Trang thông tin liên lạc của cựu Giáo Sư và học sinh Trung Học Cường Để Qui Nhơn

Trang Facebook của cuongde.org

  • NhaGiuXe1200
  • DaiThinhDuong1200
  • hinhCu 1200
  • CD4 1200

Cánh cửa mở, một người đàn ông đứng chờ sẵn ở ngoài hiên. Mái tóc hớt ngắn, lộ rõ những chân tóc bạc phơ. Gương mặt hồng hào, đôi mắt sáng, , tương phản với bộ bà ba màu nâu đã cũ, vá chằn đụp những miếng vá vuông tròn. Trên tay ông khách là một bó hoa huệ lớn, toả mùi hương thơm dịu. Tôi chào ông khach, hỏi:

- Ông đến có việc gì không?

Ông khách cười, nụ cười thật tươi như những bông huệ:

- Cô Tâm gửi bó hoa này cho chú.

- Vậy à! Mời ông vào nhà chơi.

Ông khách trao bó hoa cho tôi và bước vào nhà. Tôi mời ông ta ngồi, ra sau ngâm bó hoa vào thùng nước và trở lên tiếp khách. Tôi rót nước trà mời người đàn ông. Ông khách, sau khi mời lại, bưng tách nước trà nóng lên uống từng ngụm thong thả và thoải mái.

- Tôi là người làm vườn cạnh nhà cô Tâm – Ông khách tự giới thiệu – Cô Tâm nhờ tôi nhắn lại: Vì có việc phải đi vắng vài hôm nên ngày mai cô Tâm không đến được. Cô gửi tặng chú bó huệ. Vậy thôi! À mà xin lỗi chú nhé! Tôi bận quá không có thời gian ăn mặc cho nó tươm tất một chút – Ông khách ngừng lại, thở dài, rồi như nói với bộ đồ đang mặc – Bao giờ người ta cũng nhìn người khác qua hình thức bề ngoài mà tôi thì không chú ý tới chuyện đó. Có quá ít thời gian để nghĩ đến mình, chú ạ!

Ông khách đứng dậy, mỉm cười chào và đi ra cửa, bước đi chắc chắn nhưng nhanh nhẹn. Nhìn người đàn ông đi xa dần trong nắng chiều, tôi mới sực nhớ mình quên cảm ơn người tặng hoa và người mang hoa.

* * *

Tôi quen Tâm trong khoảng thời gian khá đặc biệt. Có thể nói gì về những ngày tháng đầu ấy nhỉ?

Dạo ấy thời tiết đang vào giữa hạ. Những cơn gió nam nồm thổi thốc vào mặt những luồng hơi nóng rát mang theo bụi cát. Đi trong phố, qua những dãy nhà đóng cửa, nhìn những tấm giấy niêm phong ngã màu vì bụi, nắng và gió, người ta có cảm giác như là đọc những mẫu cáo phó đăng trên báo. Thỉnh thoảng, sau những cánh cửa sắt bám đầy bụi đường, mở hé ra một khoảng hẹp để lộ những gương mặt lạ hoắc, nước da tai tái, đôi mắt dè chừng nhìn chòng chọc vào mặt một người khách nào đó đi tìm nhà, tìm thân nhân, ném ra câu trả lời ngắn ngủn, cộc lốc: "Không phải, không biết" hoặc "Không còn ở đây" rồi biến mất trong tiếng cửa sắt xô ập lại, đinh tai. Dạo ấy, người ta thất lạc lẫn nhau và thường hay tìm kiếm nhau, cả người sống lẫn kẻ chết. Và người ta tìm đến biển. Biển như một người thân còn lại, khoả lấp và bao dung mọi chuyện, với màu xanh dịu dàng và những cơn gió mát rượi vào buổi chiều. Người ta tìm đến biển để tránh cái ngột ngạt nóng bức của thành phố sau một ngày nắng gắt. Những bức tường đọng nhiệt, những gương mặt cau có dễ dàng chìm khuất trong màu xanh bao la tươi mát của mặt biển và khoảng trời buổi chiều. Gió.

