Buổi tối hôm ấy, chàng do dự mãi mới dám rủ em gái đi dạo phố Tết, xem thử Tết Nha Trang có vui như ở Sài gòn không?Em gái chàng cười nhỏ rồi đáp:
– Dĩ nhiên không đông đúc tấp nập bằng Sài gòn, nhưng năm nay chắc chắn phải vui hơn.
Chàng cười chữa thẹn. Em gái chàng rủ qua Trần Quí Cáp. Chàng vội từ chối:
– Đi với anh qua ngả rạp Tân Tân cho anh mua mấy tờ báo.
Chàng làm như vô tình hỏi bất chợt khi câu này, khi câu khác. Em chàng cũng làm như hờ hững trả lời nhát gừng. Ghép lại bấy nhiêu câu đáp rời rạc, chàng biết đại khái lý lịch của Maria: con gái đầu của một gia đình công chức hỏa xa theo đạo Thiên Chúa, cha người Quảng Nam mẹ người Huế. Có ba đứa em gái và một em trai út. Ít thích ra khỏi nhà tuy ở thật sát phố chính. Căn nhà thuê lâu năm được giá hời, vì cách bố trí thất cách trái ngoe: cửa trước ăn thông với nhà chủ nên bị xây kín lại ra vào phải đi qua cửa nhà bếp ăn thông ra đường Trần Quí Cáp. Kín đáo hỏi kỹ hơn một chút chàng chỉ biết nhiều lần ba Tố Chân sai mấy chị em mua sơn sơn lại tấm cửa gỗ tạp sắp bị mối đục, nhưng người này nạnh hẹ người kia, cuối cùng cánh cửa vẫn xập xệ như cũ. Một cánh cửa ván tróc sơn bắt đầu bị mối? Trời hỡi! Làm sao tìm ra đây? Hỏi địa chỉ cho chính xác thì chàng chưa đủ can đảm. Phải gắng lấy tất cả ý chí “kẻ làm trai”, lẩm nhẩm đọc lại tất cả những bài thơ học thuộc lòng của Nguyễn Công Trứ năm đệ nhị, chàng, mới đủ bạo ấp úng đưa bài thơ cho em gái và dặn nhỏ qua hơi thở gấp:
– Đưa luôn bài thơ này để Maria đọc cho vui. Dặn cô ấy đọc xong xé đi.
Em gái chàng đòi xem. Chàng dứt khoát từ chối. Nó đành kẹp bì thư dán kín bằng keo và đôi guốc mang đi, nét mặt phụng phịu (Về sau Tố Chân trách chàng: Anh thật vô ý. Ai đời lá thư viết rõ như thế mà không chịu dán kín lại. Báo hại con Dung cứ chọc em hoài.)
Sau Tết năm đó họ bắt đầu viết thư cho nhau, tuy ở Nha Trang hai người chưa dám gặp nhau hoặc nói với nhau được một câu ngớ ngẩn nào. Thư của Tố Chân và của chàng đều ngắn, vô thưởng vô phạt, và dĩ nhiên thuộc loại “phụ bản đính kèm” theo “lá thư chính thức ” gửi cho Tường Dung. Bạn cùng chung nhà trọ với chàng khâm phục chàng ra mặt, cật vấn cái cô Tường Dung Nha Trang ấy bao nhiêu tuổi, đẹp xấu thế nào. Chàng thành thực bảo đó là em gái con ông chú của chàng, họ vẫn không chịu tin. Họ hỏi:
– Em gái sao siêng viết thư cho mày thế? Thư nào cũng dày cộm.
– Thư em gái mà hôm nào đi học về, mày cũng hỏi “Tao có thư không?” Mày nóng ruột còn hơn chờ mandat cuối tháng nữa!
– Em gái? Em gái hậu phương chắc! Sao tự nhiên cô em quí hóa viết liên tiếp hàng tuần cho mày. Trước kia ngoài thư bảo đảm có thấy mày nhận thư của ai đâu?
Chàng đỏ mặt thề thốt, lòng hãnh diện ngầm. Chàng đâm thương hại những đứa con trai chưa nếm hương vị tình yêu. Cuộc đời chúng nó vô vị, nhạt nhẽo, trống rỗng, nhàm chán quá lắm! Khô khan quá lắm! Chàng thường mỉm cười bâng khuâng một mình. Lũ bạn bắt gặp lại tra vấn. Chàng lựa bức thư vô hại nhất của Tường Dung đưa cho chúng đọc. Từ đó, chúng mới để yên cho chàng sống trọn với tình yêu đầu.
