Buổi sáng ở đây thật yên tĩnh, không một tiếng xe, tiếng người chỉ có tiếng của lũ chim két đang tranh dành mật ngọt trên rùng cây bạch đàn đang nở hoa đỏ rực và tiếng chim blackbird hót sớm như hối thúc tôi thức dậy cho một ngày mới.


Toàn cảnh Merimbula

Ngày hôm qua cả nhà lại lang thang trên con đường số 1 để trở lại chốn này. Merimbula, một thành phố biển nhỏ cách nhà tôi hơn bảy giờ lái xe. Xa vậy nhưng nó có một mãnh lực thu hút kéo gọi tôi về đây hàng năm. Về đây tôi không có cảm giác của một người du lịch mà là cái nôn nức của một người đi làm xa trở về xóm cũ.

Phố biển Merimbula dân cư thưa thớt chỉ vài ngàn người sống rãi rác trong những căn nhà nhỏ kiến trúc thẩm mỹ tươi sáng của vùng nắng trong gió ấm dọc quanh bờ hồ. Thỉnh thỏang cũng có vài xóm nhà chìm trong rừng cây trên đồi nhìn ra biển lớn. Biển Sapphire Coast quanh năm rực rỡ mầu ngọc bích trải rộng rất xa tầm mắt khi xe vượt lên đỉnh đồi lượn theo những đường quanh co vào phố.

Sông nước mênh mông, đồi núi chập chùng. Những dòng nước trong vắt chảy từ đỉnh cao đổ về hồ lớn, quanh co bọc kín phố nhỏ, trước khi đổ ra biển ngọc. Người thổ dân chủ nhân cũ gọi vùng đất nầy là Merimbula, là hai dòng nước. Thỉnh thỏang tôi cũng gọi phố biển này là phố Giao thủy. Hai dòng nước hội tụ, một dòng là nét quyến rũ của vùng đất đơn sơ và dòng kia là cảm tình của tôi, một người đến từ ngàn dặm.

Từ cửa sổ nhìn ra hồ, bình minh đang lên, ánh sáng đổi mầu thật chậm, chậm đến nổi tôi có cảm tưởng mặt trời cũng ngái ngũ như dân phố nầy. Gần hết ly cà phê mà phía biển chỉ ửng hồng trong nền trời mầu lam thẩm và mặt trời vẫn còn đâu đó đằng sau cánh rừng thưa.

***

Như thường lệ, trước mỗi chuyến đi tôi dậy thật sớm lúc cả nhà còn say ngủ, lục đục bắt nồi cơm nóng. Ở xứ người đã bao nhiêu năm rồi nhưng tôi vẫn còn giữ cái thói quen cũ của người nhà quê là chuẩn bị cơm vắt, muối mè bỏ vào trong cái ba lô vải. Đôi khi tôi bật cười khi nhìn thấy trên TV một ông Tây già quảng cáo travelers cheques American Express nhìn thẳng vào màn ảnh và nhắc nhở "Don't leave home without them".

Một ngày nào đó, biết đâu chừng, món cơm vắt của quê tôi cũng nổi tiếng, thiên hạ bắt đầu đếm từng calories cho những phần ăn và hiểu giá trị của những nắm cơm vắt. Lúc đó tôi sẽ là một ông già mới với bịch cơm vắt muối mè trên tay và sẽ có người réo gọi "Mr Wong...Mr Wong...What kinds were they?" Cơm Vắt Express, hành trang cần thiết trên đường ngao du!

Trời vẫn còn tối, tiếng Đôn lè nhè trong mền ấm "...còn sớm quá", tôi an ủi "đi cho kịp con nước!" ...đem mền ra xe ngũ tiếp...đi cho kịp con nước! câu đó nó nghe hòai, nghe từ lúc chưa đầy một tuổi, trên vai tôi đi câu ngòai biển.

Nước lên, nước ròng đều đặn ngày hai buổi. Ngày xưa người ta đi cho kịp con nước để khỏi phải vất vả ngược chèo trên những chuyến đò dọc. Ngày nay cha con tôi cũng hối hả cho kịp dòng triều lên trong thú vui câu cá.

