Trang thông tin liên lạc của cựu Giáo Sư và học sinh Trung Học Cường Để Qui Nhơn

Trang Facebook của cuongde.org

  • NhaGiuXe1200
  • CD4 1200
  • DaiThinhDuong1200
  • hinhCu 1200

"Những ngày hoa mộng lên ngôi,
Hương thơm hái được nụ cười còn nguyên"

(Suối Mở Tay Tiên)

Nói về đạo thánh hiền, kẻ sĩ thời Nho học còn thịnh, không thể không nhắc tới một Nguyễn Công Trứ (1778-1858), là một vị quan văn võ nổi tiếng triều Nguyễn thời Minh Mạng, Tự Đức. Ở cái tuổi thất thập cổ lai hy mà Nguyễn Công Trứ vẫn còn tràn đầy sức sống. Năm 73 tuổi Cụ còn lấy thêm nàng hầu. Trong ngày tân hôn, cô vợ trẻ hỏi chồng được bao nhiêu cái xuân lão:

-Tân nhân dục vấn: lang niên kỷ?.

Rằng chàng trả lời:

-Ngũ thập niên tiền, nhị thập tam!
(Năm mươi năm trước, ta hai mươi ba tuổi)

Thật là thi vị, thăng hoa cái thời son trẻ còn sót lại của một đời người với bao nỗi thăng trầm, nhục vinh.

Trở về chuyện "ngũ thập niên tiền" (năm mươi năm trước): Bắt đầu tuổi cắp sách tới trường là những lần xuống hầm trốn máy bay, học ngày không được tổ chức học đêm, chuẩn bị tản cư, rồi hồi cư...của những năm tháng dưới thời Việt Minh. Tuổi trẻ Bình Định thời đó thường bị thất học vì nghèo đói và chiến tranh.

Hiệp định Geneve 1954 được ký kết, đình chiến, tiếng súng tạm ngưng: bộ đội tập kết ra Bắc, di dân từ Bắc vào Nam.

Năm 1955, chính quyền quốc gia tiếp thu tỉnh Bình Định. Thành phố Qui Nhơn chỉ còn là một đống gạch vụn trên những đụn cát, mọc nhiều cây xương rồng. Trường học được tái lập trên nền trường cũ (thời College Qui Nhơn 1922), ngổn ngang gạch đá. Một vòng rào xiêu vẹo, sân trường tòan những cây me um tùm xen vài gốc phượng hoa đỏ. Trường mang tên nhà cách mạng chống Pháp Kỳ Ngọai Hầu Cường Để.

Trung Học Cường Để (1955-1975): Vào những năm đầu thành lập, học trò đa phần tuổi lớn, giấy tờ bị chiến tranh tiêu hủy nên cần phải xác lập làm lại "chứng thư thay giấy khai sinh". Trường qui tụ nhiều thành phần: người lớn có, đã có vợ con có, nghỉ học lâu giờ đi học lại và lớp trẻ sau này. Việc họàn tất bậc Tiểu học tại các trường làng, trường huyện cũng là một kỳ công rồi; nhiều nơi chưa có lớp Nhì, lớp Nhất học sinh phải trọ học xa nhà, làm đủ thứ chuyện mới mong tiếp tục con đường học vấn. Riêng tôi sinh ra trong một gia đình trung lưu, tổ tiên bao đời sống thanh bần, là con trai nên cha mẹ có phần ưu đãi tạo điều kiện cho việc học hành. Khổn nỗi, nhà ở vùng quê xa thành phố; trong chiến tranh cũng bị thất học ít nhất vài ba năm so với bạn bè cùng trang lứa. Diêu trì quê ngoại, xa nhà trọ học đã trải qua những ngày ấu thơ. Thỉnh thỏang cuối tuần lại làm một cuộc lội bộ trên dưới 15 cây số về thăm quê. Thứ Hai, từ 3 giờ sáng cha phải dậy sớm dẫn con lên tận dốc miếu Phổ trạch trên quán Cây Xoài, để đưa con đi học cho kip giờ vào lớp.

Thời gian đầu tiếp thu, gia đình nào có được chiếc xe đạp là thuộc lọai khá gỉa nhất nhì rồi, bởi lẽ sau chiến tranh tất cả đều phải xây dựng lại từ đầu. Hình ảnh thân thương đầu tiên còn ghi mãi trong tôi cho đến hôm nay xuất phát từ một ngôi trường Tiểu Học.

Trước hết phải kể về thầy Trần Trọng Tuyên, người Nam gốc Sa Đéc ra tận miền Trung dạy học lại về thị trấn Diêu Trì. Thầy vừa là Hiệu Trưởng cũng là giáo viên của hai năm lớp Nhì, lớp Nhất. Thầy thật nghiêm nghị, nhưng cũng rất quý mến học trò của mình xem như những đứa em ruột thịt, khuyên lơn dạy bảo dầu có nhiều em lười biếng, nghịch ngợm.

Ngày thầy rời trường thuyên chuyển về Nam, chúng tôi không khỏi bùi ngùi. Thầy dăn dò chúng tôi trên bước đường học vấn, tương lai mong muốn chúng tôi đều là những người hữu dụng. Giờ chia tay tất cả anh em đều xúc động.

Diêu Trì

Bình Định đang bước vào vận hội mới trong niềm hân hoan, mọi người đều được cắp sách tới trường. Xong bậc Tiểu học, muốn tiến thân học sinh phải tìm lên trường Tỉnh.

Qui Nhơn bấy giờ ngòai vài ba trường tư thục: Bồ Đề, La San... trường công chỉ có Trung Học Cường Để (nguyên gốc là College Quy Nhơn dưới thời Pháp thuôc. Thời Việt Minh trường di dời về An Lương, Hòa Bình, Bồng Sơn rồi đi xa hơn đến tận Tam Quan gần đèo Bình Đê cho đến cuối năm 1951 thì giải tán).

Bình Định, một tỉnh đông dân mà chỉ có hai trường Trung Học công lập, một tại thi xã Qui Nhơn, một tận Bồng Sơn, phía Bắc Bình định. Mỗi năm có khỏang 300 học sinh được thâu nhận vào Đệ Thất, năm đầu bậc Trung Học. Việc thi tuyển vào Đệ Thất thật cam go, ngoài số điểm cao còn phải theo yêu cầu của trường mở được bao nhiêu lớp, cần bao nhiêu học sinh. Trung Học Cường Đễ tuyển 200 học sinh trong số hơn 8,000 thí sinh, tỉ số chấm đậu thường từ 2% đến 3% thuộc 5 quận: Tuy Phước, An Nhơn, Bình Khê, Phù cát, Phù Mỹ và thị xã Qui Nhơn. Trường Tăng Bạt Hổ Bồng Sơn tuyển 100 học sinh cho hai quận phía Bắc là Hòai Ân và Hòai Nhơn.