Tường Dung mau chán với vai trò chim xanh nên chẳng bao lâu chàng nhận được những lá thư cũng của Tường Dung nhưng nét chữ khác: nét chữ nghiêng ốm yếu. Phụ bản dần dần chiếm hết chỗ của bản chính, và độ dày của thư cũng y như cũ dù giấy mỏng hơn. Khỏi cần thuật lại những điều họ viết, vì cổ kim chỉ bấy nhiêu chuyện trời trăng. Cũng khỏi cần ngạc nhiên hỏi vì sao chỉ có bấy nhiêu chuyện tầm phào mà họ viết mãi chưa hết, không bao giờ hết. Chàng bất cần sự đe dọa của thi cử, nghinh mặt sừng sộ với hình học, số học, đại số, lượng giác, thiên văn học. Thư Nha Trang giành chỗ của sách giáo khoa luận lý học, đạo đức học, vật lý, sinh ngữ. Chàng thi hỏng khóa đầu. Ai cũng kinh ngạc, trừ chàng. Phải thế chứ. Phải có niềm đau khổ nào đó làm tế lễ dâng cho Thiên Thần Vĩnh Cửu Lạc Phúc của chàng.
Chuyến về quê để phân bua với cha mẹ, chàng lại ghé Nha Trang. Nàng giả vờ đến mượn Tường Dung cuốn đại số học. Lần đầu tiên chàng được nói chuyện với Maria, cuộc nói chuyện tay ba, vì dù Tường Dung cảm thấy thừa thãi muốn rút lui, cả Tố Chân lẫn chàng đều hoảng hốt năn nỉ Dung ở lại. Cuộc gặp gỡ không được một phần nghìn những gì chàng mơ tưởng, và chưa được một phần trăm những lời đã viết cho nhau qua thư từ. Đại khái khi Tưởng Dung cầm quạt phe phẩy than:
– Hôm nay trời nóng dữ
Chàng nói:
– Ừ, trời nóng thật.
Còn Maria thì e dè nói:
– Có lẽ sắp mưa mất! Mấy bài tập đại số Dung làm chưa?
– Chưa. Sẵn có anh Thiệu đây, làm hộ tụi này quách.
– Anh chịu! Xưa nay “tôi” chúa ghét môn đại số.
Tường Dung cười giòn chữa lại:
– Phải nói “quay lưng với môn đại số ” cho đúng bài bản.
Tố Chân đỏ mặt, liếc nhìn chàng. Chàng lúng túng hỏi em gái:
– Nhưng khó lắm không?
– Không khó thì cần gì hỏi anh. Mày làm được mấy bài rồi Tố Chân?
– Nghĩ mãi không ra, đến khổ!
– Mày bận nghĩ đâu đâu, toán đệ thất làm cũng không được chứ đừng nói đệ tam.
– Bậy! Dung nhờ làm giúp rồi cho chép với!
– Mày “ra lệnh trực tiếp” hiệu quả hơn.
– Bậy!
– Thôi được. Để đó anh làm giúp cho. “Tôi” vừa thi hỏng, làm sai Dung không được trách đó nhé!
– Người ta mắng cho đấy, trách còn nhẹ, phải không Tố Chân?
– Bậy!
– Bậy bạ hoài. Thôi để em đi cho “hai ông bà” tiện nói chuyện.
– Không. Mình cũng phải xin phép về. Mạ dặn phải đi chợ mua gừng.
Tường Dung nhất định bỏ đi. Maria líu ríu đứng dậy, ấp úng nói gì đó để xin chàng về. Chính chàng cũng không dám lưu khách ở lại. Chàng đưa hai cô bé ra đến cửa, ngập ngùng không dám đi tiếp đến tận cổng. Tưởng Dung chợt nhớ, cười chế giễu hỏi:
– Ủa, sao mày không lấy cuốn đại số?
– Ờ, mượn cũng được.
Chàng cương quyết ra cổng. Phải nói trực tiếp với Maria câu gì đó, nếu không thì khôi hài quá. Thư qua thư lại cả xấp mà gặp nhau không nói với nhau được câu nào. Chàng đến nơi kịp lúc Maria sắp quay gót. Nàng ngượng ngùng lí nhí:
– Em về!
Chàng chỉ nói với được một câu:
– Chúc Tố Chân nghỉ hè vui!
Khách về rồi, Tưởng Dung ôm bụng cười. Nó kêu lên:
– Trời ơi là trời.Thật chẳng khác nào ăn vụng bột bị bắt quả tang. Nói không được, còn mím môi ngậm thì sặc! Sao hai ông bà viết cho nhau như khướu hót mà gặp nhau lại thế?
