Hồ Sĩ Duy

Tượng bán thân Nhà Cách Mạng Trần Quí Cáp ở một Ngôi Trường tại Đà Nẵng
Sau 18 năm trị vì của Thành Thái (1889-1907) một nhà vua yêu nước đã bị tên thực dân Pháp Le’vecque, khâm sứ Pháp tại triều đình Huế dùng mọi biện pháp chặt chẽ để kiểm thúc, rồi cuối cùng đã bắt ép nhà vua phải thoái vị và đưa đi đày. Ngày 03/09/1907 một đạo dụ công bố nhà vua thoái vị để nhường ngôi cho hoàng tử Vĩnh San . Hoàng Tử Vĩnh San lên ngôi với niên hiệu Duy Tân , mới có bảy tuổi .Một phủ phụ chính được đặt ra để thừa biện quyền quốc chính mà tên khâm sứ Lévecque nắm quyền chủ tọa. ‘’Mọi việc liên quan đến tấu, đối phải do phủ phụ chính duyệt rồi mới tâu lên vua ‘’. Phủ phụ chính luôn luôn bị đè nặng dưới bóng uy quyền của các tên khâm sứ từ Lévecque (1907) đến Groleau ( 1909) . Phủ phụ chính hoàn toàn là một cơ quan thừa hành của chính phủ bảo hộ , họ phải triệt để tuân hành mọi chỉ thị của khâm sứ Pháp . Do đó ,mặc dù việc truất phế vua Thành Thái là một biện pháp trái cương thường đạo lí , nhưng các quan đại thần nếu có bị lương tâm cắn rứt thì cũng không dám phản ứng mạnh ,hoặc nếu có thì cũng chỉ là tiêu cực qua những lời nói suông và vô hiệu lực . Giới lãnh đạo tại triều đình có một thái độ buông xuôi như thế ,còn giai cấp quan lại nói chung đều rơi vào tình trạng tinh thần khủng hoảng ,nên tâm trạng hoang mang và hèn nhát.Tuy nhiên, những người dương cao lá cờ ái quốc lúc này là một lớp người dù được thoát thai từ xã hội cũ nhưng được đào luyện trong khuôn khổ của ý thức hệ phong kiến họ là lương tâm, là linh hồn cũa xã hội và được xã hội xem trọng, ngoại trừ những kẻ có hành động làm tay sai cho ngoại bang , phản lại đạo lí cương thường của ngàn xưa . Họ là những người mà theo De Lanessan một toàn quyền Pháp ở đông dương lúc ấy đã nói rằng : ‘’ Phe của các nhà nho, trơ thành một đảng dân tộc nông dân ở làng xã ,công nhân ở thành thị đều nghe theo mệnh lệnh ‘’. ( Trích dẫn theo Trần Văn Giàu – Giai cấp công nhân Việt Nam – NXB Sự Thật Hà Nội 1957). Uy tín luân lí cũa những nhà nho đạo đức khẳng khái vẫn chưa hề bị tổn thương nhiều . Tuy vậy, sự thành lập chế độ bảo hộ của thực dân Pháp trên đất nước VN làm cho trật tự xã hội phong kiến trãi qua một phen lay động .Trước tình hình ấy ,đã làm cho họ trở nên những phẩn tử giác ngộ sớm về phương diện ý thức hệ dân tộc .Họ xuất thân phần lớn từ các gia đình nhà nho tản mác ở nông thôn hoặc mới tập hợp lại trong các thành thị lớn nhỏ .Cha anh họ đã trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia phong trào Cần Vương . Có người đã phá trường thi khoa At Dậu 1885 để phản đối hòa ước bán nước của triều đình Huế , có người đã theo phò giá vua Hàm Nghi hoặc đã đứng vào hàng ngủ nghĩa quân của Phan Đình Phùng , Đề Thám , Tán Thuật ,Mai Xuân Thường … Bản thân họ từ thuở ấu thơ cũng đã sống trong những giờ phút kinh