Chặng đường từ một cậu học trò trường làng mong trở thành một học sinh trường tỉnh kể cũng không phải dễ dàng chẳng khác nào "Tuấn, chàng trai nước Việt" thời Pháp thuộc. Nhiều học sinh giỏi, duyên trường không có cũng đành ngậm bồ hòn: "thi không ăn ớt thế mà cay", trượt vỏ chuối nhiều lần phải bỏ cuộc. Người nào kiên nhẫn lắm thì cũng mất 2, 3 keo tầm sư học đạo mới mong vào ngồi được ở ngôi trường công lập nầy, còn phần lớn tìm con đường khác mà đi, nếu nhà khá giả thì mới bước vào các trường tư thục chịu nộp học phí hàng tháng ngòai tốn phí cho việc học hành.

Ngày thi tuyển vào Đệ Thất là ngày hội lớn của Bình Định và thị xã Qui Nhơn. Ba ngày trước đó học sinh và phụ huynh từ các nơi đổ xô về thành phố, thuê mướn phòng trọ, tìm nơi ăn chốn ở, xem bảng niêm yết danh sách thí sinh, địa điểm thi cùng tìm những nơi phục vụ tốt nhất cho con em mình trong những ngày thi cử mong sao đạt kết quả tốt là thi đậu. Mọi sinh họat của thành phố, xe cộ, quán xá như mang sinh khí vui tươi, nhôn nhịp. Những ngày thi, số người tụ tập dưới những hàng me bên ngoài vòng rào chờ đợi đông gấp mấy lần so với thí sinh ngồi trong các phòng học. Đa phần cha me, anh chị đưa con em đi thi thường được dặn dò, nhắc nhở những điều cần thiết; có người hiện diện nhằm chia xẻ, khuyến khích hơn là chỉ bảo bởi tuổi thơ họ có được cắp sách tới trường bao giờ và phần lớn trông cậy vào sự hiếu học của con em mình. Tất cả đều đến từ những vùng xa xôi với tấm lòng vì tương lai: "con hơn cha là nhà có phúc". Có lẽ không có hình ảnh nào đẹp và cảm động cho bằng trong lịch sử hình thành phố thị Qui Nhơn.

Cường Để

Vào Cường Đễ năm đầu, chúng tôi học nơi trường cũ (khuôn viên trường Tiểu học Nguyễn Huệ, nay là trường Lê hồng Phong). Trường có ba dãy nhà với một sân cờ rộng có khỏang trống nhìn ra phố. Các học sinh bước vào trường muốn được lên học trường mới khang trang đẹp đẽ như các anh đệ Tứ thì họ phải trải qua đầy đủ ba năm không thiếu một ngày: đệ Thất-nhà tranh, đệ Lục-nhà lá, đệ Ngũ-nhà ngói; trước khi giã từ sân trường, những gốc me, những chú ve và đôi chùm hoa phượng.

Hình ảnh ngày khai trường, khi tiếng trống đã điểm giờ vào lớp, trong buổi chào cờ đầu năm, tất cả chúng tôi đều trang trọng trong bộ đồng phục ngày lễ: nữ áo dài xanh da trời quần trắng, nam áo trắng quần trắng nai nịt chỉnh tề xếp hàng thành từng khối lớp, nữ trước nam sau. Phía trước là Ban Giám Hiệu đông đủ các Thầy Cô. Hôm nay trông thấy ai cũng đẹp cả đó là hình ảnh của những vị thầy khả kính của thời còn đi học. Sau bài Quốc ca và Hiệu đòan ca chấm dứt là hiệu triệu của thầy Tổng Giám Thị, với mái tóc hoa râm và đôi kính trắng trông thật nghiêm trang đạo mạo. Thầy dặn dò những điều cần thiết cho học sinh bắt đầu một niên học mới. Ngày hôm ấy chúng tôi đều có cảm giác thấy mình cao hơn, lớn hơn, một niềm tin vui đang bừng dậy cho ngày mai tươi sáng.

Ngày khai trường đã để lại trong tôi không phải buổi đi học theo chân mẹ khép nép của tuổi thơ mà nó còn ghi đậm những dư âm thời niên thiếu, còn đó cô giáo Hướng Dẫn lên lớp trong giờ tập đọc việt văn: "Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lanh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học."...(Thanh Tịnh.).

Hồi còn ở bậc Tiểu hoc tôi đã thuộc lòng những vần thơ ngắn ngủn nằm trong sách giáo khoa:" Cứ mỗi độ thu sang. Hoa cúc lại nở vàng. Ngoài đường hương thơm ngát. Ong bướm bay rộn ràng Em cắp sách tới trường"...

Cường Để

Niên khóa đầu tiên Đệ Thất gồm 4 lớp: Thất 1, Thất 2 (Pháp Văn), Thất 3, Thất 4 (Anh Văn). Sĩ số mỗi lớp khỏang 60 học sinh cả nam lẫn nữ. Lớp Thất 1 do cô Nguyễn Thu Nguyệt, dạy Việt văn phụ trách Giáo sư Hướng Dẫn. Một cô giáo rất trẻ mới tốt nghiệp Đại học Sư Phạm Huế. Cô có gịong nói thật dễ thương, cô qúy mến học trò và học trò cũng rất quý mến cô. Những kỷ niệm về cô còn rất nhiều trong mỗi cậu học trò của thời mới lớn nhưng trong niềm quý trọng kính yêu.

Chúng tôi bắt đầu làm quen với nếp sống mới, những sinh họat ở trường, nó trở thành mạch sống cho những ai đã từng mài đũng quần trên ghế nơi các phòng học từ ba dãy nhà tranh-lá-ngói; dẫu bây giờ chỉ còn là kỷ niệm khó quên.

Bạn bè chúng tôi đủ mọi tầng lớp trong xã hội; này cô em con của vị Trưởng Ty Giáo dục, cô em có tấm lòng tốt con ông Trưởng Ngân Khố, cậu Ấm con Ông Quận Trưởng Tuy Phước... và những Tuấn chàng trai ngây ngô từ các thôn làng xa xôi qui tụ về đây dưới một mái nhà: Cô Trúc, cô Hiền, cô Mỹ, cô Hảo, cô Lê, cô Sương, cô Lan, cô Vân, cô Ngọc... Cậu Thanh, cậu Sơn, cậu Quảng, cậu Khanh, cậu Hiển, cậu Mỹ, cậu Xuân, cậu Tín, cậu Thi, cậu Kiện, cậu Dũng, cậu Ngà, cậu Ba, cậu Tổng, cậu Bức....Ngày xưa Trung Quốc có "tứ đại mỹ nhân" ngày nay Thất 1 Cường Đễ có "ngũ thiếu mỹ nhân" mà ở đây làm gì có người đẹp nào chỉ là 5 cô cậu học trò mang cùng một cái tên: Cai văn Mỹ, Đào văn Mỹ, Lê thị Ngọc Mỹ, Lê quang Mỹ và Trần khánh Mỹ.