Chàng đỏ mặt chịu trận. Về lại Sài gòn để lo học thi khóa hai, chàng viết ngay cho Maria một lá thư dài vô địch. Chàng xin lỗi sự bất lịch sự hôm trước, kể vanh vách những gì mình định nói mà không thể nói được. Thư gởi đi chưa được một ngày, chàng đã nhận được một bức thư dài chẳng kém. Tố Chân cũng kể hết những điều mình định nói, thú nhận hôm ấy mình thật “bậy”. Nàng lại hỏi những câu chưa kịp hỏi: “Bài thơ thứ hai anh hứa gởi về Nha Trang, em chờ lâu thật lâu sao chẳng thấy? Bài thứ nhất dĩ nhiên em rất thích, tuy đọc tên mình trên một “tác phẩm”, thấy dị dị thế nào ấy! Con Dung nó đem rêu rao bài thơ cho cả lớp, rồi cả lớp rêu rao cả trường, làm tụi con trai đệ nhị chọc em hoài. Anh biết không, bài thơ đó nổi tiếng khắp Nha Trang đấy. Nhiều đứa tò mò muốn biết Maria Tố Chân là ai. Em không dám ra đường nữa. Sợ thiên hạ thất vọng não nề. Hỏi thật anh nhé, anh đã thất vọng chưa? Em xấu xí lắm phải không? Em không có ảo tưởng đâu! Em đã dặn lòng từ nhỏ là nên chịu đựng. “Em là gái trời bắt xấu. ” , anh đã đọc tập thơ ấy của Lệ Khánh chưa? À, hôm về thầy mẹ có trách móc nhiều không? Rán học anh nhớ!…
Chàng tuân theo lệnh truyền! Chàng đã rán học, và đậu bình thứ vào khóa hai. Bất chấp lời khuyên của thầy mẹ, của bạn bè chàng xin học Cao Đẳng Mỹ Thuật. Chỉ có Maria tán đồng lựa chọn của chàng.
Chàng nhận được của thầy mẹ một lá thư trách móc thấm thía: “Con tưởng thầy mẹ đủ sức nuôi con cả đời để con tự do vẽ vời bông lông hay sao? Chị hai con đã lấy chồng, từ nay lo con chưa xuể huống hồ giúp đỡ mẹ con buôn bán độ nhật qua ngày như trước. Thầy sắp về hưu. Gia cảnh nhà ta, con rõ hơn ai hết. Nếu không có chú trong đó, liệu con học được đến chừng này hay không? Một mai nếu thấy mẹ có mệnh hệ nào, lũ em con ai lo đây? Nhiều đêm mẹ con lo nghĩ quá, trăn trở không chợp mắt… “
Chàng bối rối chưa biết giải quyết ra sao thì kỳ diệu thay, cô bé mới tròn l7 đã đủ chín chắn gỡ rối cho chàng. “Sao anh không chuyển sang trường Sư Phạm Mỹ thuật? Em có một ông cậu cũng học trường đó, hiện đã ra trường về dạy môn vẽ ở trường trung học Phan chu Trinh Đà Nẵng. Làm giáo sư hội họa vừa có nghề nghiệp vừa tiếp tục sáng tác được. Ông cậu em vẽ không có gì lạ, nhưng được cái nghề nhàn. Còn anh của em thì… “
Một lần nữa chàng tuân lệnh. Chàng sướng mê lên! “Anh của em thì…” Ba dấu chấm ấy đã đủ báo hiệu sự nghiệp hội họa vẻ vang của chàng sau này. Các họa sĩ danh tiếng lẫy lừng khắp thế giới có ai may mắn tìm được người yêu có đôi mắt xanh như chàng đâu? Paul Gauguin vớ phải một bà nội trợ quần áo hôi mùi xúp tỏi và phó mát. Modigliani, một cô gái thất tha thất thểu dở điên dở khùng. Van Gogh thui thủi suốt đời, cắt tai không có lấy một người đàn bà rỏ được giọt nước mắt sợ hãi hay xót xa. Chagall? Có may mắn hơn đấy, nhưng làm sao bằng được chàng. Chàng thấy mình cao lớn như nhà thờ Đức Bà. Hai người đặt ra nhiều sáng kiến cỡ long trời lở đất. Nàng than cái tên Maria Tố Chân tuy thân yêu nhưng nhiều người biết quá rồi. Bài thơ của chàng được truyền tụng nhiều, nên cái tên đáng lẽ chỉ dành riêng cho chàng, đã trở thành tên Cúc Hoa trong miệng các anh mù hát xẩm. Chàng liền đặt riêng cho nàng một cái tên mới: Lạc Phúc. Nàng không dám để cho chàng gởi thư về đường Trần Quí Cáp, lâu nay vẫn nhờ Tưởng Dung chuyển hộ. Cô em gái chàng dần dần ghen tị với hạnh phúc “bất xứng” của người bạn thân, bắt đầu làm khó dễ.
***
Số lần đọc: 10242
