Trang thông tin liên lạc của cựu Giáo Sư và học sinh Trung Học Cường Để Qui Nhơn

Trang Facebook của cuongde.org

  • NhaGiuXe1200
  • hinhCu 1200
  • CD4 1200
  • DaiThinhDuong1200

Truyện Chưởng dịch bởi Lê Khắc Tưởng

Dương Thông mỗi ngày vào thành Nam kinh xin ăn, tối đến bèn về lại miếu Thiên Vương qua đêm, cứ mỗi tối đều theo phương pháp của Âu Dương Tú Tài chỉ bảo đả tọa luyện công, như thế không hay không biết đã qua được mười ngày. Một hôm nọ, Dương Thông vừa từ trong thành trở về, gần tới miếu bỗng nghe có tiếng chó hoang đang cắn lộn nhau, Dương Thông vừa nghe đã có dự cảm có điều không hay, nó rảo bước chạy lại, đến trưỚc miếu liền phát hiện tiếng chó cắn nhau là từ sau miếu vọng tới, DưƠng Thông vội vã chạy ra sau, thấy mấy con chó hoang đã kéo đám cây gai và hòn đá nó để trên mộ con chó hôm trước ra gần hết, còn thi thể con chó thì đã bị moi lên, mấy con chó hoang đang giành nhau đám ruột gan nội tạng trong thân thể con chó, thì ra, tuy con chó đã đưỢc chôn hơn mười ngày, nhưng cái mùi hủ nát vẫn còn lôi kéo đưỢc mấy con chó hoang lại moi lên giành ăn.

DưƠng Thông trông thấy tình cảnh như vậy giận quá lớn tiếng hò hét, nó chụp mấy hòn đá lớm nhắm mấy con chó hoang ném mạnh lại, mấy con chó hoang thấy có người lại, hoảng hốt bỏ chạy tứ tán. DưƠng Thông chạy lại nhìn, lập tức trong lòng vô cùng đau đớn, chỉ thấy cái bụng con chó đã bị xé tung ra, một phần bụng và nội tạng đã bị ăn sạch, một mùi hôi thúi bốc ra từ những phần còn lại, Dương Thông ngồi xuống chuẩn bị nhặt mấy thứ bị moi ra bỏ vào lại trong bụng con chó, tay nó chạm tới bụng con chó bèn cảm thấy có thứ gì cứng rắn, nó ngỡ là hòn đá, tính ném ra ngoài, nhưng lúc nó vừa vung tay ra lập tức phát giác ra mình nghĩ không đúng, thứ đồ trong tay mình là cái bao nhỏ được bọc lại bằng giấy dầu cẩn thận, giật mình nghĩ bụng: "Cái bọc giấy dầu này nằm trong bụng con chó từ lúc nào ?" Nó thấy giấy dầu bị ngấm nước gần muốn rả ra cho nên đoán là đã lâu lắm rồi, trong lòng cảm thấy kỳ quái, ai đi bỏ thứ đồ gì vào trong bụng con chó nhĩ ? Bao nhiêu năm nay mình chẳng hề biết trong bụng con chó lại chứa thứ gì kỳ lạ trong đó!

Nó chôn con chó lại tử tế rồi bỏ thêm vô số đá lớn, rồi mới đem túi giấy dầu lại vũng nưỚc gần đó rửa sạch sẽ. Về lại cái miếu, dưỚi ánh tà dưƠng, nó mở túi giấy dầu ra xem, lập tức lấy làm thất vọng, thì ra trong cái túi đó chỉ đựng có hai cuốn sách, mà cũng đã ướt nhèm, giấy cũng mềm nhũn, chắc là ở trong bụng con chó đã lâu, nó cầm một cuốn lên lật ra vài trang, trên bìa cuốn sách thấy có đề ba chữ Kim Cương kinh, nó biết đó là một bộ kinh Phật, mở ra xem, thấy mấy trang giấy đã dính chùm lại, nó cẩn thận gỡ từng tờ một ra thì thấy trong đó toàn là hình người, lớn có nhỏ có, đều là hòa thượng trần truồng, trên người vẽ chi chít những đường nét và những điểm đen. Từ nhỏ nó theo Lục Trang học vũ công, nhận ra được những điểm đen đó là huyệt đạo trên thân thể con người, những đường nét là kinh mạch lưu chuyển.

Lại lật thêm vài trang nữa, bèn phát hiện ra cuốn Kim Cương kinh còn có một tấm vải lụa màu trắng ép trong sách được bọc giấy dầu cẩn thận, nó mở ra xem, thì thấy tấm lục làm bằng một chất liệu gì cứng rắn dị thường, hai mặt đều có thêu vô số đường nét chấm phá và những điểm đen, còn có mấy khoanh đỏ, hình như là một tấm bản đồ vẽ núi non hình thế, lại còn có những chữ lớn nhỏ cỡ đầu con nhặng, mấy chữ chính giữa có vẻ lớn hơn một chút, nhìn kỹ là "Đại Minh quật khởi, nước Hạ bị đánh, nước phá người mất, của cải khí giới, tàng long ngọa hỗ đều nằm hết trong này, núi non y cựu, thành trì không đổi, sơn hà phá hủy. Ngũ hồ theo về, chỉ điểm giang sơn, theo đường này qua núi nọ, sương tím mịt mờ hướng đông, hang động ngàn năm, trùng hưng lại nưỚc Đại Hạ" mấy chục chữ, Dương Thông lại xem phía sau, thấy có những hàng chữ "gặp Phật rẻ qua trái, gặp thú vật rẻ qua phải, trưỚc Phật Tổ lạy chín lần, trước mặt vua ta cúi đầu ba lần", nó chẳng hiểu là gì, cẩn thận gói tấm lụa vào trong người, nó thấy tấm lụa được cất dấu cẩn thận thần bí như vậy chắc là có ẩn tàng một bí mật di thường trong đó.

