Truyện Chưởng dịch bởi Lê Khắc Tưởng

Ba người bước vào lầu, Dương Thông nhận ra đây là một tòa Phật đường, trong lầu có cung phụng một pho tượng Phật Di Lặc tăng bào để hở một bên miệng cười toe toét. Đương thời rất nhiều người có tiền trong nhà đều có thiết kế Phật đường, cung phụng Phật Di Lặc, DưƠng Thông thấy vậy cũng chẳng lấy làm kỳ quái, bà già đi đến trước bàn thờ, lay cái lò hương để ở giữa, chỉ nghe xẹt xẹt xẹt mấy tiếng truyền lại, tiếp theo đó bàn thờ và nguyên cả pho tượng từ từ xếp qua một bên, bày ra một hang động đen ngòm. Châu nhi đi trước bước vào trong hang. Dương Thông đi theo sau, bà già đi cuối cùng, ba người bước xuống động, pho tượng lại từ từ xích ra lại nguyên chỗ. Dương Thông thấy phía trước là một bậc thang đá dài, gần đó có để đèn sáp, mặt đất bằng phẳng, không khí thông suốt, đi được chừng mười mấy thước bèn đến một cánh cửa bằng đá, mở cách cửa ra bèn thấy có ánh đèn từ trong chiếu ra. Dương Thông nhận ra đó là một tòa thạch thất, bên trong trang trí hoa lệ trải thảm đỏ và mịn, trong phòng đèn đuốc sáng choang, bàn trà ghế ngồi, lương khô dụng cụ bày biện đầy đủ. Trên bức tường bên phải còn có treo một bức họa hồ núi non sông nước, Dương Thông chú mục nhìn kỹ thì ra là một tấm bản đồ quân sự, trên đó ghi chú đầy đủ sông núi địa hình cho đến phủ vệ, chỗ đồn lính, số quân, tiền lương, khí giới vân vân ở Tế Nam. Dương Thông thấy Hạ Mẫn đang xếp bằng ngồi trên mặt đất, hai mắt nhắm nghiền, một lão già tóc bạc phơ đang ngồi sau lưng cô, hai bàn tay áp vào sau lưng cô chỗ Linh Đài huyệt, bấy giờ trên đầu lão đang bốc lên một làn khói trắng, Dương Thông biết lão già đang dùng nội lực chữa thương cho Hạ Mẫn. Bên cạnh Hạ Mẫn là Tuyết nhi và một lão già ăn mặt ra vẻ thư sinh, tay cầm một cây quạt sắt, lưng quay về phía cửa, nhìn không rõ khuôn mặt.

Người ăn mặc thư sinh nghe phía sau có tiếng chân, quay đầu lại nhìn ba người một thoáng, thấy Dương Thông lạ mặt bèn bước ngang qua chắn trước mặt Hạ Mẫn và lão già. Châu nhi hướng về thư sinh hạ giọng nói:

- Người nhà!

