Trang thông tin liên lạc của cựu Giáo Sư và học sinh Trung Học Cường Để Qui Nhơn

Trang Facebook của cuongde.org

  • DaiThinhDuong1200
  • CD4 1200
  • NhaGiuXe1200
  • hinhCu 1200

LTS. Bài này đã đăng trong Đặc san Cường Để & Nữ Trung Học Quy Nhơn 2007 & 2008.

Thơ có nhiều cách để đi vào lòng người. Cũng có thể là một tứ thơ độc đáo không giống bất cứ ai. Cũng có khi bài thơ mê hoặc người đọc bằng một thứ ngôn ngữ lấp lánh ánh sáng của trí tuệ. Lắm lúc bài thơ chỉ nói đến những điều rất đỗi bình thường mà lại có khả năng khơi động một cái gì đó sâu xa trong tâm thức chung của con người …

Tôi đã đọc bài thơ Mẹ của tác giả Nguyễn Mạnh An Dân - Bài thơ viết về một đề tài phổ biến, quá phổ biến là đằng khác. Ở cách thể hiện chân mộc tưởng như người làm thơ không hề dụng công làm nghệ thuật. Ở những chi tiết cụ thể tưởng như không phải là thơ nhưng đầy cảm xúc. Và tôi bị hút vào bài thơ không dứt ra được.

Hãy đọc lại bài thơ một lần nữa:

Mẹ

Những ngày còn nhỏ dại
Mỗi lần con đi xa
Mẹ ra ngồi trước cửa
Dúi con chai dầu xoa

Nhị Thiên Đường rất nóng
Con chẳng dùng bao giờ
Cầm cho vui lòng Mẹ
Cuối tầm nhìn bỏ ra

Hôm nay con nằm bệnh
Một mình nơi đất khách
Cách đại dương, cách núi
Quá tầm tay Mẹ yêu

Con chẳng cần thuốc bổ
Con chẳng cần ăn ngon
Một chút dầu của Mẹ
Ấm áp cả lòng con

Nếu được nhìn mắt Mẹ
Âu yếm như lời ru
Con sẽ như đứa trẻ
Ôm mẹ khóc hu hu

Mẹ giờ già yếu lắm
Con chẳng còn bé thơ
Dẫu với đời ngạo nghễ
Thiếu Mẹ cũng bơ vơ.

Thể thơ năm chữ, từ dùng giản dị, vần gieo tự nhiên. Bài thơ có âm điệu như một lời kể chuyện nhỏ nhẹ, dịu dàng. Kể với ai hay chỉ là tự sự với chính bản thân…Mạch cảm xúc của bài thơ biến thái qua 6 khổ: 2 khổ đầu: dạo đầu; 3 khổ giữa: phát triển và cao trào; khổ cuối: lắng.

Những ngay còn nhỏ dại
Mỗi lần con đi xa
Mẹ ra ngồi trước cửa
Dúi con chai dầu xoa

Nhị Thiên Đường rất nóng
Con chẳng dùng bao giờ
Cầm cho vui lòng Mẹ
Cuối tầm nhìn bỏ ra

Hình ảnh người mẹ tươi roi rói trong kí ức nhà thơ gắn liền với một chi tiết cụ thể không có gì là thơ: "Chai dầu Nhị Thiên Đường" khiến người đọc ngạc nhiên và thú vị. Lùi lại cái thời bốn năm chục năm về trước. Đó là một loại dầu gió phổ biến, chai nhỏ bằng ngón tay, cái nhãn bên ngoài chi chít cả chữ Hán. Ông Nhị Thiên Đưòng mập mạp, hồng hào, toét miệng cười đến tận mang tai là biểu tượng cao độ sự sung mãn của sức khoẻ và niềm an lạc, hạnh phúc. Hình ảnh này có cái gì đó thật gần gũi (hay là vì nó hao hao giống Đức Phật Di Lặc chăng? Mà Đức Phật Di Lặc nào đó có xa lạ gì trong tâm thức của người Việt). Chai dầu nhỏ, nước trong chai không nhiều, giá lại rẻ hợp túi tiền của người bình dân. Người ta chuộng nó vì nó rất đa dụng. Dùng để xoa khi trúng gió hay say tàu xe. Có thể uống một chút khi đau bụng. Muỗi đốt, kiến cắn ư ? (con nít thường hay bị khoảng này) bôi một chút trên vết cắn thì mẫn đỏ sẽ lặn ngay. Hình ảnh người Mẹ gắn với chai dầu Nhị Thiên Đường có cái gì đó thân quen, gần gũi, rất bình dân, rất Việt Nam không thể lẫn vào một ai khác. Tôi có cảm tưởng hình ảnh các bà mẹ qua ca dao hay qua thơ đều gắn liền với một hình ảnh cụ thể nào đó, nó như chạm khắc vào kí ức của con người:

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa   
Miệng nhai cơm búng, lười lừa cá xương
(Ca dao)

Mẹ đi đi lại lại trên đường
Khoác tấm áo choàng xưa cũ nát
(Thư gửi mẹ, Ê-xê-nin)

Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong
(Bên kia sông Đuống - Hoàng Cầm)

Nhưng tại sao mẹ lại ra ngồi trước cửa? Tại sao không đưa ở một nơi khác mà là trước cửa. Cửa là ranh giới giữa gia đình và bên ngoài, giữa bình an bao bọc chở che và bấc trắc, giữa thân thiết và xa lạ. Ngồi trước cửa là sự níu kéo của vô thức và để gần con thêm một chút nữa, là để dõi theo bước con đi, để “Dúi con chai dầu xoa” gửi vào đó sự săn sóc và cả tình mẹ.

Hành động thì nhỏ, cái tình gửi theo đó mới thật lớn. Ấy vậy mà đứa con “Cuối tầm nhìn bỏ ra”. Có gì biện minh cho hành động đáng trách ấy không? Anh ta còn trẻ và khoẻ quá! Máu căng tràn trong lòng ngực, sương gió nào có sá gì. Anh ta có thể đi đến tận trời kia mà! Ai trách anh ta vô tình, tôi chỉ nghĩ anh ta vô tâm, cái vô tâm đáng yêu của những người trẻ tuổi.

Nếu hai khổ đầu là tình mẹ đối với con thì ba khổ tiếp chủ yếu là tình con đối với mẹ. Tình cảm ấy bột phát một hoàn cảnh rất đặc biệt: bị bệnh ở đất khách.

Hôm nay con nằm bệnh
Một mình nơi đất khách
Cách đại dương cách núi
Quá tầm tay Mẹ yêu.

Ở trong vòng tay mẹ người con cảm thấy mọi việc bình thường. Trong nghịch cảnh, bệnh hoạn, làm sao con tránh được những giây phút yếu đuối. Và khi ấy, một cách vô thức người ta thường hướng về mẹ. Bên trong những lời phủ định mạnh mẽ lại ẩn chứa một sự yếu đuối. Đó cũng chính là lúc tình con đối với mẹ lên tiếng kêu đòi khẩn thiết:

Con chẳng cần thuốc bổ
Con chẳng cần ăn ngon
Một chút dầu của Mẹ
Ấm áp cả lòng con

Nếu được nhìn mắt mẹ
Ấu yếm như lời ru
Con sẽ như đứa trẻ
Ôm mẹ khóc hu hu

Những điều nói trong khổ 5 này chỉ là những giả định. Người đọc nhìn thấy qua những dòng thơ này hình ảnh người mẹ sống động trong tâm trí của nhà thơ biết dường nào. Không biết tác giả có “khóc hu hu” như đứa trẻ thật không (đó cũng là kiểu khóc lạ đời hiếm thấy trong thơ). Nhưng có lẽ anh không thể nào kìm nén tiếng nức nở trong lòng. Đó là tiếng khóc dồn nén: nghịch cảnh cuộc đời, tha phương lưu lạc, chí lớn chưa thành, vận nước nổi trôi. Đó là nỗi đau đời không gì khoả lấp được ngoài tình mẹ.
Bài thơ sau khi đã qua cao trào, nhịp điệu và ý thức giãn ra ở khổ cuối:

Mẹ giờ già yếu lắm
Con chẳng còn bé thơ
Dẫu với đời ngạo nghễ
Thiếu Mẹ vẫn bơ vơ.