Khi ánh nắng đã dịu, như thường lệ, tôi xuống bãi cát. Một vài người tắm biển. Những đứa trẻ xóm biển, mình trần phơi rõ làn da nâu xám bóng lưỡng mồ hôi chia thành hai nhóm đá banh ở cuối bãi tắm, gần khu xóm biển lụp xụp chen chúc nhau. Tiếng hò hét của chúng bị gió tạt mất hút trong tiếng đập lặng lẽ của từng đợt sóng nhỏ. Trên bờ, vài gia đình ngổi rải rác cạnh những thân cây dừa lỗ chỗ vết đạn. Hai đứa nhỏ chạy giỡn bên mép sóng. Và phía trên, những kioque mất mái trơ những bức tường sập, loang lổ dấu bom đạn. một trong những bức tường sập, có một người lính nào đó, ghi lại những dòng chữ bằng máu đã ngã sang màu nâu sậm: "Vĩnh biệt địa ngục, 29/03/1975 ......". Có thể anh ta đã viết những dòng chữ ấy trong giờ hấp hối.

Tôi ngồi vào chỗ của mình, dựa lưng vào một thân cây dừa quen thuộc, đốt thuốc, nhìn ra mặt biển. Bên kia bến tàu, mỏm núi hang dơi nhô ra như một mũi tàu đang lướt sóng. Pho tượng lớn ở lưng chừng núi không còn mang cái khí thế hào hùng với ý định của những người dựng tượng; trông thảm hại như một vị tướng bại trận, chỉ tay xua quân quay ngược con tàu.

- Xin lỗi nghe, anh có phải là anh Văn không?

Giọng nói trong trẻo vang lên từ phía sau, tôi quay lại. Cô gái đứng vịn thân cây dừa, mái tóc dài ngang vai bay tung trong gió, gương mặt sáng trắng, đôi mắt hơi buồn. Cô ta mặc áo pull trắng, quần ticket nhung màu tím sẫm. Cô cười chào tôi.

- Vâng. Cô hỏi tôi có việc gì không?

Tôi trả lời với thái độ bực mình. Những lúc như thế này - thả hồn theo một câu chuyện nào đó để viết vào buổi tối: thói quen của tôi mỗi ngày - tiếp xúc với người lạ, dù là một cô gái đẹp, chỉ tổ mất thời giờ.

- Tôi đi tìm một người anh đã bị mất tích ở đây. Phượng nó giới thiệu tôi với anh. Tôi đến nhà, ba anh chỉ ra biển.

Cô gái nói và trao cho tôi một lá thư của Phượng.

Thư viết:

"Thân gửi anh,

Em giới thiệu với anh một cô bạn cùng lớp: Tâm. Tâm có việc nhờ anh, cô ấy sẽ kể cho anh nghe khi gặp. Vì em, anh cố gắng giúp đỡ Tâm. Gia đình cô ấy đã đi xa. Tâm chỉ còn một người anh, nghe nói bị mất tích đâu ngoài nầy. Anh ráng giúp Tâm thu xếp một chỗ ở ổn định trong thời gian tìm kiếm.

Phần em, vì gia đình, em không thể ở lại. Chỉ mong anh hiểu cho em. Có dịp, em sẽ gửi thư cho anh. Thân ái ...".

Bức thư chỉ vỏn vẹn vài dòng nhưng mạnh như một cơn lốc xoáy ......

* * *

Tôi dẫn Tâm trở về nhà, giới thiệu với ba tôi, nói rõ mục đích của Tâm và hỏi ý kiến ông cụ. Với tính thận trọng của những người từng trải, ba tôi khuyên nên tìm cho Tâm một chỗ ở khác và nói riêng với tôi: "Giúp đỡ người khác trong cơn hoạn nạn là một việc nên làm nhưng đừng để họ mang ơn mình". Tôi cảm ơn lời khuyên của ông cụ và sau bữa cơm tối, dẫn Tâm đến ở trọ nhà một người quen.

Mọi việc rồi cũng thu xếp xong, tôi hẹn với Tâm ngày mai sẽ bắt đầu việc tìm kiếm dấu vết người anh của Tâm. Tôi không tin việc mình làm có kết quả, nhưng đó là việc phải làm. Tôi có những ngày thật dài phía trước, ngoài niềm say mê viết lách, tôi chưa biết mình phải chọn một nghề gì để tham dự vào cuộc sống mới nầy. Tôi làm tất cả mọi việc, từ khi Tâm đến tới lúc chia tay trở lại ngôi nhà mình, với thái độ dửng dưng. Có lẽ Phượng đã làm tôi hụt hẫng trong đời sống. Hay có thể Tâm là một trò bày đặt nào đó của Phượng để thử thách tôi? Hy vọng rất mỏng manh, bởi vì chúng tôi quen nhau đã lâu, mười năm rồi còn gì, và gần đây, chúng tôi dự định sẽ lập gia đình khi tôi có việc làm ổn định. Vậy mà bây giờ Phượng đã đi, vĩnh viễn lìa xa tôi. Và cuộc tình chúng tôi trong mười năm qua giống như những trò bày đặt với nhau. Khi mất Phượng, tôi mới biết mình đã để trôi qua những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời mình.