Còn về Thầy Cô, ngoài cô Giáo sư Hướng Dẫn dạyViệt văn, còn có thầy Minh Tóan, thầy Tấn (Mai) Lý Hóa, thầy Tri Sử Địa, thầy Nghĩa Pháp văn, thầy Tùng Vạn vật, thầy Bích Công Dân, thầy Viễn Hôi Họa, thầy Minh-Ninh Âm nhạc, thầy Du Thể Dục, thầy Đỗ Linh Hán văn... Ngồi nghe thầy Linh dạy viết Hán tự chỉ cần nhớ các bộ chữ hay đếm đủ mấy quạch từ trái sang phải, từ trên xuống dưới là có điểm rồi. Vì là con cháu của thầy Đại hào, Cụ Tú Nhơn Ân nên môn học này lúc nào tôi cũng có điểm cao.

Theo nội quy của trường, nam sinh đầu tóc phải húi ngắn thật gọn nên có anh bạn "kỳ phùng địch thủ"nghịch ngợm, dùng mực quạch thêm mấy quạch lên đầu những người bạn ít tóc mà tôi cũng là một nạn nhân cho sự trêu chọc đó. Thời đi học còn mang mực bình, viết máy chứ không được xài nguyên tử, viết Bic. Lê kỳ Phùng, người bạn năm xưa đã vĩnh viễn ra đi trong cuộc chiến.

Cuối năm học, một buổi lễ phát thưởng long trọng. Những học sinh ưu tú ngoài những phần thưởng của trường, của Thầy Hiệu trưởng, Giáo sư Hướng Dẫn, và những vị ân nhân gởi tặng, rất nhiều bộ sách Giáo khoa, Tự điển dành cho những năm học sau này nhiều đến độ có người phải thuê cả chiếc xe lam chở về. Đó là niềm vui hãnh diện cho những học sinh miệt mài cùng Thầy cô làm việc suốt cả một niên học.

Âm vang của những ngày hè thời thơ ấu vẫn mãi mãi là cái gì đẹp nhất, vui nhất của tuổi học trò: "Chín mươi ngày nhảy nhót ở miền quê/ Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ" (Nghỉ hè).
Mùa hè đầu tiên từ khi lên tỉnh học, bây giờ lại có dịp về quê:

"Trong khoảng khắc sách bài là giấy cũ...
Nhớ làm chi – Thầy mẹ đợi, em trông
Trên đường làng huyết phượng nở đầy bông
Và vườn rộng nhiều trái cây ngon ngọt"
(Xuân Tâm).

Ba tháng hè đi qua, chúng tôi trở thành những học trò năm thứ hai, bậc Trung học. Bây giờ mình đã có đàn em, người anh áp út trong gia đình. Việc học tập cũng theo thời gian mà trưởng thành.

tháp bánh ít

Kỷ niệm về tuổi học trò rồi thì rất nhiều. Đáng ghi nhớ nhất của năm học nầy là việc một số vị thầy đang dạy bị động viên vào sĩ quan trừ bị Thủ Đức như thầy Đinh hữu Nghĩa, Đinh văn Hiền vv...Ngày lên đường trước khi từ giã học trò, thầy hứa sẽ quay về với mái trưòng thân yêu. Định mệnh khắc khe trong tai nạn nơi bãi tập thầy Nghĩa đã ra đi về nơi vĩnh hằng không kịp giã từ những gì thân thương nhất. Hình ảnh thầy Đinh hữu Nghĩa của những lần lên lớp, thầy thường leo lên thành cửa sổ mở toang ngồi lắng nghe học trò trả bài; mà người trả bài đầu tiên là cô học trò cưng mang tên Quỳnh Diêu. Giờ thì Thầy đã yên nghỉ, chúng em, những đứa học trò xin đốt nén hương lòng tưởng nhớ.

Nói về trường Cường Để chỉ có niềm tự hào mà không có điều hổ thẹn. Từ những sinh họat, đến những vui chơi giải trí tại các nơi danh lam thắng tích đều có những bước chân, những bàn tay đóng góp tích cực lớn lao của học trò Cường Đễ tạo nên sinh khí cho một Bình Định đáng yêu. Nét đẹp của một học sinh Cường Để, được mọi người biết đến qua tư cách con người và sự trân trọng nơi bộ đồng phục đẹp mắt: nữ áo dài trắng quần trắng, nam áo sơ mi trắng quần xanh nước biển, lúc nào cũng giày dép chỉnh tề. Người ta còn biết và phân biệt một cách chính xác học trò của trường nào vì trên ngực áo của học trò Cường Đễ luôn có sẵn bản tên: Trung Học Cường Để, chính giữa là lớp đang học: Đệ Thất *(1) đến Đệ Tứ ****(4) hoa thị màu xanh; Đệ Tam*(1) đến Đệ Nhất ***(3) hoa thị màu đỏ; cuối cùng là tên học sinh NGUYEN VAN A...Thường việc này nhờ các em gái nhất là những cô em Nữ Trung Học - Ngô Chi Lan hay Trinh Vương thân thương thêu tặng. Trung Học Cường Đễ, tiếng gọi thân quen của nhiều lứa tuổi, nhiều thế hệ cho những ai từng cắp sách tới trường ở Bình Định.

Được học ở Cường Đễ là niềm hảnh diện, bởi trường có nhiều học sinh giỏi, thi đậu tỷ lệ cao thường trong các kỳ thi Trung học hay Tú tài tỷ lệ cả nước trúng tuyển chừng 15% đến 20%, riêng học sinh Cường Đễ ít nhất phải đậu 50% , có khi 70 – 80%. Việc thi đậu không phải từ nơi các vị giáo sư dạy giỏi mà phần lớn do học sinh ganh đua học tập. Nói đến Trung học Cường Đễ là nói đến cái gì tốt đẹp nhất trên nhiều lãnh vực từ học tập, thể thao, văn nghệ.vv..

sư phạm Qui Nhơn

Trường Sư phạm Qui Nhơn, nơi đào tạo những Giáo viên chuyên nghiệp bậc Tiểu Học; những vị thầy tương lai của nhiều thế hệ. Trường qui tụ giáo sinh các tỉnh miền Trung từ Huế vào đến Phan Thiết, điều kiện thi có bằng Tú Tài I nhưng trên thực tế có anh chị đỗ Tú tài II hay một vài chứng chỉ đại hoc. Giáo sinh Sư Phạm đã tự cho mình là số một ở Qui Nhơn nhưng đối với học sinh Cường Đễ nói chung và Trung học Cường Đễ nói riêng họ cũng phải e dè, nể trọng, nhất là các vị anh cả Nhị, Nhất sắp ra trường với một đàn em giỏi giang với trên cả ngàn học sinh.