Xe rẽ vào xa lộ, ngược đường vào phố nên đường thưa thớt trái hẳn với chiều bên kia những dòng xe dầy đặc phủ kín mặt đường, chen lấn nhau với những tiếng còi giận dữ. Thỏai mái một mình trên đường ngược, ngày hôm qua tôi cũng ở trong đám đó. Bon chen giành dựt xe trước xe sau, xe ngang xe dọc...lấm lét với những máy hình chụp tốc độ che dấu dưới những thành cầu, bụi cây, hồi hộp nhìn những xe cảnh sát công lộ ngụy trang đâu đó, giật mình với ánh đèn chớp sáng, vội vàng những cú điện thọai cáo lổi cho những phiên họp lở hẹn.

Một ngày trong phố lớn tương tự như một bửa tiệc nhà hàng. Những món ăn chơi trên xa lộ chỉ là món khai vị cho những món chính đậm đà hơn trong ngày. Cuộc hỉ nộ trên xa lộ khi vào sở được thăng hoa với nhịp độ cao hơn.

Bắt đầu khi tiếng chìa khóa điện tử "bíp" ở cổng vào với hàng chữ đậm nét "Good morning, Binh". Chiếc máy vô tư ngày hai buổi chào đón. Đàng sau lưng nó, cánh cửa dầy mầu xanh xám là cái cỏi Ta bà hối hả trong phiên chợ công danh. Chẳng có ai đủ thì giờ để chào hỏi ai dù là một câu hờ hững như cái khóa cửa ngòai kia. Giấc mộng công hầu khanh tướng vụt đến vụt đi trong biển đời hun hút.

Xe đã ra khỏi phố, ngọai ô vẫn còn chìm trong sương sớm, xa xa vài căn nhà nhỏ trên những đồi cỏ xanh rì một biểu trưng cho miền nam nước Úc. Xe đến Moe thì trời sáng hẳn. Dừng tạm vài phút ven đường uống vội ly cà phê mang theo. Dọc đường lộ người ta làm nhiều chổ cho xe tấp vào xả hơi. Chổ dừng chân nhỏ, thỉnh thỏang được làm trên đất cao với tầm nhìn rộng tỏa quanh. Xa xa là đồi dốc với thảo nguyên bát ngát, những đàn cừu mới được cắt len nhẳn nhụi như một đám trẻ quê được cắt tóc vụng về trong những ngày tết. Những đàn bò lơ đãng gặm cỏ từ lúc trời còn tờ mờ sáng.

Moe là thị trấn đầu trong thung lũng Latrobe. Đây là một mỏ than đá rộng lớn nhất nước Úc. Mỏ than lộ thiên được đào cạn rồi lại lấp đi để dành cho ngày sau.

Thung lũng Latrobe là vùng nữa quê nữa tỉnh, nhà máy nhiệt điện cung cấp cho tòan thành phố Melbourne nhưng hơn phân nữa dân sống nhờ những đồng cỏ xanh. Chăn nuôi bò cừu là sở trường của những người di dân đợt trước. Họ đến đây khai phá rừng hoang, cậy bỏ từng gốc cây viên đá biến đất rừng thành những tấm thảm mầu xanh. Hạt cỏ được mang theo trong những hành trình vượt biển dài. Những chuyến đi không hẹn ngày về của những chàng trai lang bạt giang hồ từ giả ánh đèn Âu châu. Họ đến bằng nhiều lối, có người đến với thân phận tù khổ sai biệt xứ, có người theo tiếng gọi giang hồ phiêu lưu đến miền đất lạ. Cũng có người mang một ít vốn liếng dành dùm từ trời Âu, đến đây trong giấc mộng địa chủ với lâu đài uy nguy trên đồi cao. Lối xưa xe ngựa rộn ràng, bây giờ chỉ là cái bóng ngã trên đồi vắng.

Cũng như những nước khác, đường số 1 ở đây cũng là con đường cũ nhất, phá rừng xẻ núi bằng mồ hôi sức người với những dụng cụ thô sơ. Đường chạy dọc ven biển nối liền những làng định cư khi người Âu châu chập chững đổ bộ lên cái lục địa ngàn trùng này.