Trước khi về nhà, tôi ghé vào cái quán cà phê quen thuộc ở ngã tư đường phố. Quán có khoảng vườn cây phía sau, nơi tôi và Phượng thường ngồi mỗi khi cô đến thăm tôi. Ở đây tôi có thể tha hồ đau khổ - đau khổ một cách tự do – mà chẳng ai dòm ngó mình. Lúc nầy gặp bất cứ một người nào tôi đều không thích. Tôi ngồi vào một chỗ khuất, gọi một ly cà phê đen, chờ đợi. Tiếng nhạc kéo dài, rền rĩ như có một người nào đó đang múa lượn lờ trong các vòm lá tối trong vườn. Từng cặp nam nữ, từng tốp thanh niên kéo vào, tất cả chìm khuất trong thứ ánh sáng nhờ nhờ bệnh hoạn. Phần lớn, tuổi trẻ thành phố chúng tôi trước đây mất nhiều thời gian ở quán cà phê ngồi từng giờ, từng buổi đã đầu độc chúng tôi không ít. Tôi biết, hơn mọi chỗ, quán cà phê là nơi chúng tôi có thể tự do hơn hết.

Một người nào đó đã đến, hỏi tôi một câu gì đó, tôi trả lời như một cái máy. Hắn châm thuốc và đi. Tách cà phê được bưng đến, cô gái đặt nhẹ nhàng mặt bàn, quay đi. Tôi châm thuốc, điếu Bastos xanh thứ bao nhiêu tôi đã đốt trong những tháng năm qua? Những lá thư, những bài thơ, những trang bản thảo đã viết về một tình yêu chung thuỷ và bất diệt vẫn không thể giữ nổi Phượng. Cô ấy đã đi và tôi nhận ra một điều rất rõ: Đối với tôi, Phượng đã chết.

Buổi tối hôm ấy, khi trở về phòng riêng của mình, tôi đốt toàn bộ những gì có liên quan đến Phượng. Ba tôi đã đi ngủ. Với tuổi già, ông thường xuyên đi ngủ sớm. Trên bàn viết của tôi, ba tôi viết nguệch ngoạc mấy dòng:

"Ba tin là con sẽ vượt qua được khó khăn. Ba chỉ khuyên con: Muốn trở thành một nhà văn, con phải trở thành một con người có bản lĩnh trong cuộc sống trước đã".

Có lẽ, suốt đời tôi, tôi không bao giờ quên những dòng chữ nguệch ngoạc ấy.

* * *

Đi bên Tâm, lúc nào tôi cũng có cảm giác mọi người nhìn tôi bằng tia nhìn khang khác. Một người như tôi, trong hình ảnh quen thuộc, thường cắp sách đi một mình trên đường phố. Bây giờ đi với một cô gái trẻ và đẹp, xa lạ với những gương mặt ở đây, khiến dư luận đâm ra bàn tán. Mặc kệ họ. Mặc kệ cái dư luận tỉnh lẻ, có việc gì cũng làm như là động đất đến nơi. Riêng tôi đối với Tâm, bao giờ cũng giữ một khoảng cách cần thiết. Tôi quý mến Tâm ở công việc đang làm của cô và nụ cười vui vẻ lạc quan, mặc dù đôi mắt Tâm có những tia nhìn không vui. Phần khác, tôi không muốn Tâm coi thường mình. Một người con trai thất tình phải khác những cô gái. Tôi cố gắng tập trung vào công việc giúp Tâm để quên mình đi.

Nơi đầu tiên chúng tôi tìm đến là một cơ quan Công an của thị xã. Sau khi trình giấy tờ, chúng tôi nói rõ mục đích của mình và đưa ra những gì cần biết về người anh của Tâm. Sau khi xem xét thật lâu và hỏi những điều cần thiết, một người Công an còn trẻ, nói giọng Bắc, gọi điện thoại đến một nơi nào đó và cuối cùng trả lại giấy tờ cho chúng tôi, nhã nhặn trả lời: "Rất tiếc là cơ quan chúng tôi không giúp được gì cho chị. Tôi sẽ ghi lại đầy đủ tên tuổi của ông Tính – tên người anh Tâm – khi nào có tin gì, chúng tôi sẽ báo cho anh Văn biết. Như vậy nhé!".