Bụt nhà không thiêng, thường thì các học sinh Đệ Nhất có chút năng khiếu xong Tú tài II hạng Ưu, Bình, họ không khi nào chịu bước vào ngồi hai năm Sư Phạm. Thành ra tỉ lệ thi tuyển của học sinh Bình Định vào Sư Phạm Qui Nhơn không cao nếu có yêu nghề dạy lắm thì ít nhất họ cũng bước vào Cao Đẳng hay Đại Học Sư Phạm Huế - Sàigon - Cần Thơ như các vị thầy khả kính mà họ đã từng ước mong.

Thời chiến tranh ngành giáo dục có những qui định ưu tiên, nhất là trong các đợt động viên, những thầy giáo tốt nghiệp Sư phạm ra dạy xa thành phố được hoãn việc đi lính, cũng như các cô giáo có chồng sĩ quan được ưu tiên chọn nhiệm sở; thành ra những năm sau này khỏang thập niên 1970, số thầy cô giáo ở Bình Định vào học Sư Phạm Qui Nhơn chiếm tỷ lệ cao. Nhờ thế thời kỳ sau chiến tranh, Bình Định đã có đội ngũ giáo viên chính qui tốt nhưng vì chính sách sử dụng nhân tài không hợp lý thành ra có chuyện não lòng ở Qui nhơn, chuyện xua đuổi thầy cô đã dạy mình xảy ra nơi trường Trung học Quang Trung (Cường Đễ cũ nay đã đổi tên).

Còn về "Nữ Trung Học" lúc đó được coi như em gái trong nhà "Cường Để em". Cơ sở khang trang nằm trên một vị trí đẹp sát bờ biển, trước kia vốn là trường tư thục Tân Bình. Trường này sau biến cố 1963 trở thành trường công lập Nữ Trung Học. Trường chỉ mới hoạt động được hơn một năm và hầu hết giáo sư và học sinh đều được chuyển từ trường Cường Để sang.

Mỗi học sinh của Cường Đễ theo thời gian cũng thấy mình lớn thêm, trình độ học tập cùng kiến thức rộng mở. Phải nói đây là thời kỳ vàng son của tuổi trẻ Viêt nam, nơi trường học thầy cô, bạn bè quý mến, thương yêu đùm bọc nhau dưới một mái nhà - Học Sinh là Tương Lai Tổ Quốc được đặt trước nơi Đại Giảng Đường.

Vào năm thứ ba, năm học cuối nơi Cường Đễ cũ thân yêu, phòng học bây giờ là dãy nhà lợp ngói sạch sẽ, nay đã là anh cả của khu vực một nầy, thường thì học trò càng lớn lại càng tinh nghịch. Tục ngữ có câu: "Nhất quỷ, nhì ma thứ ba mới đến học trò".

Kỷ niệm năm đệ Ngũ, anh bạn Hiền Thanh của chúng tôi nhưng chẳng hiền chút nào, thường trêu chọc, dùng những khoanh cao su điểm hoa lên mái tóc các cô bạn nữ cùng lớp. Cô giáo Võ Hồng Vân mới về Cường Đễ dạy, lại nhằm lớp chúng tôi, trong giờ giảng bài, cô vừa xoay người thì một sợi cao su chạm phải nơi ngực cô. Mặt cô đỏ bừng vì tức giận, một phần vì e thẹn bởi phản ứng của phái nữ. Hôm ấy cô phạt lớp chúng tôi đứng cả tiếng đồng hồ sau khi anh bạn Thanh đứng ra nhận lỗi bị cô đuổi ra khỏi lớp cho đến hết tiết học. Ngày hôm sau, lại anh bạn ThM. không biết bụng dạ thế nào trong giờ giảng bài lại lên xin phép cô ra ngòai bị cô từ chối đuổi xuống mấy lần, sau cùng không thể được đánh liều vừa lên thưa cô vừa tháo chạy ra ngòai, dù cô không cho phép nhưng em đã làm xấu mất rồi. Cả lớp được nghỉ học một ngày, bị nhà trường cảnh cáo. Lại một phen cười vỡ bụng. Từ đó anh bạn yêu quý của chúng tôi có thêm biệt danh ITQ cho đến suốt thời gian còn đi học. Giờ thì M. đã ra người thiên cổ, có cháu nội, cháu ngọai đàng hoàng.

cường để

Rời yêu thương nào đã thấy ai vui, trước khi giã từ mái trường thân yêu đã cho chúng tôi biết bao kỷ niệm về tình thầy trò, tình bè bạn trong đó lẫn chút tình yêu của thuở học trò:

..."Suối ngoan là cả cánh đồng,
Với Em là cả mùa xuân bây giờ.
Với Em là cả trời sao
Và bông bưởi trắng trâm ngào ngạt hương."

(Mộng Tây Thi - Suối Mở Tay Tiên)

-"Từng lá me bay vương gót hài.
Nhìn lá me bay kỷ niệm.
Vùng lá me bay năm tháng dài thương nhớ.
Ta xa nhau lúc hè về xác phượng buồn...
Đẹp tưa như lá me rơi khung trời xanh ước mơ...

(Trần quang Lộc)

-"Mưa chiều nước dột vai Em
Khoe cười mũm mĩm tay mềm dễ thương,
Quen Emm từ buổi lên trường...
...Nhớ ngày còn bước lang thang
Bây giờ tìm gặp có nàng trong ta."

(Có Em- SMTT)

và giã từ:

"Màu hoa phượng thắm. Tiếng ve nức nở. Đường xưa in bóng hai đứa nay đâu. Phút gần gũi nhau mất rồi...(Thanh Sơn)

Giã từ mái trường cũ tranh lá ngói bước lên ngôi trường mới kiến trúc theo kiểu tân thời đẹp đẽ khang trang. Dầu vẫn là Cường Đễ, của hai nơi trước khi sáp nhập lại làm một. Những ai đã từng có những ngày tháng rong chơi nơi mái trường cũ thân thương; chắc hẳn nó xao xuyến, bâng khuâng, đã từng nhặt hoa thấy buồn với bao kỷ niệm:

"Thuyền trôi về trọ mắt Em,
Suối ngoan đọng trũng bóng chim lạc lòai
Những ngày hoa mộng lên ngôi
Hương thơm hái được nụ cười còn nguyên
Tỏ tình bắt gặp dung nhan
Nguồn thơ khơi dậy cho nàng thơm tho"

(Những Ngày Hoa Mộng – SMTT)

Đất Qui nhơn, từng là nơi tụ hội của những bậc văn nhân, thi sĩ tài hoa, nhóm "tứ hữu bàn thành", còn gọi là nhóm thơ Bình Định phát sinh và tồn tại từ năm 1936 cho đến 1945 có thi sĩ Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Chế Lan Viên và Yến Lan. Ba trong bốn thi sĩ nói trên là cựu học sinh College Quinhơn, riêng chỉ có Nguyễn trọng Trí tức Hàn Mặc Tử làm đạc điền ở Qui nhơn.