hoàng máu lửa khi gót giầy đinh của bọn thực dân Pháp giầy xéo lên đất nước quê hương . Họ đã sống và đã biết cái cảnh ‘’ tay ôm sách , tay xách quần’’ của nhưng người học trò chạy giặc .Họ đã chứng kiến những làng mạc tan hoang , cữa nhà bị cướp bốc ,cha mẹ ,anh em ,bà con bị tàn sát trong cơn lữa binh .Tất cả những cố gắng hy sinh anh dũng của lớp trước đã để lại một dấu ấn đậm mầu của máu lữa và xót xa trong tâm hồn họ . Sau khi vua Hàm Nghi bị bắt và đi đày ,tiếng trống , mõ Cần Vương đã im tắt , ngọn cờ phấn nghĩa đã vắng bóng trên các quan lộ và trên những đồn ãi của quan quân VN . Và câu chuyện bình Tây phục quốc tưởng chừng như tắt lịm , hay chỉ còn là một ký ức tái tê mà mọi người phải nén sâu vào đáy lòng . Kỷ cương trật tự của xã hội phong kiến trải qua một phen điên đảo ,uy quyền của tên toàn quyền Pháp ở Đông Dương thêm đè nặng lên áo mão cân đai của vua quan VN . Mệnh lệnh và ý chí của các’’hủ hiến’’thực dân là linh hôn của bọn quan lại tay sai trong triều ngoài tỉnh .Một giai cấp quyền quý mới được mọc lên dưới bàn tay che chở của bọn thực dân . Triều Đình Huế đã mất hẵn chủ quyền , Vua quan chỉ là lớp tôi đồi .Lũ ‘’ tấu tốt’’ tâng công , núp bóng quan thầy thực dân Pháp đã tha hồ mà ăn to nói lớn .Những bồi Tây , những Tổng Đốc ,Thượng Thư và những ‘’ me Tây’’ nghênh ngang lên mặt cụ lớn , bà lớn …Trong một nước thuộc địa ,chủ nghĩa phong kiến đang thoi thốp , chế độ quan liêu của Nam triều là một thị trường quan lại ,tha hồ mua quan bán tước ,đổi trắng thay đen .Qua thi ca của thời đại ,ta còn bắt gặp những bộ mặt và tư thế bỉ ổi của bọn tân quan trên đường hoạn lộ , mà nịnh hót ,xu phụ đã trờ thành một cái mode của thời đại ấy.; Từ phương pháp vận động của một tên quan Ngự sữ để con trai được đổ đạt cho đến một cô chiêu cũng lo chạy đôn chạy đáo cho cậu em trong khoa thi Hương năm 1905 tại Huế , ta thấy được rằng :
‘’ Con nên khoa bảng cha mòn trán
Em đươc công danh chị nát trôn.’’
Đó không chỉ riêng cho trường hợp của Ngự sữ Nguyền Qùy đã đi lạy quan thầy Pháp xin cho con trai mình được thi đậu ,và cũng không riêng gì cho Tôn Thất Cáp đậu cữ nhân là vì có cô chị chịu hiến thân cho một quan thầy thực dân Pháp .Còn nhiều trường hợp khác cũng đã diễn ra trong cái cảnh chợ thi bát nháo sa đọa của một nền giáo dục suy tàn chạy theo bằng cấp để làm cần câu cho danh vọng, cần câu cơm áo ,cần câu mày đay kim khánh trong thời kỳ ấy. Lớp quý tộc cũ , cũng như các nhà nho khí tiết , nếu còn giữ lòng tiết tháo mà không ra làm việc cho Tây thì càng ngày càng bị dồn vào đường cùng .Và nếu gia đình và dòng họ của họ trước đây có những hành động chống kẻ thù của dân tộc ,thì họ bị liệt vào hạng ‘’ cừu gia tử đệ’’ Con em những gia đình thù đich với tân trào và thực dân Pháp đều bị ghi vào danh sách tình nghi , luôn luôn bị theo dõi và đặt dưới sự quản thúc của bọn chánh tổng , lí trưởng ở thôn làng và cứ mỗi tháng phải lên huyện , lên phủ trình diện một vài lần .Bàn tay độc ác của thực dân thống trị ,sự kiêu căng , hách dịch và ngu ngốc của bọn tay sai cùng lũ cường hào ác bá ,đã dồn ép cả một lớp người xưa kia có bề thế vào một cảnh ngộ tối tăm bi đát .