Nơi kế tiếp là một cơ quan quân sự của tỉnh. Sau hai tiếng đồng hồ ngồi ở phòng đợi, chúng tôi được trả lời một câu ngắn gọn: "Số lượng địch chết ở biển trong ngày cuối cùng tháo chạy nhiều quá chúng tôi không nắm hết. Những tấm căn cước chúng tôi thu được không có tên Tính. Anh chị thử tìm ở ngoài nhà dân xem sao?".

Kết quả của ngày tìm kiếm đầu tiên là như thế. Đối với Tâm đây là một điều đáng mừng, bởi cô vẫn mang hy vọng anh Tính còn sống.
Suốt một tuần lễ, chúng tôi gần như đi lùng sục đến hầu hết ở những nơi quanh thành phố mà tôi nghĩ có liên quan đến việc anh Tính mất tích nhưng vẫn không có kết quả gì. Có người cười chúng tôi và cho đây là "Một cuộc tìm kiếm vô vọng".

Đến ngày thứ tám có một việc bất ngờ đã xảy ra với tôi ......

Buổi chiều hôm đó, Tâm muốn tôi dẫn cô đi vào ghềnh đá ở cuối thành phố. Tâm muốn đến thăm ngôi mộ của một thi sĩ nổi tiếng được chôn ở lưng chừng núi. Đây là một thắng cảnh ở thành phố mà hầu hết những người ở xa đến đều không muốn bỏ qua. Tôi đồng ý dành cả một buổi chiều để đưa Tâm đi, không phải "Vì công việc như mọi hôm" mà để cho "Thần kinh bớt căng thẳng" như lời Tâm nói.

Chiếc xe Lam chở chúng tôi đi trên con đường quen thuộc đầy bụi bặm. Hai bên đường, dấu vết của chiến tranh vẫn còn đậm nét ở những đồn bót giăng đầy kẻm gai, ở những khu nhà cất san sát bên nhau bằng tôn và ván ép, ở những tấm bảng hiệu lai căng nửa tiếng Việt nửa tiếng Mỹ chưa kịp gỡ xuống và ở trên những gương mặt những cái nhìn hớt hải của một vài người được bắt gặp thoáng qua từ trong một vài ngôi nhà. Chiến tranh đã làm tâm hồn mọi người chai lì đi. Chiến tranh đã làm tuổi trẻ chúng tôi trong những thành phố, mất đi sự định hướng trong cuộc sống. Câu hỏi "Sống để làm gì?" được lập đi lập lại trong đầu óc như một thứ thần chú làm tê liệt con người và rối bời như một mớ tóc rối. Chúng tôi hầu như quên đi những gì xảy ra bên ngoài thành phố, ở vùng ngoại ô chỉ cách vài cây số; nơi đó, bom đạn đã dội xuống mỗi ngày ...... Qua khỏi khu nghĩa địa dài, xe dừng lại. Chúng tôi đi qua dãy lều quán tồi tàn đã đóng cửa. Nhiều cặp mắt tò mò nhìn chúng tôi. Một vài đứa nhỏ reo lên: "Dân Sài gòn tụi bay ơi! Ra coi dân Sài gòn ......". Tiếng người lớn nạt con, dè bỉu "Thời buổi bây giờ mà còn đi du ngoạn ......" làm Tâm hơi khó chịu. Qua khỏi cây cầu bằng vỉ sắt bắc qua đầm nước, Tâm nói: "Họ nhắc chừng mình đó, anh thấy không?". Tôi cười cho qua chuyện: "Thôi kệ họ, có liên quan gì tới mình! Tâm biết không, hồi mới lớn, theo tụi bạn vào đây chụp ảnh, anh có làm bốn câu thơ, bây giờ còn nhớ đại ý. Tâm muốn nghe không?". Tâm chọn một tảng đá có nhiều bóng râm, ngồi xuống, đôi mắt chăm chăm nhìn tôi: "Anh đọc đi ......".

- Có dở đừng cười nghe. Bài thơ có cái nhan đề: "Qua cầu tri thuỷ" đại ý như thế này: "Tôi đi qua cầu. Nhìn bóng mình in trên mặt nước. Lòng tự hỏi: Đâu là hình bóng thật của chính mình?". Và câu sau ám ảnh anh suốt một thời gian dài. Nếu dùng để hỏi Tâm, em sẽ trả lời sao?