bình định

Thi sĩ Hàn Mặc Tử quê Lệ Mỹ, Quảng Bình, đi học tại Huế, làm việc ở Qui nhơn. Tất cả bạn bè đều là người Bình Định. Những năm tật bệnh đất Quy Hòa đã cưu mang và nuôi dưỡng một thiên tài thi ca mà Ông đã phát tiết ở đây để trở thành một danh nhân lịch sử. Quách Tấn cùng Nguyễn bá Nhân, em ruột thi sĩ lúc còn làm việc chung ở Qui nhơn đã góp sức xây được phần mộ của thi sĩ vào năm1959 trên đồi cao Gành Ráng cạnh bãi tắm Hòang hậu gần lầu Bảo Đại nay gọi là Đồi Thi Nhân:

Bây giờ Hàn Mặc Tử nằm trên một điểm cao Gành Ráng đối diện với Bể Đông, bể sáng chói như thơ Anh, và giông bão tựa đời Anh." (Chế Lan Viên)

Năm 1958, Trung Học Cường Đễ mới được xây dựng và duy trì cho đến ngày hôm nay. Niên khóa 58-59, bắt đầu có lớp đệ tam, ban Trung Học Đệ Nhị cấp.

Niên khóa 59-60, lần đầu tiên trường có học sinh thi Tú Tài I.

Niên khóa 62-63, trường mở các lớp Đệ Nhất, và năm này lần đầu tiên có học sinh thi Tú Tài II. Tại Hội đồng Qui Nhơn.

Về ngôi trường mới, học sinh vào học bắt đầu từ đệ Tứ trở lên, đây mới là nửa chặng đường suốt 7 năm bậc Trung học. Chúng tôi phải làm thế nào để hòan tất con đường tương lai mà mình đã chọn. Thành phố Qui Nhơn đang đầy tràn sức sống.

Thời Nho học còn thịnh, đã biết bao nhiêu người thành đat mà cũng không ít bậc tài danh và con đường "hoạn lộ khoa bảng" cũng lắm chua cay, "xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều".

Thời Việt Nam lệ thuộc Pháp, việc học hành rất hạn chế, trong làng nhiều khi không có được một người lên tỉnh để học, chỉ có con nhà giàu, học trường Tây, chỉ đậu bằng Thành chung-Trung học là có thể thi ra làm quan ông Phán, ông Thông rồi.

Từ bậc Tiểu học, tôi vốn có chút năng khiếu về Tóan, nổi tiếng giải 600 bài tính mẫu nên việc học hành cảm thấy không vất vả cho lắm. Thường 3 tháng hè dành một tháng cho việc vui chơi giải trí, thời gian còn lại bỏ công nghiên cứu chương trình học năm tới về hai môn Tóan Lý Hóa; thành ra khi vào niên học bài vở cập nhật đã trở nên dễ dàng. Thời đó học Tóan, học trò có khi cất giữ 5, 6 bộ sách, dùng để tra cứu, tham khảo bài nào, phương pháp nào hay nhất, đơn giản nhất thì đem ra áp dụng, trên tinh thần tự học là chính thỉnh thỏang trao đổi với những bạn bè thân thiết.

"Phố buồn ngày nghỉ con chờ
Viếng nhà khuôn mặt dấu bờ ao thưa
Người thương âu yếm trời mưa
Bao giờ hội ngộ còn chưa bồi hồi
Dặn dò mấp máy trên môi
Tuổi già trống vắng thêm côi cút nhiều
Những ngày bỏ lại đìu hiu
Mang con thơ ấu trăm chiều đắng cay"

(Thăm Nhà – SMTT)

Vào mùa thi chúng tôi thuê nhà trọ gần những con phố, ban đêm rủ nhau ra hè đường đứng dưới những ngọn đèn khuếch đại mà ôn tập, nửa đêm bụng đói mò đến lò bánh mì mua những ổ bánh nóng hổi, vừa thổi vừa ăn thật thú vị. Ngòai việc học tập, còn mở những lớp dạy kèm tại nhà hay từng nhóm cho các học trò đệ thất lục của của các em Nữ trung Học hay Trinh Vương hầu kiếm thêm chút tiền đỡ bớt phần nào chi phí gia đình.

-"Đi vào lớp sáng hai giờ. Tay mời vách chắn suối đo vóc nàng.
...Cho Thầy dấu phấn mọc cằm. Mắt em hái được bản đàn ca vui.

(Vương Tân –SMTT)

-"Buổi chiều đến lớp trời mưa, Heo may trở dậy, gió lùa bên song
Chiếc hôn với mộng bình thường, Để em còn lại thiên đường trong anh
" (Thanh Tâm –SMTT)

Không có thời gian nào đẹp bằng tuổi học trò, dầu vất vả mà được cắp sách tới trường đó là niềm ước mơ bao đời dưới thời tuổi trẻ, thật quý giá trân trọng.

Kỳ thi Trung học năm đó, trong ngày niêm yết danh sách thí sinh dự thi, không biết số người trùng tên với mình đâu mà nhiều thế, nhìn quanh bạn Cường Đễ ta hơn quá bán rồi thành ra khi gặp nhau bạn nào cũng nhờ giúp đỡ nhất là hai người bên cạnh. Tôi bảo với họ, thời gian đầu giờ thi, bạn nào ít thuộc bài nên tìm những câu hỏi dễ làm trước, phần còn lại tôi cố gắng hòan tất sớm nhưng chưa nộp quyển như thể dành thời giờ xem lại có thể tìm cách giúp đỡ các bạn nhưng không được xem bản nháp hay mượn bài vì đó là kinh nghiệm sinh tử. Chuyện vui bên lề phòng thi, bạn TtN. là một học sinh giỏi, cùng trường, cùng ban nhưng khác lớp trong ngày thi Lý hóa môn Quang, anh ta làm rất nhanh khi đi ngang qua trao đổi kết quả, bạn khác mình nhưng chính đáp số này tôi thử từ trước nếu không đổi dấu; thì ra tôi chỉ cần nhắc khéo bạn xem lại dấu trừ. N. lập tức thấy mình nhầm lẫn chạy lên xin Giám thị phòng thi một tờ giấy khác làm lại tòan bộ; may mắn kịp giờ thành ra năm đó chúng tôi đều kết qủa tốt đậu Ưu Bình cả. Còn những bạn ngồi hai bên chúng tôi trong các kỳ thi nếu không quá kém, có học qua rồi tôi đều giúp đỡ kết quả tốt. Đây cũng chính là lúc chúng tôi kết thúc 4 năm học, miệt mài trên ghế nhà trường giờ có cơ hội thi thố tài năng, thi bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp. Khúc quanh không biết bao nhiêu học sinh thi hỏng phải rời trường.