Dương Thông lại tiếp tục dở tiếp mấy trang, thấy có tất cả mười hai bức họa thân thể con người, mỗi bức vẽ đường nét hưỚng đi không giống nhau, trên đường nét còn có vô số chấm nhỏ, có đường đi từ đầu ngón tay tới bụng, có đường từ đầu ngón chân lên đỉnh đầu. DưƠng Thông nhận ra được đó là bức vẽ mưỜi hai đường kinh mạch trên thân thể, là Thủ Thái Âm Phế, Thủ DưƠng Minh đại trường, Túc DưƠng Minh Vị, Túc Thái Âm Tỳ, Thủ Thiếu Âm Tâm, Thủ Thái Dương Tiểu Trường, Túc Thái Dương Bàng Quang, Túc Thiếu Dương Thận, Thủ Quyết Âm Tâm Bao, Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu, Túc Thiếu Dương Đảm, và Túc Thiếu Âm Can. Mấy chấm đen là ba trặ sáu mươi lăm huyệt đạo. Nó lại lập tiếp, thì thấy toàn là kinh văn giảng Phật lý, lập tức hiểu ra là thế nào. Thì ra, mười hai bức vẽ kinh mạch này là dùng một thứ mực đặc biệt vẽ xuống sách, nếu cuốn sách không bị ưỚt thì đồ hình và chữ viết đều không thấy đưỢc. Nhìn bình thường, đây chỉ là một cuốn kinh Phật phổ thông, không ai nghĩ rằng nó lại ẩn tàng một bí mật lớn lao như vậy.

Thật ra, cuốn sách này ghi chép lại chính là nội công tâm pháp tối thượng thừa của phái Thiếu Lâm tên là Vô Tướng thần công. Dương Thông làm sao biết được, hai cuốn kinh này chính là lý do làm cho phụ thân nó táng mạng ngoài sa mạc, mà bao nhiêu năm nay, vô số cao thủ Di Lặc giáo cũng vì nó và mất mạng. DưƠng Thông trong bụng thầm sung sướng, nó biết đây là tâm pháp tu luyện nội công, nghĩ thầm, đợi mình học xong vũ công rồi sẽ đánh cho Lục Vũ một trận đả đời rồi đi báo thù cho phụ thân.

Nó lại xem cuốn sách còn lại, thấy trên bìa đề bốn chữ "Thái Ất Tâm Quyết", lật qua mấy tờ thấy trong đó có vẽ vô số hình đạo sĩ còn có chi chít các hàng chữ nhỏ dạy ghi chú những khẩu quyết luyện khí dưỡng thần ra sao ra sao. Nó lật mấy trang rồi bỏ vào trong người không mấy chú ý lắm. Nó có biết đâu, hai cuốn sách này đối với những kẻ học võ mà nói, là hai thứ bảo vật vô giá đến chừng nào! Biết bao nhiêu những kẻ vì chúng nó mà đã mất đi tính mạng. Cuốn Thái Ất Tâm quyết là do lão tổ lập ra phái HOa Sơn thời Tống tên là Trần Truyền viết ra, là tinh hoa tu luyện nội công âm nhu của đạo gia, cuốn sách này vốn là sở hữu của phái Hoa Sơn, sau này phái Hoa Sơn nội bộ lủng củng, cuốn sách không còn biết ở đâu, mà phái Hoa Sơn chỉ nhờ vào mớ khẩu quyết tàn khuyết truyền lại từ cuốn sách này đã thành một trong mười đại môn phái trong giang hồ, là một môn phái hách hách nổi danh nhất nhì trong vũ lâm.

Dương Thông đem cuốn Kim Cương kinh ra xem lại kỹ càng từ bức họa thứ nhất, Thủ Thái Âm Phế kinh, nó nhìn rõ ràng đường vận khí đi đứng trong đó một hồi rồi theo đó tu luyện một hồi. Cuốn sách này ghi lại tâm pháp vô thượng của phái Thiếu Lâm là Vô Tướng thần công. Vô Tướng thần công và Dịch Cân Kinh là hai cuốn sách Đạt Ma lão tổ đem từ Thiên Trúc qua, Dịch Cân kinh thì ghi chú nội công giảng dạy tuần tự theo diễn tiến, tuy luyện càng lâu, nội công càng hùng hậu không bao giờ ngừng, các cao tăng từ đời này qua đời khác của phái Thiếu Lâm đều luyện tập tâm pháp Dịch Cân Kinh, vì vậy mà tuổi tác càng lớn nội lực càng thâm hậu, có những cao tăng tuổi đã cao, mà nội lực vô cùng thuần hậu tinh thâm, Dịch Cân kinh do đó được xem là một trong những bảo vật trấn sơn của chùa Thiếu Lâm.

