông của Trung Tâm Huấn Luyện Nhân Dân Tự Vệ của ông Võ Trấp, nằm dựa lưng vào núi Vũng Chua. Và bên trái, nhìn lên chân đồi là mộ Hàn Mạc Tử .

Một góc Qui Nhơn, chụp năm 1966
H 1: Một góc Qui Nhơn, chụp năm 1966, từ Bệnh viện
Thánh Gia nhìn về Ghềnh Ráng và núi Vũng Chua.
Ảnh từ Khổng Xuân Hiền, Cuongde.org

TRƯỜNG SƯ PHẠM QUI NHƠN

Có thể nói Trường Sư Phạm Qui Nhơn là trường cao cấp nhất tại Qui Nhơn thời bấy giờ. Nhiệm vụ chính là đào tạo Giáo chức ngạch Giáo Học Bổ Túc cho các tỉnh Miền Trung. Ngoài ra, theo Trần Đình Thái [1], Trường còn giữ vai trò mở những khóa Tu nghiệp vào dịp ba tháng nghỉ hè, cho Giáo viên Tiểu học tại các Ty Tiểu Học thuộc Vùng I và Vùng II.

Xem tiếp...

Lễ Tết Cổ Truyền Việt Nam

Tết là ngày lễ lớn định kỳ hằng năm tính theo âm lịch, có cúng lễ, ăn uống, vui chơi, hội hè theo truyền thống dân tộc. Nước ta có 11 cái Tết vào các tháng Giêng, Ba, Năm, Bảy, Tám, Chín, Mười, Chạp, và trọng đại nhất là Tết Nguyên Đán tức Tết Đầu Năm còn gọi là Tết Cả.

TẾT NGUYÊN ĐÁN

Theo ngữ nghĩa, "nguyên" là bắt đầu, khởi đầu; "đán" là sớm, buổi sáng sớm; vậy "nguyên đán" là ngày đầu năm, như chữ nguyên nhật.

Tết Nguyên Đán bắt đầu từ lúc Giao thừa (giữa giờ Tý, tức 12 giờ khuya) bước sang ngày mồng Một tháng Giêng và đến mồng Bảy mới chấm dứt. Ngày nay, cuộc sống không còn thư thả nữa, thời hạn Tết rút lại chỉ còn ba ngày, hết mồng Ba là mãn.

Giao thừa là lễ Tống Cựu Nghinh Tân, có lệ đốt pháo để tan âm khí, trừ tà, xua đuổi mọi buồn phiền và đem lại sự giòn giã vui vẻ cho năm mới. Lễ này còn gọi là cúng Hành Khiển, thường lập bàn hương án trước sân nhà với đủ phẩm vật, nhưng vẫn là "lễ quý hồ thành, bất quý hồ đa". Tiếp theo là cúng đầu năm ở bàn thờ gia tiên, rồi đến lễ Xuất hành, đi về hướng tốt để lấy hên cho trọn một năm mới. Người ta còn hái lộc, tức là bẻ một nhánh cây nhỏ đem về nhà, tin rằng sẽ đem lại sự thành đạt tốt đẹp quanh năm. Có nơi, xin lộc bằng cách lấy nén hương đốt lễ nơi đền, chùa, đình, miếu, đem về nhà, và tin rằng đóm lửa sẽ mang lại vận đỏ cho gia đình. Ngoài ra, còn có tục Xông nhà, chọn một thành viên nhẹ vía nhất trong gia đình, dặn họ rời nhà trước khi trừ tịch, đợi cúng Giao thừa xong mới trở về; hoặc kén một người hàng xóm đến đạp đất giùm để lấy hên.

Xem tiếp...

Bình Định, Những Ngôi Trường Trong Trí Nhớ

Các Trường Trung Học Tỉnh Bình Định
(tính đến 1- 4- 1975). Phần Hai [*]

Đào Đức Chương

Từ năm 1955, sĩ số càng ngày càng tăng, các trường công lập không đủ sức dung nạp. Đầu thập niên 1960, số học sinh thi vào đệ thất trường công lập, trúng tuyển khoảng 30%. Mặc dù Bộ Giáo Dục cố gắng phát triển hệ thống trung học công lập đến các quận, thị trấn và cả thị tứ; nhưng vẫn không bắt kịp với đà học sinh gia tăng. Đến đầu thập niên 1970, các trường công lập cũng chỉ thu nhận được 60% tổng số học sinh muốn vào lớp sáu [1]. Vì thế, những mô hình trường trại khác, cũng được thiết lập song hành với trung học công lập, hòng đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục.