-"Mùa trăng con suối ngọt ngào
Tay dâng tuổi nhỏ trời sao mắt đầy
Mớm bầu sữa mát mơ say
Ráng trời đông dậy lá bay xuống chiều
Bông hồng nở đóa tươi vui
Qua ngày tíếp nối nụ cười mùa xuân
Lên đường trắng điểm hoa râm
Lời ru vắng giọng võ vàn gót nai..."

(Dâng Mẹ - SMTT)

Những học sinh Cường Đễ có bằng Trung Học được tiếp tục lên Đệ Tam, năm đầu Đệ Nhị Cấp và có quyền chọn lựa Ban theo sở thích. Ban A Vạn Vật, Ban B Tóan, Ban C Văn chương, Ban D Cổ ngữ Hán văn. Thời gian đầu chỉ có hai ban: A và B, còn những ban khác không đủ túc số học sinh vào học.

Suốt 7 năm bậc trung học, đệ Tam thường được mệnh danh là năm dưỡng lão nhưng làm sao dưỡng được trong khi bên ngòai những biến động liên tục xảy ra ở cho thành phố này.

Một cơn lốc chính trị đã thổi qua. Cơn lốc xuất phát từ nơi Cố Đô Huế trong mùa Phật Đản tháng 8/1963, nó lan nhanh đến tận Thủ đô Sàigòn miền Nam sau cùng kết thúc với trận bão 1/11/1963 lật đổ chế độ Việt Nam Cộng Hòa Ngô đình Diệm với sự giúp sức các thế lực bên ngòai. Cục diện chính trị miền Nam thay đổi liên miên với hàng loạt các cuộc chỉnh lý: 30/1/64 của tướng Nguyễn Khánh, biểu dương lực lượng 13/9/64 của tướng Dương văn Đức, Lâm văn Phát, rồi chính biến 19/2/65 của Phạm ngọc Thảo, Lâm văn Phát. Năm 1966, Tướng Nguyễn Văn Thiệu chủ tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia, Tướng Nguyễn Cao Kỳ Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương; Phật Giáo miền Trung xuống đường chống các tướng lãnh cầm đầu chính phủ Sài Gòn và yêu cầu phải tiến hành bầu cử Quốc Hội Lập Hiến. Tại Ðà Nẵng, một số đơn vị quân đội ly khai theo Phật Giáo. Chính phủ Sài Gòn điều động quân đội và cảnh sát ra Ðà Nẵng "dẹp loạn".

Sự yên bình đã không còn nữa tại ở miền Nam Việt Nam.

Đời sống của người dân Bình định đã bắt đầu âu lo với những nỗi bất an vô định, rồi chiến tranh bộc phát, những thế lực ngọai nhập dần dần đã cuốn hút vào trong một quỹ đạo như cơn lốc xóay không còn cưỡng được.

Trước nhất bão từ Huế thổi vào, khởi đầu là Phong Trào Nhân Dân Cứu Quốc của Bác sĩ. Lê khắc Quyến thành lập trong sinh viên Đại học Huế và cho lưu hành tờ báo Lập Trường nhằm chống lại chính quyền Nguyễn Khánh sau cuộc chỉnh lý tướng Dương văn Minh 30/1/1964. Phong trào lan nhanh qua các tỉnh miền Trung. Ở Qui nhơn một buổi mítting tại Ty Thông Tin đường Võ Tánh trình diện hai nhân vật quan trọng đảng Cần lao của chế độ Ngô đình Diệm cùng ra mắt Phong Trào Nhân Dân Cứu Quốc tại Qui nhơn Bình Định do Bác sĩ Lê khắc Nhu làm chủ tịch, Học sinh Nguyễn Tổng, lớp Đệ Tam B1 Cường Đễ làm Tổng Thư Ký, Bác sĩ Võ tư Nhượng làm Cố vấn. Phong trào bột phát với số người tham gia biểu tình đa phần là thanh niên vùng biển Khu 2, họ sục sạo trên khắp các con phố; nơi nào họ muốn trả thù chỉ cần hô to hai tiếng "cần lao" là tức khắc từ 15 đến 20 phút sau nơi đó biến thành bình địa, còn con người bị phát hiện thì phải một trận đòn chí mạng phải đưa vào nhà thương cấp cứu. Từ vòng ngòai cầu Đôi, dân các huyện đổ xô tràn vào thành phố, cơm dỡ, áo chiếu mang theo hầu lưu lại dài ngày gây nên cảnh hỗn loạn nguy cơ một cuộc cướp chính quyền đang xảy ra.

Tại Trung học Cường Đễ, Phong Trào NDCQ. yêu sách đòi thầy Hiệu trưởng Tôn thất Ngạc từ chức, mưu toan chiếm cơ sở này làm nơi đấu tranh. Trong trường, các đàn anh lớp Tam, Nhị, Nhất thành lập Ban Bảo Vệ chống lại phong trào này. Cuộc xung đột đã xảy ra ngay trong khuôn viên trường; may mắn không có sự đáng tiếc nào xảy ra. Lực lượng Cảnh Sát được lệnh đến can thiệp kịp thời.

Tòan tỉnh Bình Định và thị xã Qui nhơn thiết quân luật 24/24. Suốt thời gian biến cố, tất cả các trường Trung tiểu học đều bị đóng cửa. Sau khi chính quyền bắt giữ một số nhân vật quan trọng của Phong trào, Nguyễn Tổng nhân tố chính đã trốn thóat được vào Sàigon xuống tóc đi tu tại Phú lâm, có vào học Đại học Vạn Hạnh. Sau năm 1975, Nguyễn Tổng trở về Qui nhơn nắm giữ Hiệu trưởng trong thời gian ngắn trường Trung Học Quang Trung- Cường Đễ nay đã đổi tên.

Năm 1964, thầy Tôn thất Ngạc trở về Nha Thanh Tra Bộ Giáo dục. Thầy Giám học Trương Ân làm Hiệu trưởng, thầy Nguyễn mộng Giác làm Giám học. Trường Cường Đễ được trả lại sự an bình theo đúng thiên chức giáo dục cho những người vì tương lai đất nước dưới sự lèo lái của vị Hiệu trưởng đáng yêu.

Thầy Hà thúc Hoan dạy mônViệt năm Đệ tam, phần ca dao tuc ngữ trong văn chương Việt nam có bài U Hòai. Với gọng Huế thật nhỏ nhẹ, thầy diễn đạt tư tưởng qua nội dung mà chúng tôi không thể nào quên được:

"Đêm đêm ra đứng bờ ao/ Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ
Đêm đêm tưởng giải ngân hà/Chuôi sao Tinh Đẩu đã ba năm tròn

Sự trông chờ của người thiếu phụ bằng điệp ngữ "đêm đêm" và nỗi lòng biết tỏ cùng ai:

-Buồn trông con nhện giăng tơ. Buồn trông chênh chếch sao Mai.