Còn Vô Tướng thần công được ghi chú trong cuốn Kim Cương kinh là vì cực kỳ khó luyện, phương pháp tu luyện tổng cộng có năm tầng, cần thiết phải nhất định có nội công tu vi và thiên phú tài năng mới thành tựu được, càng quan trọng hơn là người tu luyện phải có tấm thân đồng tử, tức là tiên thiên khí chưa bị phá đi mới luyện thành được, do đó dần dần không còn ai tu luyện thứ thần công này nữa. Vì vậy, thứ thần công này tư khi phái Thiếu Lâm thành lập đến giờ, trừ Đạt Ma lão tổ ra, đời này qua đời nọ chỉ có trụ trì đời thứ hai mưƠi tám phái Thiếu Lâm là Không Kiến đại sư luyện đưỢc, lúc ấy ông ta đã bảy chục tuổi. Không Kiến đại sư từ nhỏ vào chùa Thiếu Lâm, mưỜi tuổi bắt đầu học võ, chân chưa hề ra khỏi cổng chùa, trung niên mới bắt đầu luyện thứ tuyệt kỹ này, trải qua ba mưƠi năm, mới luyện được thành tựu, nhờ vậy mà thành danh trong giang hồ, trở thành thủ lãnh của bốn vị đại thần tăng trong chùa, có điều Không Kiến thần tăng luyện thành thần công rồi, vài năm sau đó thình lình qua đời, từ đó không còn thấy ai luyện. Thứ thần công này sở dĩ có cái tên Vô Tướng, chủ yếu là từ một câu Phật dạy trong Kim Cương kinh, "Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng", lúc tu luyện không hình không tích, có điều một khi tu luyện thành công rồi, oai lực vô cùng lợi hại, cang khí bao tỏa toàn thân mỗi nơi mỗi chỗ, có hiệu quả Kim Cương bất hoại thân thể, bất kỳ đao kiếm gì đều không tổn thưƠng tới một hào ly, ngắt hoa thổi lá búng ngón tay nhấc bàn chân đều làm người ta táng mạng trong vô hình.

Khai sơn tổ sư của Di Lặc giáo là Bành Liên Ngọc, sư phụ của lão là Bành trưởng lão xưa kia là một chấp sự tăng bình thường trong chùa Thiếu Lâm, lão từ nhỏ xuất gia trong chùa, chuyên môn queét dọn chùa chiền, tiếp đãi khách thập phương, địa vị thấp kém, có lúc còn bị các sư huynh khiển trách, không những vậy lão chũng chỉ đưỢc dạy một vài thứ võ công căn bản của phái Thiếu Lâm thế thôi, không giống như những tăng nhân khác, có thể vào Đạt Ma đưỜng học tập vũ công cao thâm của bản phái, được mọi người trong chùa tôn trọng.

Mà giới luật phái Thiếu Lâm lại rất nghiêm ngặt, không được thủ tòa Đạt Ma Đường cho phép, các tăng nhân bình thường không được tu luyện vũ công cao thâm của bản phái. Chủ yếu cũng là từ một biến cố trọng đại xảy ra một trăm năm về trước. Năm đó, một tăng nhân nửa đời xuất gia vào chùa làm đầu đà, trong chùa bị các sư huynh làm khó dễ đánh đập, lão ôm hận trong lòng ngấm ngầm đào một đường hầm đến Tàng Kinh Các, ban đêm vào trong xem trộm vũ công bí cấp tàng trữ trong lầu, không ngờ lão đầu đà tư chất thông minh không thầy mà tự giỏi, học được một thân mười mấy thứ tuyệt kỹ. Mấy năm sau đó, lão mới bị phát hiện ra, bèn đánh cho mười mấy tăng nhân kẻ chết kẻ bị thương, rồi xông xuống núi, ngay cả thủ tòa Đạt Ma Đường lúc đó cũng bị lão hạ sát, lão xuống núi rồi từ đó không còn ai biết tung tích lão đâu nữa. Phái Thiếu Lâm cho chuyện đó là một kỳ sĩ đại nhục, vì đề phòng không để bi kịch đó tái diễn, bèn đặt ra giới luật cấm chỉ các tăng nhân học lén vũ nghệ.

Sau khi chuyện đó phát sinh được hai mươi mấy năm, ở Tây Vực đột nhiên cũng có một phái Thiếu Lâm khác xuất hiện, không những vậy, rất nhiều thứ vũ công do Thiếu Lâm sáng tạo được truyền dạy ra, vì chuyện đó, Thiếu Lâm tự đặc biệt phái một số tăng nhân đến Tây Vực truy tầm lão đầu đà, nào ngờ lão ta đã mất từ nhiều năm trước, hai bên tranh chấp không sao giải quyết được bèn động thủ, nào ngờ đám đệ tử do lão đầu đà truyền thụ vũ công lại vô cùng lợi hại, thêm vào đó trong hai mươi mấy năm, lão đầu đà đã bỏ ra công phu moi óc tìm kiếm chỗ hở trong các tuyệt kỹ Thiếu Lâm, do đó hai bên đánh nhau, tăng nhân phái Thiếu Lâm ngược lại bị bọn đệ tử lào đầu đà đánh bại, chuyện này có thể nói là sĩ nhục lớn nhất từ hồi Thiếu Lâm tự lập phái đến bây giờ, bởi vì Tây Vực xa xôi cách trở, Thiếu Lâm tự cũng để yên đó, nhưng từ đó về sau, càng triệt để thi hành giới luật đó nghiêm ngặt, phàm là tăng nhân chưa được phép mà lén học tuyệt kỹ, một khi bị phát hiện lập tức phế bỏ vũ công, đồng thời tay chân đều bị xiềng xích lại, đem nhốt sau núi ở Đạt Ma Động, suốt đời không được ra, cho đến già chết thì thôi.

Sư phụ của Bành Doanh Ngọc là Bành trưởng lão năm xưa là một tiểu sa di của phương trượng Hối Minh đại sư, có lần lão dọn dẹp thiền phòng của phương trượng, vô ý phát hiện trong một cái bồ đoàn có một bao đồ, lãO nhìn quanh thấy không có ai, nổi lòng hiếu kỳ bèn len lén mở ra xem, thấy đó là một cuốn sách, lão phát giác cuốn kinh đó lại là cuốn Kim CưƠng kinh, giật nảy mình lên, hôm trước lão tình cờ nghe phương trượng và thủ tòa Đại Ma Đường đàm luận ngoài thiền phòng về lai lịch cuốn Kim CưƠng kinh, không những vậy còn nói cuốn kinh đó lâu nay không thấy đâu, nào ngờ lại đột nhiên xuất hiện ở nơi đây, lão nhìn quanh nhìn quất thấy không có ai, bèn nổi lòng tà niệm, lén giấu vào trong người. Liên tiếp mấy ngày sau đó lão bị bồn chồn lo lắng một phen, rồi thấy cũng chẳng có ai nói gì mới yên bụng trở lại.