Con đường dài ra theo năm tháng và bây giờ nó chạy bọc quanh nước Úc, nhiều chặng với nhiều tên gọi khác nhau. Đường số 1 Princes Highway nối liền hai thành phố lớn nhất Melbourne – Sydney, có lẽ đó là chặng đường băng qua những thảo nguyên xanh mướt nhất của xứ lạnh miền nam.

Phố biển Merimbula và thung lũng Bega là thị trấn giửa đàng. Lên cao, vượt khỏi Sydney, đường số 1 có tên khác khi nó trườn mình vào những khu rừng già, những dẫy núi ăn liền ra biển san hô nhiệt đới. Đường băng qua những cánh đồng mía rạp mình trong gió biển, đường số 1 còn dài lắm. Càng lên hướng bắc, nó càng phủ lên người những hình ảnh nhiệt đới với những hàng phượng đỏ rũ bóng ven sông, những ngọn dừa vươn mình trên những động cát vắng...

Xe vẫn tiếp tục, từ Bairnsdale trở lên, trong gió bắt đầu mang theo nhiều mùi rong biển. Lakes Entrance hiện ra rực rỡ như một hoa biển trong mầu nắng nhạt. Thành phố của những sông hồ hội tụ trước khi đổ vào đại dương, đa hồ độc khẩu – lakes entrance.

Đường chạy giửa miền duyên hải, một bên là biển bên kia là những dãy núi cao mùa đông tuyết phủ. Dảy trường sơn Great Dividing Range hơn hai ngàn dặm, chạy dài xuống tận cực nam lục địa, xẻ vùng nầy thành trường sơn đông, trường sơn tây. Bên sườn đông nhìn ra biển, ẩm ướt mưa nhiều, rừng dầy với những cây cổ thụ cao ngất phủ kín những dòng sông.

Vùng nầy là đề tài của nhiều cuốn tiểu thuyết với những cuộc tình lãng mạn của những ngày đầu lập quốc, những highland chập chùng và những giòng sông trôi mãi. Trên kia là núi với những đỉnh cao tuyết phủ, vùng cao với những hình ảnh hòanh tráng của những chàng trai khóac chiếc áo mưa mầu nâu sậm, đầu đội nón da phi ngựa nước đại trên triền núi. Hình ảnh đậm nét hơn khi họ lùa đàn bò ngàn con qua những cao nguyên in hình đen thẩm trên nền trời chiều rạng nắng. Những tiếng roi da rít trong gió hối hả thúc dục đàn bò băng qua những khe suối, những rừng snowgum ngút ngàn ngát mùi hương khuynh diệp.
Họ không giống như những cao bồi xứ Mỹ, những horseman này sống trên lưng ngựa ngang tàng khí phách vẫy vùng trên miền đất cao.

Lúc nào cũng vậy, vừa dừng xe ở Lakes Entrance là Đôn đã vội vã xăn ống quần lội xuống nước kiếm mồi câu cá. Trong hồ có rất nhiều cá hanh sống ở vùng nước xà hai, giửa hai dòng mặn ngọt, độ mặn trong nước thay đổi từng khúc sông và theo từng ngày mưa nắng.


Lakes Entrance

Khi mưa, nước ngọt trên nguồn chảy xuống, đẩy dòng nước mặn ra gần biển và ngược lại khi dòng triều cường lên đưa nước mặn vào sâu. Đàn cá hanh cũng trôi nổi theo con nước đó.

Mồi câu cá hanh thường là trùn biển hoặc Bass yabbie. Cả hai đều sống sâu dưới cát ven những đầm nước. Người đi câu phải dùng cái bơm tương tự như ống bơm xe xích lô, ống xi lanh bằng thép inox, cuối ống thụt là những vành cao su hút mồi lên lẫn theo trong cát nước. Đợi đến lúc nước ròng, mặt nước trong đầm xuống thấp dưới lòng bàn chân, người đi câu dùng ống bơm hút mồi từ nhửng lổ nhỏ bằng lóng tay út lấm tấm trên mặt đất ẩm.