... Sau cùng chỉ có tấm lòng:

Đá mòn nhưng dạ chửa mòn.Tào Khê nước chảy vẫn còn trơ trơ"

Cùng những đứa học trò còn nhớ đến thầy, mong Thầy sức khoẻ.

qui nhơn

Hồi còn sinh họat trong nhóm thơ Việt Nam, cùng các bạn Đan Nhân Nguyễn văn Kiện, Hàn Lệ Trinh Phan ngọc Lâm, Mặc Huyền Linh Nguyễn Kim Ba, Sông Thao Lê Quang Mỹ, Thương Thương Lê Thanh Chương cũng một thời để nhớ: SUỐI MỎ TAY TIÊN * LỤC BÁT CỦA LÊ QUANG MỸ *SAU BA TẬP THƠ: *ẤU THƠ* NHẬN DIỆN* TUỔI HỌC TRÒ* CHO CÁC HỌC TRÒ BÉ NHỎ VÀ NHỮNG TIÊN NỮ GIÁNG TRẦN *QUINHƠN* DALAT*SAIGON* ĐAN NHÂN * MẶC HUYẾN LINH * HÀN LỆ TRINH* TRONG NHÓM THƠ VIỆT NAM 65-67. Với lời khai từ: Hoa thơn ngát cả một trời Để còn tiếng hát một đời yêu thương Ngôn từ tiếp nối Quê hương Ta còn thắp đuốc lên đường sớm mai.

Tiềp theo Biến động miền Trung 1966, không phải chỉ xảy ra tại Huế mà nó kéo theo các tỉnh lân cận. Riêng tại Qui nhơn phong trào đấu tranh cũng không kém phần sôi động bởi tinh thần tuổi trẻ lúc nào cũng muốn đòi hỏi lẽ phải và công bằng. Qui nhơn lại là nơi tiếp nhận lực lượng ngọai nhập vào tham chiến tại Viêt Nam có số lượng lớn như: Sư đòan Không Kỵ Hoa kỳ, Sư Đòan Mãnh Hổ, Lữ Đòan Thanh Long Đại Hàn ...và nhiều đơn vị khác cập bến Qui Nhơn trước khi phối trí đến những nơi khác.

cường để

Trong từng lớp học, một số thầy cô tuồi trẻ vừa tốt nghiệp ra trường về dạy học mà học trò số tuổi cách khỏang thầy không xa, tình như anh em nhiều lúc thầy trò bỏ ra hàng giờ ngồi nói chuyện về thời thế, chính trị. Đặc biệt là các lớp Nhị, Nhất, giờ Việt văn thầy Trần quang Long mớm ý cho chúng tôi về con đường tương lai cho tuổi trẻ Việt Nam. Chúng tôi hiểu thầy qua lăng kính xã hội hiện tại. Thầy đã cùng anh em tranh đấu trong buổi míttinh tại khuôn viên trường Cường Đễ cũ ủng hộ Phật giáo đưa bàn thờ xuống đường, tổ chức xuất phát từ chùa Long khánh của thầy Thích Tâm Hòan. Cuộc mitting biến thành đêm đấu tranh không ngủ và đự định chiếm cơ sở nầy hầu phát động chiến dịch lâu dài. Chính quyền Bình Định qua kinh nghiệmdạn dày, ra lệnh giải tán trước 12giờ đêm, lực lương đấu tranh không chấp hành. Lực lượng Cảnh sát Dã chiến dùng lựu đạn cay trấn áp triệt để. Tiếng khóc than của trẻ em, phụ nữ lẫn trong đám khói cay mù đặc. Phần lớn đều bị bắt giữ đưa về Ty cảnh sát thẩm vấn, một số nhảy rào chạy tẩu thóat được. Cuộc bạo lọan hòan tòan bị dập tắt.

Thầy Lê Phước Cương dạy Tóan, thầy là em thầy Á dạy Bồ đề. Thầy dạy về elipe hình học rất giỏi, học tóan thầy hoc sinh rầt thích thú tìm tòi giải những bài tóan khó. Tuy nhiên thầy cũng rất ưu tư về thời thế. Thầy cho rằng bọn man di Nam Triều Tiên rất dã man đối với đồng bào ta, chúng chỉ là tay sai bọn Mỹ... Năm sau thầy Cương về Huế nghe ra dạy ở Do Linh. Còn thầy Long, tết Mậu thân thóat ly ra bưng sau đó đã hy sinh.

Thời bây giờ việc học hành thi cử quả là khó khăn. Công lao cha mẹ cho cơm ăn, cơm dỡ từ những tháng năm dài chờ đợi chả lẽ đi không lại trở về không. Người nào có lý tưởng thì không nói, còn lại thực tế khó khăn của từng gia đình trong thời chiến tranh.

Dầu có nhiều biến động, ngòai những sinh họat tham gia cần thiết, con đường tương lai còn lại là học hành thi cử; đó là mục tiêu hàng đầu. Có nhiều bạn vì chán học hay suy nghĩ nông cạn rủ rê, đăng ký quân đội vào các ngành chuyên môn như Quân Nhu, Quân Cụ với mảnh bằng Trung Học thay vì cố gằng ôn tập cho kỳ thi Tú tài I sắp tới nếu tốt nghiệp sẽ không còn viễn ảnh:

"Rớt Tú Tài anh đi Trung sĩ - Em ở nhà lấy Mỹ nuôi con"

Rất may mắn chương trình giáo dục tại miền Nam vẫn duy trì liên
tục dù có nhiều biến động, việc đào tạo nhân tài vẫn là ưu tiên hàng đầu. Các kỳ thi tốt nghiệp Trung học, Tú tài, Đại học vẫn không bị gián đọan dầu nhu cầu xử dụng nhân lực tham gia vào đạo quân thời chiến rất cần thiết. Chiến tranh nó đã cướp đi biết bao tinh hoa của đất nước.

tú tài

Sau cuộc dẹp lọan tại miền Trung, tinh hình chính trị củng cố tương đối ồn định. Kỳ thi Tú Tài I tháng 6/1966 tổ chức tại Qui nhơn không có sự xáo trộn nào kết quả tốt đẹp. Tỷ lệ thi đậu tại hội đồng Qui nhơn khá cao, học sinh Cường Đễ 60% thi đậu. Về tổ chức, Nha khảo thí Trung nguyên Trung phần qui định: các kỳ thi Trung Học, Tú Tài I và II, mỗi Tỉnh thành lập một Hội đồng thi. Tất cả bài thi được chuyển vê những trung tâm lớn như Hội Đồng, Huế, Nha trang, Dalat.