Lão có biết đâu, cái bồ đoàn này là của phương trượng hai đời trước là Không Kiến đại sư, Không Kiến đại sư lấy cuốn Kim Cương kinh từ Tàng Kinh các ra xem rồi cứ để cuốn kinh trong bồ đoàn, khi nào lão tu luyện Vô Tướng thần công thì lấy ra xem, sau đó lại bỏ vào bồ đoàn, cái bồ đoàn này ngày đêm lão ngồi trên đó, đối với lão chính là chỗ an toàn nhất. Không Kiến đại sư tập luyện Vô Tướng thần công mười mấy năm trời, cuốn Kim Cương kinh lão cũng đã đọc không biết bao nhiêu lần, dần dần quên bẵng đi chuyện đem trả về Tàng Kinh Các, càng quan trọng hơn, Không Kiến đại sư luyệ thành Vô Tướng thần công trong Kim Cương kinh rồi, bỗng một đêm nọ tự dưng lìa trần, cuốn Kim Cương kinh do đó vẫn còn nằm trong bồ đoàn, không một ai hay biết bí mật đó.

Sư phụ của Bành Doanh Ngọc Bành trưởng lão được cuốn Kim Cương kinh rồi, không dám xem trong chùa, giới luật Thiếu Lâm tự lão biết quá rõ ràng, hạng chấp sự tăng như lão chắc chắn là không được tu luyện vũ công thượng thừa rồi, có điều lão có ảo tưỞng một ngày nào đó mình sẽ nở mày nở mặt, vượt qua các sư huynh, vì vậy mà lão bèn nghĩ cách ra khỏi chùa. Lão tìm một cơ hội thỉnh cầu được xuống núi hóa duyên vân du, rồi chẳng bao giờ về lại, khắp nơi chu du, rốt cuộc đến chùa Từ Hóa tự ở Giang Tây, lão thấy nơi đây hoàn cảnh thích hợp, bèn vào chùa xin làm hòa thượng, rồi dần dần trở thành trụ trì nơi đó. Lão âm thầm tu luyện Vô Tướng thần công trong cuốn kinh, nhưng tư chất của lão vốn không được đỉnh ngộ nên tiến triển rất chậm chạp, cho đến ngày lão viên tịch rồi cũNg mới tu đến tầng thứ hai, còn chưa thực hiện được nguyện vọng dương danh lập nghiệp trong giang hồ.

Bành Doanh Ngọc từ nhỏ đã xuất gia trong chùa Từ Hóa, lúc nào cũng phục thị bên mình lão, thêm vào đó Bành Doanh Ngọc thiên tư đỉnh ngộ, rất được lão yêu mến, lúc lão sắp chết bèn đem bí mật đó nói cho Bành Doanh Ngọc nghe, và cũng đưa cuốn Kim Cương kinh cho Bành Doanh Ngọc, dặn dò cẩn thận trưỚc khi thần công luyện thành không được tiết lộ ra ngoài. Bành Doanh Ngọc tuy thông minh xuất chúng nhưng lão tập luyện không chuyên cần, căn cơ còn thô thiển, thêm vào đó, sau này lão bôn ba lo chuyện sáng lập Di Lặc giáo và gầy dựng đại nghiệp chống nhà Nguyên, khởi sự thành công rồi, lão lại bận chỉ huy thiên quân vạn mã đánh giặc, Vô Tướng thần công ngay cả tầng thứ nhất lão còn chưa luyện tới, đến lúc đánh nhau trận đó bị phản đồ bán đứng bị giết mất, trưỚc khi chết bèn đem bí mật nói cho đệ tử bên mình lúc đó là Đặng Phổ Thắng, đồng thời truyền lại cuốn kinh cho ông ta.

Đặng Phổ Thắng liều chết đột xuất trùng vi rồi, lão cũng không cách nào tu luyện được thần công, bởi lúc đó lão đã có vợ có con. Không lâu sau đó, Đặng Phổ Thắng cũng bị trọng thương trong trận chiến và bỏ mình, trưỚc khi chết lại đem bí mật truyền lại cho đệ tử của mình ở một bên là Minh Ngọc Trân. Minh Ngọc Trân là một kẻ có thiên phú, lão tiếp lấy cuốn kinh rồi, bèn vừa chỉ huy quân sĩ đánh nhau vừa tu luyện Vô Tướng thần công, khổ là lúc tập lúc ngừng, không thể nào chuyên tâm tập luyện, lão cũng chỉ tập đến tầng thứ nhất, năm 1362, lão đem quân đánh vào Tứ Xuyên, rồi cũng học theo Lưu Bị tự lập xưng làm vương, dựng lên nưỚc Hạ Quốc rồi lên ngôi hoàng đế, nạp phi tần cung nữ vào cung hưởng phúc, chuyện Vô Tướng thần công rồi cũNg bỏ qua luôn.