Với tỉnh Bình Định, trước năm 1975, ngoài hệ thống Trung Học Công Lập, ở Qui Nhơn còn có các loại trường Trung Học Tư Thục, Trung Học Nghĩa Thục, Trung Học Văn Hóa Quân Đội phát triển mạnh. Và ở các quận, lại có mô hình Trung Học Bán Công [2], Trung Học Tỉnh Hạt [3], Trung Học Tư Thục, song hành với hệ thống Trung Học Công Lập.

Xem tiếp...

Chùa Ông Nhiêu - Hồi sinh một di tích

Hơn 1 thế kỷ (từ 1471 – 1611) vùng đất Bình Định là miền biên viễn của Đại Việt, có rất nhiều di tích lịch sử - văn hóa gắn liền với quá trình người Việt định cư lập làng sinh sống và hình thành các đô thị cổ, hầu hết các di tích ấy đã bị chiến tranh và thời gian làm mai một. Rất may, có một di tích xác định sự ra đời đô thị Quy Nhơn hiện còn, đã được xếp hạng và đang hồi sinh: Di tích chùa Ông Nhiêu (tức đền Quan Thánh).


Chùa Ông Nhiêu năm 1966

Chùa Ông  Nhiêu thuộc thôn Vĩnh Khánh, tổng Tuy Hà, huyện Tuy Phước, phủ An Nhơn (ngày nay thuộc phường Trần Hưng Đạo, TP. Quy Nhơn). Thôn Vĩnh Khánh là một làng cổ lâu đời của thành phố Quy Nhơn. Không có tài liệu nào nói về năm ra đời và quá trình phát triển của thôn Vĩnh Khánh, nhưng di vật còn lại cổ xưa nhất của thôn Vĩnh Khánh là chiếc Khánh của chùa Long Khánh làm năm Kỷ Mùi (1739). Từ thôn Vĩnh Khánh đã thành lập nên làng hai làng Chánh Thành và Cẩm Thượng, cư dân thành phố Quy Nhơn được khởi đầu từ đó.  

Xem tiếp...

Bảo tồn nghệ thuật cổ ca Hát Bội phải là 1 quyết tâm

Nhắc đến Hát Bội, Hát Bộ hay Hát tuồng, trong ký ức thời thơ ấu của tôi còn ghi lại, mỗi lần theo cha mẹ đi coi hát là mỗi lần sợ hãi, kinh hoàng. Tiếng chiêng trống, những bộ mặt dữ tợn đen xì, đỏ gay của mấy ông tướng cùng cờ quạt phất phới gắn đầy người, làm con bé nhát gan như tôi vừa thấy là khóc thét lên. Lớn lên chút, Hát Bội chỉ còn là hình ảnh những bộ trang phục sặc sỡ treo tòn teng gần cửa sổ căn gác ngôi đình đối diện rạp hát Văn Cầm, gần nhà tôi. Thời tiểu học, ngày hai buổi đi về trường Võ Tánh trên đường Võ Di Nguy, tôi hay đi ngang qua ngôi đình có gánh Hát Bội thường xuyên diễn ở đấy. Tôi thường say mê nhìn lên khung cửa đó, nơi có các đào kép hát ngồi trang điểm hay vẽ mặt cho nhau. Phấn son trên gương mặt các cô đào trong tuồng hát ngày nào một phai mờ theo bụi thời gian đến khi tôi ra tới hải ngoại, môn nghệ thuật cổ truyền này chỉ còn trong trí tôi là những tiếng "ư ư ử ử" đầy ấn tượng.



Xem tiếp...

Lam Sơn Khởi Nghĩa Thắp Lửa Bình Ngô

. Trận Tụy Động, Chúc Động : Vương Thông thất thế
. Trận Chi Lăng : Liễu Thăng tử trận

1- Lam Sơn khởi nghĩa :

Từ khi nhà Minh sang cai trị An Nam, dân ta khổ sở trăm bề, tiếng oan không dứt, chỉ mong có cơ hội đánh đuổi quân xâm lăng ra khỏi bờ cõi. Lúc ấy có một vị anh hùng nổi lên, kéo cờ khởi nghĩa chống lại giặc Minh, chinh chiến khổ cực trong 10 năm, đánh đuổi ngoại xâm, lấy lại giang sơn gấm vóc, xây đắp nền độc lập cho nước nhà.