Câu thơ giản dị chỉ có thế, và tác giả cũng không thể hiện bằng một thủ pháp nghệ thuật đặc biệt nào. Ấy vậy mà người đọc cảm nhận đằng sau đó nỗi đau đớn về chia ly, nỗi nhớ nhung khắc khoải. “Con chẳng còn bé thơ”, không chỉ không còn nhỏ dại mà còn chịu bao nỗi truân chuyên của cuộc đời.
Hai câu kết bật ra với nhiều hàm ý:

Dẫu với đời ngạo nghễ
Thiếu mẹ cũng bơ vơ

“Ngạo nghễ” thể hiện bản lĩnh, tính cách của nhà thơ. Từ cái tên cha mẹ đặt cho với nhiều kỳ vọng, đến bút hiệu thể hiện hoài bão của một đời con người. Từ những năm đầu đời hăng hái hoạt động trong phong trào của nhà trường, rồi cả những năm tháng dài “Khóc cười theo vận nước nổi trôi” (P.D). Và cả đến một nghị lực hiếm có để tạo được một chỗ đứng nơi quê người. Chữ “ngạo nghễ” ở câu trên sóng đôi với chữ “bơ vơ” ở câu dưới là chỗ kết của bài thơ về tình con đối với mẹ.

Bài thơ nói nhiều về tình con đối với mẹ. Hình bóng người mẹ bàng bạc sương gió trong bài thơ qua một vài cử chỉ  và một ánh nhìn. Do một sự tình cờ, mùa hè năm 2005, tôi có dịp đến thăm nhà tác giả nằm trên đường Tăng Bạt Hổ, thuộc con phố buôn bán sầm uất ở Quy Nhơn. Ngôi nhà lớn nhưng hơi cỗ so với kiến trúc tân kì của những ngôi nhà kế bên. Tôi không nhớ rõ lắm, hình như nhà có bán một số đồ tạp hóa. Có vẻ như chủ nhân không chú ý đến nhiều việc mua bán mà chỉ dọn cho có vậy thôi. Băng qua gian ngoài, chúng tôi đến phòng khách. Chúng tôi ngồi nói chuyện trên một bộ bàn ghế kiểu cổ đen bóng. Trong khi L và L.C sôi nổi với những câu chuyện của hai người bạn cũ lâu ngày gặp lại, tôi và chị Đ (chị của tác giả) chỉ góp chuyện bằng một nụ cười. Một bức hình lớn, cũ, chụp chung rất nhiều người, dấu tích của một thời đoàn tụ. Gió lọt vào giếng trời hây hẩy phá tan cái oi bức cuối hè. Không khí trong phòng yên tĩnh. Chỉ cách một căn phòng mà dường như tiếng động của xe cộ ngoài không lọt được vào nơi đó.

Tiếng nói chuyện râm ran. Một vạt nắng đậu trên tường. Tôi nhìn kỹ khuôn mặt người đối diện. Cái nhìn ấm áp, vẻ giản dị và thư thái gây cho tôi một ấn tượng khó quên (sau này, khi ra về tôi và L.C đều có chung một cảm giác như thế). Đặc biệt là ánh mắt và nét cười, nói theo kiểu nhà thơ Hoàng Cầm:

Cười như mùa thu tỏa nắng.

Tự nhiên lúc đó không hiểu sao tôi có cảm giác tiêng tiếc. Mình chỉ là người xa lạ tình cờ lạc bước đến đây. Giá như là tác giả, chứ không phải là mình thì hay biết mấy (tôi nghe L.C nói từ khi xa quê hương chưa bao giờ tác giả có dịp về thăm quê cũ). Một năm sau, mùa hè 2006, khi được đọc bài thơ, không hiểu tại sao hình ảnh bà mẹ bàng bạc trong thơ và hình ảnh của người phụ nữ có ánh nhìn đặc biệt đó chập lại thành một.

Viết về một đề tài bình thường thật khó (khó viết hay và hấp dẫn). Viết về một đề tài mà nhiều người đã viết và viết hay lại càng khó hơn. Nhưng nào có phải tác giả làm thơ đâu. Không hề thấy một chút dụng công nghệ thuật nào trong tất cả bài thơ: từ thể thơ, kết cấu, lời thơ và cả cảm xúc. Câu thơ buông ra một cách tự nhiên. Nó là sự bột phát của cảm xúc. Bài thơ đã chọn con đường  ngắn nhất để đi đến bạn đọc.

Thế mới biết thơ hay bởi tình người đẹp.

Huế, tháng 3 năm 2007
Lê Thị Chân Tú

Thêm bình luận


Đăng Nhập / Đăng Xuất