Bass yabbie có hình thù như những con tôm đất nhưng vỏ rất mềm, tòan thân mầu hồng với hai càng lớn nhỏ không đều. Trùn biển mầu đỏ như máu nhiều chân, dài hơn một gang tay nhưng thân rất mềm mong manh dể đứt. Cá hanh ở những vùng nước ấm hơn ăn mồi rất tạp nhưng ở đây nó chỉ chuộng có thế.

Trong hồ nầy còn có lọai cá hanh đen, cơ hồ như đang theo trào lưu ẩm thực mới kiêng ăn cữ uống. Cá mầu đen đậm và hình dáng có khác cá hanh một chút ít. Cá nầy dù to hơn bàn tay người lớn cũng chỉ thích ăn rong biển. Người đi câu phải dùng rong biển lọai mềm, dài như tơ hoặc lọai rong biển tai mèo nori xoen vào lưởi câu.

Để bảo vệ nguồn cá, ở đây người ta cho phép người đi câu có quyền "đi không rồi trở về không" như tôi vẫn làm trong nhiều năm nay. Nhưng những ngày đựợc mùa thì số cá câu trong ngày có giới hạn. Cá hanh phải đủ lớn, tính từ đầu đến đuôi chiều dài nhất định và được đo khi con cá nằm trên thớt gổ trong tư thế thỏai mái nhất.

Ở vùng nước nầy, cá hanh dài tới mức ấn định là đã sống được bảy niên kỷ nhìn bèo giạt rong trôi, đã một lần nhấm nháp trái đắng của hương vị tình yêu và đàn cá con đầu tiên đã theo con nước ra biển lớn.

Cuộc hành trình lại tiếp tục khi bà xã đã xong một vòng dạo "đi dăm phút đã về chốn cũ", phố nhỏ nhưng không phải phố núi cao!

Từ đây trở đi đường hẹp và ngoằn nghèo hơn. Đường xuyên qua những khu rừng nguyên sinh rậm rạp, tàng cây lớn hai bên đường hẹp chòm thành vòng cung che khuất khỏang trời xanh. Trạm tiếp là Orbost cửa ngỏ vào Snowy mountains, phố nhỏ sống bằng nghề cưa cây xẻ gổ. Hơn hai chục năm nay phố càng vắng hơn khi nghề rừng không còn được ưa chuộng. Dòng sông chính chảy ra đầm Marlo không còn hung hãn như ngày nào. Chương trình thủy điện trên cao đã giết một dòng sông thơ mộng và khép lại những mảnh đời của những người dân phố núi.

Cann River là cái huyện lỵ biên giới giữa hai tiểu bang. Nó nằm xa ánh mặt trời của cả đôi bên nên chẳng ai buồn chăm sóc. Hàng quán lưa thưa vài ba tiệm và một cây xăng nhỏ thiếu người chăm sóc. Hộp điện thọai công cộng ngày nào nay vẫn còn đó, cũ kỹ trầy trụa với thời gian.

Mười lăm năm trước, trong chuyến đầu tiên đầu tiên, tôi đã dừng lại chổ này trong một đêm hè nóng bức. Vừa ra khỏi sở là tôi chạy thẳng về nhà, lều trại chất vội lên xe. Đến đây khỏang một giờ sáng, vẫn tưởng như sinh họat phố lớn với hàng quán mở cửa trong đêm. Đến đây thì mới biết Cann River chỉ là một dấu chấm trên bản đồ, thế thôi!

Dừng bên cạnh hộp điện thọai nầy định nghĩ mệt vài ba tiếng. Đêm hè nóng nực lấm tấm mồ hôi nhưng mở cửa xe là đàn muổi đói tràn vào.

Tôi lại tiếp tục lên đường, đêm ấy đường rừng sương phủ kín lối. Kangaroos, wallabies như bị thôi miên trong ánh đèn cứ đâm sầm vào xe. Tôi đến Merimbula lúc ba giờ sáng và ngồi bên bờ hồ chờ người quản thủ lâm viên mở cửa lúc tám giờ sáng hôm sau.

Sau này tình cờ coi những đọan phim của gia đình, tôi nghe giọng "thuyết minh" của Đôn nói về chuyến đi năm đó "Ba tôi lúc nào cũng vội vã..." Chắc tôi đã kể cho Đôn nhiều lần khi xe qua cái huyện lỵ buồn thiu nầy.