Nước Đại Hạ lập lên không lâu sau đó Chu Nguyên Chương đánh bại bọn Trần Hữu Lượng, thống nhất toàn quốc, bèn bắt đầu quay đầu qua đánh Đại Hạ, năm 1371, nước Đại Hạ bị tướng Bác Hữu Đức, Liên Vĩnh Trung của nhà Minh công phá, nước Đại Hạ chỉ tồn tại có mỗi chín năm, Minh Ngọc Trân là con người thâm mưu viễn lự, có tầm nhãn quang, ông ta biết Đại Hạ nưỚc nhỏ sức yếu, không cách nào đối địch lâu dài với nhà Minh, sớm muộn gì rồi cũng có ngày mất nước, có điều ông ta lại hận Chu Nguyên Chương bội phản lại Minh giáo, tàn sát giáo đồ, ông ta thà chết cũng không chịu về hàng triều Minh, do đó từ từ xúc tích tài sản nhân lực, trong thời gian bị đánh bại liền liền, đã sai bộ hạ tâm phúc đem tài bảo dấu vào một chỗ đã chuẩn bị đâu vào đó, rồi vẽ một bức họa đồ, chuẩn bị có ngày quật khởi dùng tới.

Năm 1366, Minh Ngọc Trân lúc đó mới có ba mươi sáu tuổi bị bệnh qua đời, mọi người bèn lập đứa con của ông ta lúc đó mới bốn tuổi lên làm hoàng đế, mấy năm sau đó, nước Đại Hạ bị công phá, bọn ngự tiền thị vệ trong cung bèn hộ tống con trai mới chín tuổi của ông ta đột phá vòng vây, bức họa đồ, ngọc tỷ, và cuốn Kim Cương kinh dấu trong một hộp thiết, bất hạnh trong trân chiến hỗn loạn lạc vào trong tay quân Minh, đến lúc Bác Hữu Đức, Liêu Vĩnh Trung đem quân vào tới cung cấm thì đã thấy bảo tàng trống không, biết là đã đem tàng trữ chỗ khác, hai người biết bức họa đồ là mấu chốt tìm lại chỗ bảo tàng của nước Đại Hạ, có điều, một là hai người không biết cách giải khái bí mật trên bức họa, hai là hai người biết Chu Nguyên Chương vốn là kẻ đa nghi nặng, lòng dạ cay độc, bèn không dám giữ lại, nguyên phong đưa đến triều đình.

Chu Nguyên Chương thấy hộp thiết cả mừng, trọng thưởng cho hai người, sau này hai người này thoát được khỏi độc thủ của Chu Nguyên Chương giữ được thủ cấp trên đầu cũng là nhờ chuyện đó, Chu Nguyên Chương thấy hai người trung can nghĩa đảm mới chịu bỏ qua không giết, đó cũNg là ngoại lệ trong đám khai quốc công thần của nhà Minh. Chu Nguyên Chương nắm được bức họa đồ trong tay cũNg chưa kịp sai người đi đào lấy, thứ nhất là bấy giờ lão cũNg đã có hết tài bảo trong thiên hạ, cũng không gấp đi tìm người phá giải bí mật, thứ hai thế lực của lão vừa ra khỏi Trường Thành, còn cần một khoảng thực lực, lão bèn đem họa đồ dấu vào trong cung đề phòng có lúc cần đến. Còn cuốn Kim Cương kinh lão không cách nào biết được bí mật ra sao, có điều lão biết cuốn sách này đã dấu kỹ trong hộp thiết, chắc chắn là có liên hệ với họa đồ, do đó lão cũng bỏ chung họa đồ và sách với nhau. Hộp thiết cứ thế mà nằm yên trong cung cấm.

Bí mật này không biết thế nào mà bị Yên Vương Châu Khang biết được, lúc ấy lão ta đang nắm binh quyền trấn thủ trong thành Bắc Kinh, trong bụng sớm đã có ý định cướp ngôi vị, lão bèn ngấm ngầm mua đứt người trong cung cấm, sai thuộc hạ lẻn vào trộm đi. Năm 1398, Châu Nguyên Chương ở Bắc Kinh bị bệnh qua đời, ngôi hoàng đế truyền lại cho hoàng đích tôn là Châu Sung Văn, sử xưng là Kiến Văn Đế. Năm thứ hai, Yên Vương Châu Khang bèn phát động cuộc biến loạn, không ngờ rằng chuyện lão khởi loạn lại xảy ra rất thuận lợi, chỉ trong ba năm đã đoạt đưỢc ngôi vị hoàng đế, Kiến Văn Đế Châu Sung Văn chạy ra khỏi cung, từ đó chẳng còn ai biết tung tích. Yên Vương bèn dời đô thành lại Bắc Kinh, hộp thiết lão cũng chưa có cơ hội dùng đến, rồi lão cũng bắt chước phụ thân đem giấu vào cung cấm. Như thế lại trải qua mấy đời vua truyền lại, người trong cung hiểu chuyện càng lúc càng ít đi cho đến lúc chẳng còn ai. Mà người trong Di Lạc giáo đời nào cũNg có người lẻn vào cung tìm kiếm, đều cũng chẳng tìm thấy hộp thiết ở đâu, ngược lại còn bị tổn thất không ít nhân mạng.