Khóa thi 1967, thầy Lưu quang Sang giáo sư Pháp văn chấm thi tại hội đồng Nha trang. Thầy trở về Qui nhơn sớm nên chưa có kết quả. Trong một buổi thăm viếng, hàn huyên thầy có đề cập tới anh bạn Nguyễn văn Thi NK.60-67, anh là một học sinh giỏi vì quá ham học nên bị lọan trí phải ở nhà tịnh dưỡng gần cả năm, sau đó anh đi học lại, trong khi thầy cũng không còn dạy anh. Thầy cho biết môn Pháp văn khi chấm xong ráp bài thầy bắt gặp một người mang tên Nguyễn Thi, thầy nghĩ có thể đây là học trò cũ của mình, vì tật bệnh ghi sót chữ lót chăng? Thầy nhớ rất rõ anh ta là Nguyễn văn Thi mà. Thầy cho thêm điểm mong anh ta đậu kẻo tội nghiệp. Thì ra năm đó Cường Đễ có anh Nguyễn Thị NK59-66 và anh Nguyễn văn Thi NK60-67 cùng thi, hai anh đều đậu cả. Anh Thi là giáo viên Sư phạm Qui nhơn có thể đã nghỉ hưu rồi.

Qua câu chuyện kể trên chúng ta thấy được tấm lòng bao dung của thầy Sang đối với học trò, còn chúng ta một lòng yêu mến thầy cô mãi mãi là tấm gương sáng cho bao đời: "nhất tự vi sư, bán tự vi sư" (một chữ cũng thầy, nửa chữ cũng thầy). Xưa nay, tình nghĩa thầy trò lúc nào cũng cao đẹp muôn đời như tấm gương sáng.

-"Mùa trăng con suối ngọt ngào
Tay dâng tuổi nhỏ trời sao mắt đầy
Mớm bầu sữa mát mơ say
Ráng trời đông dậy lá bay xuống chiều
Bông hồng nở đóa tươi vui
Qua ngày tíếp nối nụ cười mùa xuân
Lên đường trắng điểm hoa râm
Lời ru vắng giọng võ vàn gót nai..."

(Dâng Mẹ - SMTT)

tuy phước

Nói đến Danh nhân Bình Định, thì không thể nào không nhắc đến Cụ Tú Nhơn Ân – Nguyễn Diêu. Bởi lẽ Đào Tấn, Hậu Tổ của ngành Hát Tuồng (Hát Bộ) Bình Định là học trò ưu của thầy Nguyễn Diêu. Ông chịu ảnh hưởng của Nguyễn Diêu về nhiều mặt, cả về đạo đức, học vấn lẫn nghề nghiệp. Suốt cuộc đời mình Đào Tấn luôn nhớ đến công ơn thầy, làm nhiều thơ văn nói về người thầy kính yêu của mình. Tình thầy trò giữa Đào Tấn và cụ Tú Diêu, người ta nhắc đến giai thoại sửa tuồng "Ngũ Hổ Bình Tây".

Nhằm tỏ lòng tôn kính thầy, cụ Ðào Tấn phải đem lễ vật đến cúng trước bàn thờ của thầy và xin phép được sửa đoạn từ Công Chúa Thoại Ba đưa Ðịch Thanh lên đường bởi Thầy vì muốn gởi gắm tâm sự nên lúc chia tay đã quên mở cửa ải. Vở tuồng trên gồm 3 hồi. Hồi 2 là hồi xuất sắc nhất, được rút ra thành một vở độc lập, tên là Địch Thanh ly Thợn. Theo Quách Tấn: "Hồi Địch Thanh ly Thợn là hồi mà Nguyễn Diêu ký thác tâm sự của mình nhiều nhất. Bao nhiêu nỗi đau thương cụ đều gởi gắm trong hồi này. Cụ vì hiếu mà phải phụ tình khiến cho người yêu phải quyên sinh. Cụ mượn lời Trại Ba trách mắng Địch Thanh để thay lời người yêu trách mắng mình; mượn lời than thở của công chúa để thể hiện nỗi đau đớn cực độ của người yêu mà cụ thông cảm và chung phần".

Vào những năm thuộc thập kỷ 1960, muốn được gọi là Ông Tú; người học trò phải trải qua một kỳ thi Tú Tài, kỳ sát hạch nầy chia làm hai giai đọan: thi viết và thi vấn đáp ngọai ngữ.

-Thi viết những môn chính theo qui định của Ban mình đã chọn, ví như Ban B Pháp văn, phải thi các môn Tóan hệ số 5, Lý Hóa 4, Văn chương, Triết học 2, Pháp văn 2, Anh văn 1. Điểm chấm đậu phần viết là 140/280 (gồm 14 hệ số), điểm cho trên 20

-Thi vấn đáp ngọai ngữ chính: Về văn chương Pháp, giám khảo đưa cho thí sinh đọc một đọan văn thơ của các văn thi sĩ Pháp, dịch hoặc trả lời những câu hỏi của giám khảo bằng ngọai ngữ. Số điểm chấm đậu10/20. Về xếp hạng thấp nhất là hạng Thứ (10 điểm), Bình Thứ (12đ), Bình (14đ), Ưu (16đ) và cao nhất là Tối Ưu (18đ). Kết quả chấm đậu, hai phần độc lập không cộng chung điểm lấy trung bình. Thành ra có nhửng người đậu phần viết khi vào vấn đáp luôn trượt vỏ chuối thì không bao giờ trở thành ông Tú cả thế mới cay!! Thời VNCH, giai đọan thi IBM (nôm na là ABC khoanh), có gia đình ở Dalạt hai anh em thi Tú Tài II đậu hạng Tối Ưu được phần thưởng của Tổng Thống.
Nghe kể chuyện thi cử chỉ mới nứa thế kỷ thôi sao mà nó nhiêu khê quá. Lai còn có thêm bảng vàng thi đậu, bảng đen ghi những thí sinh bị cấm thi, thời gan nhiều hay ít tùy mức độ phạm lỗi nặng nhẹ, nếu quá nặng có thể cấm 2 hoặc 3 năm.

Thế là đã bước qua chặng đường thứ nhất 7 năm Trung Học tiếp tục con đường dài phía trước trong thời buổi đất nước chiến tranh với bao nỗi đắng cay mà giờ đây hơn nử thế kỷ trôi qua:

"Con trai đếm tuổi trên đầu
Bỏ ngày đốt đuốt tìm sao hỏi lòng
Cây về nhân chứng mùa đông
Mái đầu tóc sữa những lòng yêu thương
Hoa còn nở dại trên nguồn
Giữ tròn tiếp nối lên đường sớm mai. "

(Lên Đường – SMTT)

Xin góp với anh em có một thời để nhớ; tình nghĩa sư phụ, đệ huynh. Thời quân vương thì sư, người dạy dỗ, được xếp trên bậc sinh thành là cha mẹ kia mà. Ngày nay, với hậu duệ của chúng ta mong rằng chúng nhớ ơn những người mà mình từng mang ơn như những vị thầy đã mở trí của chúng ta.


Trọng Xuân 2010
Lê Quang Mỹ - NK 60-67

    

Thêm bình luận


Đăng Nhập / Đăng Xuất