Người anh hùng ấy là Lê Lợi, quê quán làng Lam Sơn, huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, nhà giàu có, đã mấy đời làm nghề nông, thường hay giúp đỡ người nghèo khó, nên mọi người đều mến phục. Ông Lê Lợi là người trung hậu, có chí lớn, ông thường nói : " Làm trai sinh ra trên đời, nên giúp nạn lớn, lập công to, để tiếng thơm muôn đời, chứ sao lại bo bo làm đầy tớ người ". Ông đón mời sĩ phu, chiêu tập anh hùng hào kiệt.

Xem tiếp...

Nhong nhong nhong, ngựa ông đã về…

“Nhong nhong nhong, ngựa ông đã về
Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn”.

“Ông” đã ra đi từ lâu, lâu lắm rồi, địa danh Bồ Đề chỉ còn là tiếng vọng trong ký ức của người dân địa phương. Nhưng từ câu đồng dao trên, non năm trăm năm qua, hình ảnh ông vẫn lưu truyền trong dân gian vùng Bắc Bình Định. Ông là bậc khai quốc công thần của nhà Nguyễn Gia Miêu* thời quốc sơ: Khám Lý phủ Quy Nhơn, Cống Quận Công Trần Đức Hòa.


Văn kiện của Bộ Lại triều Lê (1564) đời Lê Anh tông cấp cho con trưởng Dương Đàm Hầu Trần Ngọc Phân là Trần Đức Hòa được tập ấm chức Hoằng tín đại phu.

Xem tiếp...

Nước Mặn - Nơi Phôi Thai Chữ Quốc Ngữ

Anh Nguyễn Thanh Quang (năm 1974-1976: Học sinh trường Kỹ thuật Quy Nhơn, năm 1976-1977: Học sinh trường cấp 3 Quang Trung; tiền thân là trường Cường Để, Quy Nhơn) hiện đang công tác tại Ban Quản lý di tích tỉnh Bình Định, đã đồng ý cho cuongde.org đăng lại Bài khảo cứu giá trị "Nước mặn - Nơi phôi thai chữ Quốc Ngữ" của anh. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Tiến trình hình thành chữ Quốc ngữ ở Việt Nam từ khi khởi thảo đến khi hoàn tất khoảng hai thế kỷ. Dựa vào những tư liệu hiện có, người ta đã chia ra làm 4 thời kỳ: phôi thai, hình thành, phát triển và hoàn tất. Thế nhưng, ai là người đi tiên phong sáng tạo ra chữ Quốc ngữ? Và nơi sơ khởi, phôi thai của chữ Quốc ngữ diễn ra ở đâu? Hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Phải chăng Nước Mặn là nơi bắt đầu, điểm khởi nguyên công việc sáng chế chữ Quốc ngữ?


Nước Mặn là tên gọi của một phố thị cảng sông nằm bên đầm Thị Nại của phủ Qui Nhơn vào thế kỷ XVII-XVIII. Nơi đây thuyền buôn phương Tây và các nước Đông-Nam Á thường xuyên ra vào buôn bán. Nước Mặn cũng là nơi đóng bản doanh của giáo đoàn các tu sĩ Dòng Tên ở xứ Đàng Trong vào đầu thế kỷ XVII. Cảng thị Nước Mặn xưa kia bao gồm các thôn: An Hoà, Lương Quang thuộc xã Phước Quang và thôn Kim Xuyên thuộc xã Phước Hoà, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định ngày nay.

Xem tiếp...

Trang Sử Nam Quốc Sơn Hà Trong Buổi Đầu Nền Tự Chủ

Trích từ Ca Dao Nẻo Vào Lịch Sử
Phần I, Đoạn 2.

Năm 931 (Tân Mão), Dương Diên Nghệ người xã Dương Xá huyện Thiệu Hóa [nay là Thiệu Yên vì có Yên Định sáp nhập), tỉnh Thanh Hóa, khởi binh đánh đuổi quân Nam Hán. Từ ấy, nước ta độc lập suốt 476 năm, trải qua các triều Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Hồ; đánh dấu một thời đại tự chủ oai hùng (931- 1407).

I - NHÀ NGÔ (939 – 965)

Ngô Quyền (898- 944) người xã Đường Lâm, nay thuộc thành phố Sơn Tây tỉnh Hà Tây; được Dương Diên Nghệ cho làm nha tướng và gả con gái là Dương Thị Như Ngọc.

Xem tiếp...

Đăng Nhập / Đăng Xuất