Eden là phố biển đầu tiên trong vùng biển Ngọc bích. Phố được mọc lên từ những ngày săn cá voi năm xưa bây giờ chỉ còn là chứng tích của thời gian. Phố trên triền núi nhìn ra biển xanh biếc, màu xanh rất đậm và long lanh trong nắng như cái rực rở của viên ngọc bích.

Người du lịch tìm đến đây để phơi mình trong nắng cát, để tìm lại những nét cũ phố xưa, để nhìn đàn cá voi nam cực hàng năm thiên cư về đây sinh đẻ...Người câu cá về đây để theo đàn cá ngừ tuna. Người câu có thể ngồi trên cầu tàu chờ thời hoặc theo tàu lớn ra vùng nước sâu nhưng lối câu độc đáo nhất vùng nầy vẫn là ngồi trên vách đá dùng cần câu dài, lưởi câu móc mồi lớn và cột chiếc bong bóng mầu nhờ gió đưa lưởi câu ra rất xa. Con mồi lơ lững trong nước và trôi theo chiều gió, cá ngừ phóng theo táp mạnh kéo vội xuống nước làm nổ tung phao bong bóng, và từ đó mới bắt đầu câu chuyện ngư ông và biển cả.


Cầu tàu Tathra

Cầu tàu Merimbula và Tathra được xây bằng gổ gum đỏ thổ sản của rừng địa phương, trên triền núi đá và cách mặt nước biển khá cao. Nhờ hai dòng nước ấm từ hướng bắc và lạnh từ nam cực giao lưu rất gần bờ nên vùng Shappire Coast rất nhiều cá, đủ lọai bơi từng đàn theo nước triều lớn vào trong bờ kiếm ăn. Cá salmon Úc, cá mè, cá ngừ thường bơi từng đàn, đến và đi rất nhanh.

Cá nục bông và cá nục gai lớn bằng cổ tay và dài khỏang ba tấc rất dể câu và giờ nào, mùa nào cũng có rất nhiều.

Lối câu thay đổi từng lúc, từng hồi. Mồi được để lững lờ trôi cách mặt nước vài tất, hoặc dùng phao hoặc dùng chì nặng khi trời nắng trong, khi cá không muốn ăn thì dùng mồi nhựa đong đưa khiêu khích... Câu cá nục rất dể nhưng nếu không đúng lối thì cũng phải về không.

Câu cá là "chờ thời" nhưng không phải là "gặp hên", nó thuần túy kỹ thuật. Từ viên chì, cái phao cho đến cách cắt, móc mồi đều do kinh nghiệm. Có người học nhanh, có người học chậm và tôi thuộc nhóm thứ hai. Trong trường đời, ngòai bải câu, tôi vẫn thiếu cái bén nhậy thay đổi uyển chuyển cho kịp trào lưu.

Người đi câu rất kiên nhẩn ngồi trọn ngày trong nắng gió chờ con nước ưng ý. Loay hoay chuẩn bị mọi thứ khi nước xuống và rất hối hả câu trong khỏanh khắc đàn cá vào. Thường thì cá đến và đi chỉ trong vòng không đầy nửa tiếng trong chu kỳ của con nước. Kiên nhẩn chờ đợi, chuẩn bị kỷ càng và tích cực hết mình khi cơ hội đến là bài học của những ngày câu cá.

Cơ hội đến rất tràn đầy nhưng cũng rất ngắn ngủi phù du. Cơ hội trôi qua nhanh nhưng rồi cũng sẽ trở lại trong "con nước" tới. Câu hỏi là có mấy ai còn ngồi đó trong chu kỳ sau.

***

"Ba...Ba.." tiếng Đôn hét lớn trong gió biển để gọi tôi nhìn lại, con tuna lớn chụp mạnh vào con mồi bằng cá nục bông còn sống mà nó kiên nhẩn câu từ hồi sáng.

Nó hối hả gọi tôi thu cần câu về để dọn "bải đáp", đây sẽ là bải chiến trường lớn có khi kéo dài cả tiếng đồng hồ. Cái cần câu cong vòng với sợi dây cước căng cứng khi con cá hung hãn kéo chạy ra xa. Đôn điều chỉnh độ căng của dây cước để thả cho cá chạy lòng vòng "dây dùn khó đứt" và vội vã quay nhanh dây về khi con cá đổi hướng chạy sầm về phía người câu.