Đến đời Châu Kiến Thâm tức vị, Uông Trực nhân vì có công phục lại ngôi vị, bèn được nắm quyền thống lãnh Cẩm Y Vệ trong cung, cùng với đại quyền hai xứ Quảng Đông Quảng Tây. Có lần, người trong Di Lặc phái sai cao thủ lẻn vào cung tìm hộp thiết, nào ngờ đám người đó thất thủ bị bắt giữ, trong đó có một người chịu không nổi cực hình tra tấn đã chiêu khai ra bí mật. Uông Trực mừng rỡ quá mức, bèn giết sạch những kẻ trong cuộc, lẻn vào trong cung tìm kiếm, lúc này lão có quyền có thế, được Châu Kiến Thâm ân sủng, ra vào không cấm kỵ, không bao lâu đã tìm ra được cái hộp thiết bị rỉ sét lâu năm, vạn phần hoan hỉ mở cái hộp thiết ra xem, phát hiện ra hai thứ bảo vật, lão được cái hộp thiết rồi, bèn làm ra một bức họa đồ giả và bản Kim Cương kinh bình thường bỏ vào lại trong hộp thiết, còn mình thì giải hoài vẫn giải không ra cái bí mật trong bức họa đồ, Vô Tướng thần công đối với lão mà nói lại càng làm người ta tức hộc máu, thì ra tu luyện thứ thần công này phải cần một người thân là đồng tử, lão đã sớm là một phế nhân, còn gì nữa mà tu luyện ? Lão được cái hộp thiết không bao lâu, sau đó bởi vì quyền thế quá lớn bị Châu Kiến Thâm đày đi, may mà Châu Kiến Thâm niệm tình năm xưa giúp mình lấy lại ngôi mới miễn cho khỏi tội, có điều từ đó không còn trọng dụng nữa.

Không lâu sau đó, Châu Kiến Thâm bị bệnh qua đời, Minh Hiếu Tông kế vị, Uông Trực sợ bị truy cứu bèn tính kế trốn đi cho xong, thêm vào đó lúc này lão đã moi móc hết vô số tài sản, có thể nói là phú khả địch quốc, hơn nữa lão tự tin vũ công mình trong Thiên Sơn phái chẳng còn ai là đối thủ, do đó bèn tính về Thiên Sơn đoạt ngôi vị chưởng môn, phát triển môn phái mình thành thiên hạ đệ nhất đại môn phái, làm chức bá chủ vũ lâm một phen. Thế là lão bèn bỏ hai thứ bảo bối vào bụng con chó, đợi con chó lành vết thương rồi bèn đi mời Dương Oai bảo tiêu cho lão về Tâu vực. Cuốn Kim Cương kinh là của lão tìm được trong cung, còn cuốn Thái Ất tâm quyết lại là bí cấp vủ công của phái Thiên Sơn, do lão giết sư phụ của Lục Báo rồi chiếm đoạt. Bản bí cấp này vốn là của phái Hoa Sơn, năm xưa Hoa Sơn phái bị nội loạn rồi, bản bí cấp này chẳng ai còn biết tung tích, sau này một vị danh túc của phái Hoa Sơn bị người ta truy sát, Thiên Trì lão nhân lúc đó cứu được, người đó trước khi chết đem cuốn bí cấp đưa cho Thiên Trì lão nhân, nhờ lão đem về lại cho phái Hoa Sơn, nào ngờ Thiên Trì lão nhân là một tay si cuồng vũ học, thấy bí cấp chính là thấy của quý khởi lòng tà tâm, bèn đem chiếm cứ làm của riêng mình, bản bí cấp đó bèn từ đó trở thành bảo vật trấn môn của Thiên Sơn phái.

Uông Trực ngàn vạn lần không ngờ được, bọn Di Lặc giáo vốn đông người nhiều tai mắt, trong hoàng cung cũng có người của họ, con người Uông Trực ra sao ra sao họ cũng đã điều tra rõ rõ ràng ràng, bọn họ vừa mới khởi trình ra khỏi Bắc Kinh là Di Lặc giáo đã phát động toàn bộ lực lượng đi theo sau, lại thành ra ngược lại là kẻ bảo tiêu, nguyên suốt con đường đánh đuổi mấy đám cường đạo tính chận đường chiếm đoạt tài sản, hộ tống cả đám an toàn cho đến Ngọc Môn quan rồi mới ra tay, điều này bọn Dương Oai không bao giờ nghĩ đưỢc tới.

Minh Hạ Hạ cũng ngàn vạn lần không ngờ tới được rằng Uông Trực lại đem bức họa đồ dấu trong người con chó, tuy ông ta không tìm được tấn họa đồ và cuốn Kim Cương Kinh, nhưng cưỚp được của Uông Trực bao nhiêu đó châu báu cũng bụng an dạ khoái trở về, chỉ tội bọn Dương Oai khi không lại trở thành quỹ thế mạng. Đám Di Lặc giáo cũNg không bao ngờ ngờ tới cuốn Kim Cương kinh chạy quanh một vòng lại lọt vào tay của Dương Thông. Lúc Minh Ngọc Trân chết, con của ông ta mới chỉ là đứa bé, vì vậy lão đem bí quyết Vô Tướng thần công và bí mật nói lại cho một kẻ tâm phúc, để họ truyền lại cho con mình, phát huy Di Lặc giáo sau này, cứ như thế truyền qua mấy đời, bí quyết trong Vô Tướng thần công truyền về sau này càng ít, uy lực càng giảm thiểu, giáo chủ mấy đời của Di Lặc giáo ai ai cũng nghĩ đến chuyện đi tìm cuốn bí cấp về tu luyện cho đúng, nhưng chưa ai làm được.

Vô Tướng thần công tổng cộng là năm tầng, lúc mới bắt đầu luyện đan điền tích tụ chân khí lưu chuyển đầy rẫy, luyện xong tầng đầu, đánh chưởng ra có sức mạnh tan vỡ bia đá, luyện thành tầng thứ nhì chân khí lưu chuyển toàn thân, người như trôi trên mặt nước, tay đánh chân đá không một tiếng động, lòng bàn tay nóng bỏng như thép nung, có sức mạnh thủng đá nát vàng. Luyện tới tầng thứ ba, thân thể nhẹ nhàng, người như bay bỗng, đi trên băng nghiêng trên bờ vực thẳm như đứng trên đất bằng, chưởng đánh ra liên miên không có gì là không bị vỡ nát. Thần công luyện tới tầng thứ tư, chân khí lưu chuyển toàn thân kinh mạch, ý tới lực tới, vận kình như kéo tơ, một cái búng tay như hái hoa ngắt lá đều có thể giết được người, đi trên nước như đi trên đường bộ, năm xưa Đạt Ma lão tổ ở sông Dương Tử bị truy binh, ông ta bẻ một nhánh cây lau ném xuống nước, chân đạp trên nhánh lau qua sông, tới sau núi Tung Sơn, diện bích chín năm rồi lập ra phái Thiếu Lâm, từ đó mà có lai lịch câu chuyện nổi danh "độ lau qua sông". Vô Tướng thần công tu luyện đến tầng thứ năm đại công cáo thành rồi, thân thể không bị bách độc xâm hại, đao kiếm không đâm vào đưỢc người, thân thể trở thành kim cương bất hoại.