Tâm cười cười:

- Khi qua cầu, em sợ té nên đi qua một mạch, đâu để ý bóng mình mà trả lời, còn bây giờ nếu em hỏi anh: "Đâu là hình bóng thật của chính mình" anh sẽ nói sao?

Tôi lặng lẽ lấy một viên đá cuội ném xuống đầm nước. Tất cả hình bóng phản chiếu trên mặt đầm yên tịnh bỗng nhoè đi, biến mất, chỉ còn những vòng nước lan xa.

Tâm cười phá lên và chúng tôi đi lên những bậc tam cấp dẫn lên ngôi mộ của nhà thơ bất hạnh.

Để Tâm ngồi bên ngôi mộ, tôi tìm đường đi xuống ghềnh đá. Biển đập nhẹ vào bờ đá những đợt sóng nhỏ tung bọt trắng xóa. Tôi nhảy chuyển từ cụm đá này qua cụm đá khác theo thói quen của một người sinh ra ở xóm chài miền biển. Đã lâu tôi không đến đây. Không biết những dòng chữ ngày xưa chúng tôi viết có còn ghi lại trên đá không. Tôi muốn một mình tìm đến những kỷ niệm của riêng mình. Nơi đó, trong một hang đá vắng, lần đầu tiên tôi hôn Phượng, nụ hôn có pha lẫn mùi vị mặn của biển trên môi. Và trong một trạng thái hoan lạc ngây ngất của những người yêu nhau, tôi như bay khỏi mặt đất, với cây cọ và lon sơn nhỏ trên tay, tô đậm hai chữ đầu tiên trên trang sử tình yêu: P – V vào một phiến đá cao nhất.

Bây giờ tại sao tôi tìm đến? Tôi vừa nhảy qua những mỏm đá vừa tự hỏi mình câu đó. G. L không phải. K. M. P. K. ...... V. X ...... Tôi đưa mắt dò tìm. Kỷ niệm ...... Anh yêu em ...... và có muôn ngàn dòng chữ khác choán ngợp những phiến đá. Có lần Phượng nói đùa: "Đây là những pho tượng đài tưởng niệm trong công viên tình yêu". Cũng như Phượng, những "Chàng và nàng P. K. X ...... nào đó" bây giờ đã ở đâu, có còn nhớ tới lời "Thề non hẹn biển" ở đây không? Tôi bổng phá lên cười lớn, tiếng cười vang dội cả một góc núi. Ở đâu đó thật xa, tiếng cười vọng lại từng tràng dài như chế giễu tôi. Tôi cười sặc sụa, ràn rụa nước mắt ...... Khi tôi ngừng lại, thấy mình đang đứng gần hang đá ngày xưa, nơi tôi hôn Phượng lần đầu. Cũng may là hai chữ P – V không còn. Phía trong hang, trong bóng râm mát lạnh của buổi chiều đang xuống, tôi bỗng lạnh toát người khi trông thấy một bộ xương người trắng hếu. Tôi lưỡng lự trong giây lát: Có nên trở lên kêu Tâm cùng xuống không? Không, như vậy yếu lắm. Tôi quyết định vào hang đá.

Đây là một bộ xương người lính. Cạnh đó là một khẩu ru-lô đã rỉ sét nằm cạnh hai băng đạn cũng đã rỉ sét vì nước biển. Tấm thẻ bài sáng trắng nằm cạnh đốt xương cổ. Tôi cầm tấm thẻ bài, tháo ra khỏi những đốt xương, bước nhanh khỏi hang để tránh một mùi hôi muốn lộn mửa. Tôi bỗng lạnh toát người một lần nữa. Tấm thẻ bài ghi: "Vũ Nguyên Tính ...... Số quân ...... Loại máu ...... Rh+".

Đúng là người mà trong tuần qua, tôi và Tâm đi tìm.

Bây giờ, vấn đề đặt ra đối với tôi thật nan giải:

"Có nên làm Tâm tuyệt vọng khi báo rõ cho cô biết không?". Bởi vì hơn lúc nào hết, Tâm vẫn hy vọng anh nàng còn sống. Có nên báo tin cho Tâm biết không? Có nên ......

Nhưng có lẽ, không nên để anh ấy nằm lạnh lẽo trong hang đá.

 
Hồ Ngạc Ngữ

 

Thêm bình luận


Đăng Nhập / Đăng Xuất