Thư sinh nghe vậy bèn nhìn Dương Thông mỉm cười gật gật đầu ra dấu xin lỗi. DưƠng Thông cũng nhìn lão mỉm cười rồi bước lại chỗ Hạ Mẫn, khom người nhìn xuống, chỉ thấy Hạ Mẫn tuy đang nhắm mắt nhưng miệng mím chặt, sắc mặt tím bầm, hơi thở ngắn mà cấp xúc, hiển nhiên trong người đang đau đớn. Dương Thông bèn lấy trong người ra cái hộp nhỏ, cái hộp nhỏ này là y đã nhờ Liễu Thiết Sinh sai mấy đệ tử Cái Bang ở Trường An đi nhờ người chế tạo, y mở hộp ra lấy một cây châm, nhẹ nhàng cắm vào Thái Dương huyệt của Hạ Mẫn, lần đầu tiên cắm châm do đó vạn phần cẩn thận, thư sinh thấy Dương Thông lấy kim châm ra bèn đứng sau lưng y, ngấm ngầm giới bị. Dương Thông cắm xong mủi châm chỗ Thái DưƠng huyệt và Ấn Đường huyệt của Hạ Mẫn rồi, bèn cắm thêm mấy chỗ huyệt đạo Túc Tam Lý, Hợp Cốc, Tứ Độc của cô, được một hồi, bèn thấy gương mặt Hạ Mẫn bắt đầu bình tĩnh trở lại, hô hấp cũng thành bình thường, nét thống khổ trên mặt đã bớt đi nhiều, Dương Thông cắm mấy chỗ huyệt đạo đó chính là Ma Túy Pháp cắm huyệt do Kim Châm Thánh Thủ truyền lại cho y, có thể làm giảm sự đau đớn, năm xưa Tào Tháo từng bị bệnh đau đầu, mỗi lần phát tác đều do Hoa Đà dùng phương pháp này để làm bớt đau, chỉ vì Hoa Đà thấy Tào Tháo áp bức thiên tử sai khiến chư hầu, nắm giữ quyền hành trong bụng dã tâm, do đó cố ý không trị hết bệnh đau đầu cho Tào Tháo, Tào Tháo thù hận trong lòng, sau này bèn giết Hoa Đà. DưƠng Thông thấy kim châm bắt đầu có hiệu quả lá gan lớn ra, y biết Hạ Mẫn hiện giờ mẫy chỗ huyệt đạo Đại Duy, Khí Hải và Nhiệm Mạch đang bị trở ngại, do đó bèn cắm kim châm vào mấy chỗ đó, sau đó thò tay ra ép vào Linh Đài huyệt sau lưng lão già, lúc này Vô Tướng thần công của y đã luyện tới tầng thứ năm, nội lực đã đạt đến mức xuất thần nhập hóa. Lão già đang vận nội lực giúp Hạ Mẫn đả thông mấy chỗ huyệt đạo, bấy giờ nội lực đã giảm đi rất nhiều, không cách nào đả thông ba chỗ huyệt đạo đó, đang lúc ráng sức, thình lình cảm thấy một luồng nội lực thuần dương hu`nh mạnh trút vào trong người, chân khí như trường giang đại hà thao thao bất tuyệt, vội vàng hít một hơi dài, chuyển luồng nội lực đó qua người Hạ Mẫn, trong thoáng chốc đã đả thông hết huyệt đạo, chân khí lưu hành khắp nơi, Hạ Mẫn mấy chỗ huyệt đạo bị ngưng trệ lại trở nên thông suốt không bị chướng ngại, chân khí sung mãn khắp người, hàn khí lập tức biến đi mất tiêu, toàn thân vô cùng sảng khoái, ấm áp khôn tả.

Thư sinh thấy nội lực và tài kim châm của Dương Thông lợi hại như thế, vừa ra tay đã giải trừ được thương tích cho Hạ Mẫn, trong bụng ngấm ngầm bội phục. Dương Thông thấy mặt mày Hạ Mẫn đã bắt đầu hồng nhuận trở lại, biết huyệt đạo trong người cô đã lưu thông, bèn rút kim châm ra. Quá một hồi, Hạ Mẫn mở bừng mắt nói nhỏ:

- Tư Đồ đường chủ, được rồi!

Lão già bấy giờ mới buông hai tay xuống, tự mình xếp bằng đả tọa ngay ở đó, Dương Thông suy đoán lão chính là Tư Đồ Dùng lão bản của tiền trang này, lúc nãy y đẩy chân khí vào biết lão già này nội lực phi phàm, lão tự mình đả tọa rồi sẽ từ từ hồi phục lại bèn không đụng tới lão. Hạ Mẫn mở mắt ra thấy Dương Thông đang nhìn mình cười, đúng là vừa kinh hãi vừa mừng rỡ, hạ giọng hỏi:

- Thông ca! Sao lại là anh ?

DưƠng Thông cười đáp:

- Sao ? Anh không nên lại hả ?

Châu Nhi lanh miệng, ở bên cạnh chỏ vào:

- Tiểu thơ, lúc nãy may nhờ Dương công tử dùng kim châm trị thương cho tiểu thơ đó! A ... đúng rồi! Dương công tử, sao anh lại biết thuật kim châm của Cửu bà bà nhĩ ?

Dương Thông cười nói:

- Đương nhiên là do Cửu bà bà dạy cho rồi!

Dương Thông quay đầu lại nói với Hạ Mẫn:

- Phải rồi, sao em lại bị thương vậy ? Bị thương chỗ nào ?

Y vừa chưa nói dứt lời, thư sinh đứng bên cạnh thình lình run bắn người lên, hàm răng đánh lập cập, chỉ thấy thư sinh vội vã ngồi xếp bằng xuống, Dương Thông thấy lão mặt mày xanh lè, hình như bị bao phủ bởi một tầng vụ. Châu Nhi khẻ nói với Dương Thông:

- Tống sư phụ bị chất độc trong người phát tác đó.