Dương Thông tìm quanh quất mấy nhánh củi khô, đốt lên nhúm lửa, rồi theo ánh lửa ngồi đọc bí cấp. Hồi nhỏ nó đã theo Lục Trang học võ, hiểu được vị trí mấy chỗ huyệt đạo trên thân thể người ta, lại được mẫu thân đôn đốc dạy chữ, do đó mà nó chẳng hề mất tý công sức. Nó lật tờ đầu tiên thấy đề mấy câu khẩu quyết nhập môn như sau: "Đầu ccảnh chính trực, hư lãnh đỉnh kình, hàm hung bạt bội, trầm kiên đọa trửu, tung yêu viên khoáng, khai khóa khuất tất, tâm tĩnh thân chính, bế mục hấp khí, hô hấp tự nhiên, khai hợp quân quân, thần tụ khí kiểm, tâm như minh kính." Nó biết đây là tư thế căn bản để luyện khí, từ nhỏ đã luyện như vậy thuần thục không thể nào hơn nữa, bèn tiếp tục đọc trang tới, giảng dạy phương pháp luyện khí như thế nào, "Dĩ ý vận khí, dĩ khí vận thân, khí trầm đan điền, kẻ nhập môn sẽ thấy phần bụng thần khí sôi sục, đan điền như lửa cháy trong nước, hoa nở trong tuyết, hai bên thận nóng như than, bàng quang như bị lửa đốt, chân khí đã đủ vậy." DưƠng Thông mỗi ngày luyện công cũNg cảm thấy như vậy, biết rằng nội lực mình luyện tập hằng ngày đã bước qua cửa nhập môn, bèn tiếp tục xem, phía dưới viết rằng, "khí trầm đan điền, kiểm khí nội cố đan điền, như binh mã đồn trú, rồi dẫn khí ở đan điền một chia làm ba, chân khí phía trên từ Nhiệm Mạch qua Thiên Đột, Nhân Trung, Thừa TưƠng lên tới huyệt Bách HỘi, chân khí ở giữa chạy qua Tâm Thận, thông qua Mệnh Môn, chân khí phía dưới qua Trương CưƠng tới HỘi Âm, như một đường giây xuyên qua, chu thân quán thông là thành công vậy." Dương Thông dụi dụi mắt lại tiếp tục đọc.

Thấy sách viết rằng, "đây là giai đoạn ban đầu, luyện công lâu ngày, hai mạch Nhiệm và Đốc sẽ như bánh xe, tay chân như đá núi, chân khí ở đan điền trong nhu có cương, khắp người nhẹ nhàng. Phải nhớ lúc vận khí thì Mệnh Môn và Hội Âm phải giữ cho hư, hư thì trên dưới mới thông suốt, nếu không chân khí không trở về lại được đan điền, thì Trung Cực và Hội Âm sẽ lồng bồng, khí trong ngực sẽ đầy và tắc nghẽn, sau lưng Bồ Đạo, Thân Trụ, Linh Đài hai bên chân khí cũNg sẽ bị nghẽn, mà trưỚc sau đều bị ngưng trệ cả. Hội Âm hư thì đi về linh hoạt, trọc khí đi xuống, thanh khí đi lên, nếu không kinh mạch sẽ bị tán loạn, máu lưu chuyển không thuận lợi, sẽ bị tẩu hỏa nhập ma. Phải nhớ Hội Âm và Mệnh Môn không được bị thứ gì cứng đụng vào, nếu không chân khí chạy ngược, khí huyết xung vào kinh mạch, nhẹ thì kinh mạch bị tán loạn, nặng sẽ bị mất mạng như không." Dương Thông y chiếu theo lời kinh sách chỉ bảo, bắt đầu đả tọa tu luyện. Lúc này vũ công nó cũng đã có căn cơ, luyện nội công lại là của Thiếu Lâm phái, thêm vào đó lại từng đưỢc Âm DưƠng Tú Tài chỉ điểm, vũ công đã có phần tiến triển lớn lao.