Cố gắng tối đa để cá đừng quấn vô trụ cầu. Tóat đổ mồ hôi, nó đưa mắt nhìn quanh đám người câu cá bên cạnh như ngầm xin thêm bải đáp. Con cá ngừ vẫn còn sung sức chạy dọc chạy ngang, mong nó đừng vướng dây câu người khác. Vài bạn câu tích cực thu dây dọn bải và sửa sọan giúp đưa cá lên. Họ chỉ giúp đưa cá lên thôi, phần đánh vật với cá là chuyện của người câu.

Kiên nhẩn, khi cương, khi nhu chờ cho cá mệt. Có nhiều lúc tưởng chừng như bỏ cuộc khi sợi dây cước giản ra gần muốn đứt, khi thì chùng lại như cá đã thoát rồi. Khỏang chừng một giờ sau thì con cá đã gần đến chân cầu. Khoảng cách vời vợi từ mặt nước đến thành cầu cao. Người bạn câu sốt sắng thả cái móc sắt với dây thừng dài để đưa cá lên.

***

Chuyện còn dài lắm, con đường 1 như mạch chính dẩn máu về tim hâm nóng những tình tự của một dân tộc non trẻ. Như một sợi dây cước vững chắc nối những mảnh đời rời rạc trên cái lục địa mênh mông nầy lại với nhau.

Rãi rác đó đây dọc theo quốc lộ những người Úc quê cả đời chỉ biết đồi cỏ, đàn bò chưa một lần gặp gở người ngòai. Họ rất dể ghét trong khuôn mặt gầm gừ nhìn người không cùng nòi giống. Cục bộ và cực đoan trong suy nghĩ, lổ mãng trong tranh luận nhưng hành động rất thành thật với ý nghĩ của mình. Suy tư về miếng đất nầy được cô đọng trong thời điểm ngày cha ông họ rời đất tổ gần hai trăm năm trước.

Đợt người tiên phong đơn độc chiến đấu với những hiểm nguy trên đất lạ. Cực khổ và cô đơn, trong lòng vẫn còn vương vấn quê xa vời vợi đã bỏ lại đằng sau nhưng cũng vẫn kiên trì tạo một chổ đứng trên mảnh đất mới cho con cháu ngày sau. Họ ngã xuống trong gian khổ bên những rừng Bạch đàn hoang vắng như lót một viên đá xây đường cho con cháu tiến lên.

Đợt mới nối tiếp nối đợt cũ, viễn du trong con đường thiên lý, trôi dạt trong dòng sông dài, xuôi buồm trên đại dương mênh mông.

Thế hệ của tôi là sự nối tiếp mới nhất của dòng đời trôi. Cũng như những người tiên phong đợt trước, chúng tôi đến đây từ một lục địa khác mang theo mình những trang bị của một nền văn hóa xa lạ. Như một con cá sinh ra trong thác nước ngọt từ núi cao, sau một hành trình rất dài đến đây, nay bị cay mắt vì gặp dòng nước mặn. Dừng lại chốn này, loay loay tìm một chổ nước lợ thích hợp, mưu sống để nuôi dưỡng thế hệ sau. Cố gắng vẫy vùng trong môi trường mới nhưng rồi cũng chỉ giới hạn ở dòng nước xà hai.

Thế hệ kế tiếp sinh ra và lớn lên từ dòng nước lợ, thỉnh thỏang hướng về suối nguồn non cao nhưng một ngày nào đó sẽ theo dòng triều đi xa.

Ước mơ được nhìn những chú cá con nhỏ bé ngày nào, trưởng thành vẫy vùng như những kình ngư trên vùng biển ngọc.

Merimbula, hai dòng nước hội tụ, là điểm cuối của một hành trình từ núi cao nhưng cũng là điểm bắt đầu cho một thế hệ mới viễn du vào đại dương muôn dặm. Dòng đời vẫn trôi mãi...

Ngô Tấn Bình
Tilba Tilba 9/06