DưƠng Thông thấy thư sinh mặt mày ra chiều thống khổ, bèn đưa tay áp tới Linh Đài huyệt sau lưng lão, bàn tay y vừa chạm vào tới người lão, thình lình cảm thấy tay mình như đụng vào một khối băng, một luồng hàn khí chuyền thẳng tới bàn tay, rồi xông vào tâm tạng, y nhịn không nổi run lên một cái. Y giật nảy mình lên, vội vàng vận nội lực đẩy vào người lão, mới bắt đầu cảm thấy người mình cũng lạnh hẳn đi, cảm thấy trong người thư sinh lạnh lẻo khôn tả, bụng nghĩ:

- Người này trong người không biết phải thứ độc gì lợi hại như thế, lạnh ngắt như một khối băng.

Dương Thông không ngớt truyền nội lực vào trong người thư sinh, lão bèn dần dần cảm thấy trong người ấm lại, một luồng chân khí truyền vào khắp thân thể, toàn thân như đang tắm trong bồn nước nóng, thư sinh bèn thu thập chân khí hướng về huyệt đạo khắp nơi xông tới. Lúc này lão được Dương Thông trợ lực, chân khí thịnh vượng, như một luồng hỏa diệm bộc phát mọi chỗ, chân khí đi đến đâu, hàn khí lập tức tiêu tan đến đó. Mọi người thấy khắp người thư sinh không ngớt có khói trắng bốc ra, trong người càng lúc càng ấm, Dương Thông bèn thu lại nội lực. Y thấy mấy đầu ngón tay của thư sinh đen thui như bôi mực, biết là lão đã mượn nội lực của mình bức hàn độc ra tới đầu ngón tay, bèn gọi Châu nhi đem lại một cái tô, dùng kim châm chích vào mười đầu ngón tay của lão, máu bầm bèn nhỏ giọt chảy ra vào trong tô.

Dương Thông thấy máu của thư sinh dần dần biến thành màu hồng, biết lão đã bức độc chất ra gần hết, không còn gì đáng ngại, bèn quay đầu qua hỏi Hạ Mẫn:

- Ông ta trúng phải thứ độc gì mà lại lạnh như băng vậy ?

Hạ Mẫn lắc đầu nói:

- Em cũng không biết, em và Tống sư phụ bị tên bao mặt đánh cho một chưởng, bèn cảm thấy trong người lạnh buốt chịu không nổi, mỗi ngày tới giờ ngọ là chất độc phát tác, toàn thân như đang ngâm trong bồn nước đá, huyệt đạo bị phong tỏa, huyết mạch ngưng hoạt động, ngày nào Tư Đồ đường chủ cũng phải dùng Thuần dương chân khí khu trừ hàn độc cho em, Tống sư phụ nội lực thâm hậu do đó miễn cưỡng tự mình vận công đề kháng hàn độc.

Dương Thông thò tay để lên cổ tay Hạ Mẫn, thấy quả nhiên có một luồng hàn khí lạnh ngắt đang chạy ngang dọc, trong lòng không khỏi kinh hãi, nếu lúc nãy y không tận mắt thấy hàn độc đang phát tác, hiện giờ vẻ mặt cô chẳng giống như đang bị trúng độc. Bà già đem Dương Thông vào lúc nãy không nói gì nãy giờ, nghe Dương Thông và Hạ Mẫn nói đến đó thình lình xen vào:

- Công chúa, người và Tống hộ pháp trúng phải Băng Tàm độc chưởng.

DưƠng Thông nghe nói giật mình, lão già giúp Hạ Mẫn khu trừ hàn độc đột nhiên mở bừng mắt nói:

- Đúng vậy! Đó là Băng Tàm độc chưởng của Ma Ni giáo.

Dương Thông ngấm ngầm kinh hãi trong lòng, y có biết về Ma Ni giáo, Băng Tàm độc chưởng là tuyệt kỹ của Ma Ni giáo, ác độc vô cùng, trúng phải thứ độc chưởng này, toàn thân sẽ từ từ biến thành lạnh ngắt, huyết mạch ngưng hoạt động, huyệt đạo phong bế, rồi cứ thế mà chết đi.