Quá chừng thời gian một ngọn nến, Dương Thông cảm thấy trong bụng nóng ran, chu thân chân khí cuồn cuộn, nó bèn bắt đầu theo lời sách dạy, tụ chân khí vào đan điền, rồi từ từ dẫn tới Bách Hội, Hội Âm, Mệnh Môn một đám huyệt đạo, bèn cảm thấy toàn cơ thể ấm áp thư thái không tả, mở bừng mắt ra, trăng đã lên ngang trời. Nó biết đã giữa khuya, không ngờ lần này đả tọa lại tốn mất mấy tiếng đồng hồ, DưƠng Thông bấy giờ tinh thần đang thoải mái, không có tý gì buồn ngủ, bèn tiếp tục đọc tới. Trang sau đó giảng dạy khẩu quyết tâm pháp tầng thứ hai của Vô Tướng thần công, "bình tâm tĩnh khí, điều tức miên miên, tháo cô nội thủ, tâm tức tương y, bất đái bất tức, miên miên bất đoạn, chu thân khinh linh, rồi dẫn khí từ đan điền từ Nhiệm mạch ngưỢc đường đi lên tới rốn vượt qua Thượng Tông, Hoa Cái, Thiên Đột, Liêm Tuyền tới Thừa Tương, Đốc Mạch, tiếp theo đó ngưỢc lên Thủy Cấu, Nhân Trung, Tỵ Duy, quá Thần Đình, Thượng Tinh, Lâu Hội, Tiền Đỉnh rồi đến Bách Hội, đi xuống qua sau ót, Trương Môn, Não Thi, Phong Phủ, Á Môn, Đại Duy, Bồ Đạo, Thân Trụ, Thần Đạo, Linh Đài, Chí Dương, Cân Thư, Bội Trung, Huyền Khu, Mệnh Môn, Dương Quan, Yêu Du, rồi tới Trương Cương, rồi tới Hội Âm dưới chót, đấy là cấp Trung Tầng, luyện công một thời gian sẽ vào mức Dương Hoa, người như nưỚc chảy, móng ưng như chớp, đánh chưởng ra như sắt đá, dũNg mãnh như cọp. Phải nhớ chưa đến cảnh giới toàn thân khinh linh không được tham lam luyện tập, nếu không họa hại lớn lao vậy." Dương Thông biết mình còn xa tầng này không biết bao nhiêu mà nói, bèn cũNg không gấp gáp học khẩu quyết, bèn tiếp tục đọc xuống.

Lời chú của người dịch: Xin các bạn đọc đừng tưởng thiệt mà vừa đọc vừa luyện khí nhé, đây là anh tác giả A Chí xạo từ trong mấy cuốn Thái Cực quyền ca quyết vân vân mà ra, tui xin cảnh báo ở đây, những gì trong chuyện này đều là giả tưởng không có thật, và tui không chịu trách nhiệm các bạn tẩu hỏa nhập ma đó nhé!

Nó đọc vài trang, thấy khẩu quyết tầng thứ ba lại càng phức tạp, như là "chân khí kiểm ở Đốc Mạch, từ Trương Cương nghịch hành đi lên, tới Dương Quan, Mệnh Môn, Huyền Khu, Linh Đài, Đại Duy, Phong Phủ đến đỉnh đầu Bách Hội, đi xuống mấy huyệt Nhân Trung, Thiên Đột tới Nhiệm Mạch đổ vào Đan Điền, đấy là một chu kỳ dẫn khí dương nhập vào khí âm. Chân khí kiểm ở Nhiệm Mạch, từ Đan Điền đ xuống Khí Hải, Quan Nguyên, vào Hội Âm, xuống tới Ẩn Bạch, Đại Đôn, Lịch Đoài tới Dũng Tuyền ở lòng bàn chân, đấy là một chu kỳ dẫn khí âm vào khí dương, tu luyện qua lại hoài rồi sẽ thành công vậy. Lúc tu tập thứ công phu này, hai mạch Nhiệm và Đốc phải hư thì chân khí thông suốt vô cùng, nếu không thì khó lắm. Tu luyện hoài thì chu thân khinh linh như không có gì cả, chân khí tùy theo thế mà đưa lên, nội kình bộc phát như thiên lôi liệt hỏa đột phá thiêu rụi." Dương Thông xem đến phía dưới, thấy đều là tâm pháp dạy cách tu luyện, bèn có bề mệt mỏi chịu không nổi nữa, ngáp lên một cái rồi nhét cuốn sách vào người, lăn ra ngủ khì.

Hôm sau, Dương Thông lại vào thành kiếm việc làm, không thì ăn xin, tối lại thì về cái miếu hoang qua đêm, cái miếu đó cũNg chẳng có ai trở lại, thế cũng yên tĩnh cho nó tối lại luyện công. Cứ thế mà không hay không biết lại qua thêm một tháng, từ khi nó luyện Vô Tướng Thần công rồi, Dương Thông cảm thấy thể lực trong người tăng lên rất nhiều, tai mắt linh mẫn, trong bụng ngấm ngầm thích thú. Đặc biệt là nó cảm thấy nội lực của mình tiến bộ vượt bực, tựa hồ đã đạt đến cảnh giới của tầng thứ nhất trong Vô TưỚng thần công rồi, bất giác có bề sợ hãi không dám tin tưởng là vậy. Nó có biết đâu, từ nhỏ nó đã luyện nội công nhập môn của Thiếu Lâm, đã có sẵn căn cơ, từ khi nó uống thứ rượu Huyền Băng của Âm Dương tú tài rồi, lại được ông ta chỉ điểm cho cách tu luyện nội công, nửa năm sau này nội lực đã tiến triển nhiều, được thêm rượu Huyền Băng trợ giúp, Vô Tướng thần công luyện vào cũng không lấy gì khó khăn, như nếu nó không tình cờ đụng phải Âm DưƠng tú tài thì e rằng tám năm mười năm còn chưa đưỢc vào tới mức nhập môn. Cứ như thế hai tháng nữa lại trôi qua, trời cũng dần dần ấm lại, đối với DưƠng Thông và bọn ăn xin mà nói, đấy chính là ân sủng của ông trời ban tặng cho, bởi vì họ chẳng còn phải phấn đấu với cái lạnh ghê hồn đó, thiếu đi một kẻ địch, trưỚc mắt chỉ còn phải lo lắng mỗi chuyện giải quyết vấn đề thiếu ăn là xong, tâm tình do đó cũNg trở nên thoải mái rất nhiều.

Lê Khắc Tưởng dịch
  
Thêm bình luận


Đăng Nhập / Đăng Xuất