Ma Ni giáo Dương Thông có nghe Đoàn Nhị nói qua, là một giáo phái ở Tây Vực, Ma Ni là tiếng Phạn, ý nghĩa là bảo châu, trong kinh Niết Bàn có nói, "Ma Ni châu, đầu chi trọc thủy, thủy tức vi thanh" (viên ngọc Ma Ni, ném vào nước đục, nước sẽ biến ra trong) Ma Ni giáo còn có những tên là Minh giáo, Minh Tôn giáo, Mâu Ni giáo, hưng khởi ở Ba Tư vào thế kỷ thứ ba, thời Tùy Đường truyền vào nước Hồi, thời Đường Huyền Tông truyền vào Trung quốc. Sau loạn An Lộc Sơn, người Hồi do tham gia bình loạn có công, Ma Ni giáo bèn bắt đầu phát triển ở Trường An và trong nội địa, Ma Ni sư lại càng đưỢc kính trọng, đến đời Đường Vũ tông, ông ta bắt đầu dẹp hết các tông giáo chỉ cho phép tín phụng mỗi một Đạo giáo, Ma Ni giáo bèn đi ngược về lại Tây Vực, không những vậy còn suy nhược dần đi qua mấy trăm năm, nào ngờ Băng Tàm độc chưởng lại thình lình xuất hiện ở Trung nguyên. Băng Tàm độc chưởng là dùng băng tàm trên Đại Tuyết sơn ở Tây vực quanh năm phủ tuyết mà tu luyện thành, chất hàn kỳ lạnh khôn tả, phải cần đến mấy ngàn con mới luyện đưỢc thành công, băng tàm nằm dưỚi lớp tuyết dày trên đỉnh núi, sâu cả mấy thước, khó mà bắt được, người đi lùng phải dùng đao đâm vào gà sống rồi cắm vào sâu trong tuyết, máu gà nóng chảy xuống đất, băng tàm nghe mùi bèn bò lên xác gà hút máu, qua đêm bèn lấy gà lên, băng tàm nằm ngay trên thân gà. Băng tàm tuy chỉ bằng đầu ngón tay út, nhưng chất độc có thể giết chết một con trâu, người thường bị nó cắn phải, toàn thân bèn phát lạnh, huyết mạch đông cứng mà chết. Người tu luyện cần phải có nội lực thâm hậu, trước hết cho băng tàm cắn vào đầu ngón tay, sau đó dùng nội lực dẫn chất độc vào thân thể, tán phát ra khắp toàn thân, từ từ sản sinh ra một thứ kháng thể, bèn không sợ chất độc của băng tàm nữa, người luyện thành Băng Tàm độc chưởng, ngay cả rắn độc cũng sợ họ ba phần, như nếu rắn độc cắn phải họ cũng sẽ bị đông cứng mà chết, còn họ thì vô sự, như nếu độc chưởng đánh vào người khác sẽ đủ là cú trí mạng giết người như chơi.

Thư sinh được nội lực của Dương Thông hỗ trợ, rất nhanh chóng dùng nội lực của mình khu trục Băng Tàm hàn độc ra khỏi người, chỉ thấy lão mở bừng mắt ra, hồi phục lại tinh thần lúc trước, lão đứng dậy hướng về Dương Thông khom người thật sâu làm lễ và nói:

- Tống mỗ đa tạ ơn đứcDương công tử lúc nãy đã tương trợ.

Dương Thông cười nói:

- Một chút phiền phức, Tống tiên sinh đừng khách sáo.

Dương Thông bấy giờ mới nhìn kỹ lại lão, phát hiện ra mặt mày lão có vẻ quen thuộc, mà nhất thời không nghĩ ra được ở đâu. Y thấy người này mặt mày trắng trẻo, để bộ râu trên cằm, tướng mạo thanh tú, mặc cái áo bào trắng bạt phếch, thắt dây lưng hai đuôi cá, đầu đội mũ thư sinh màu xanh, thình lình sực nhớ ra lúc xưa mình chạy trốn ra khỏi Bắc kinh, trong cái miếu cũ gặp một lão tú tài. Bèn cười nói:

- Tống tiên sinh trông mặt thật quen lắm! Hình như tôi đã có lần được gặp ở đâu đó.

Thư sinh nói:

- Thứ lỗi tại hạ mắt kém, Tống mỗ hình như chừa từng gặp qua Dương công tử.

Hạ Mẫn cười nói với Dương Thông:

- Tống tiên sinh rất ít khi hành tẩu trong giang hồ, lúc nào ông ấy cũng ở bên cạnh cha em, Thông ca anh nhất định là nhớ lầm rồi.


Lê Khắc Tưởng dịch