Đời sống vẫn tiếp tục lặng căm và uất ức , người dân đen vẫn túp lều tranh , nghèo đói ,tiếp tục cày cuốc , nộp thuế và đi phu , những cậu học trò nho vẫn lẽo đẻo với sách đèn với chế độ khoa cữ Hán học của thời buổi hoàng hôn . Trật tự xã hội mới càng cũng cố toàn thể nhân dân ta càng sống trong cảnh dầu sôi lữa bỏng áo rách khố ôm, sưu cao thuế nặng ,tạp dịch phu phen … Nhưng ai là người nghĩ đến nhân dân, nghĩ đến đất nước? Trong một bối cảnh không khí chính trị, xã hội lúc ấy đầy chán chường và buồn tủi, trong một bóng đêm của lịch sử dân tộc đã là nỗi suy tư lớn của người trí thức thuở ấy sau những cơn “chớp bể mưa nguồn”. Cả một chế độ cũ sụp đổ, bao tín điều thiêng liêng của kinh viện phương đông cũng lung lay tàn tạ theo. “Thiên kinh, địa nghĩa, thánh đạo, nho phong” giáo điều mà các nhà nho hàng ngàn năm vẫn thường gọi, thì nay sao mà hụt hẫng, hoang đường và mỉa mai biết dường nào! Rõ ràng, nó không còn sức linh nghiệm để đối phó với tình thế mới. Lớp ngươi đua theo khoa bảng trong thời Việt Nam mất chủ quyền cũng chỉ là những kẻ chạy theo danh lợi để mong vinh thân phì gia mà thôi. Cái học chỉ biết vùi đầu vào áng sách với “ thi văn tám vế say câu mơ màng” để đi vào khoa cử đó là điều hoàn toàn trái ngược với cái học trọng nghĩa lý đạo đức của người xưa, và cũng trái ngược với cái học mà phong trào Duy Tân do các cụ Phan Châu Trinh, Trần Qúi Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Hồ Sĩ Tạo và các nhà nho tiến bộ yêu nước đứng ra vận động. Đó là lối học mới, lối học thực nghiệp, có tinh thần khoa học, có ý chí quật cường, có tấm lòng yêu nước thương dân, có đầu óc tổ chức kinh tế, xã hội, chính trị để đưa đất nươc thoát khỏi nô lệ. Những chiến sĩ cách mạng dân tộc VN đầu thế kỷ 20 hô hào Tân học, là muốn cho dân ta học được ưu thế kỹ thuật, học được tinh thần văn minh khoa học của người tây phương, đó là những ưu điểm duy nhất mà sỹ phu VN tiến bộ không thể không thừa nhận. Chính vì vậy, mà những nhà chiến sĩ yêu nước lúc ấy, những con người ấy như Huỳnh Thúc Kháng, Trần Qúi Cáp, Hồ Sĩ Tạo mặc dù đã thành công trên con đường khoa bảng cũ, nhưng lại thức tĩnh trước thời cuộc và đứng lên hô hào từ bỏ cái học cũ để theo đuổi các học mới tiến bộ hơn, hữu ích hơn, thiết thực hơn cho dân cho nước. Họ đã hô hào rất nhiệt liệt, đến nỗi bị một số hủ nho dèm pha đố kỵ, nhưng những sĩ phu yêu nước trong phong trào Duy Tân lúc này vẫn không ngừng đấu tranh trên trận tuyến văn hóa, hô hào xóa bỏ lối học cử nghiệp, xóa bỏ tập tục lạc hậu từ cách ăn mặc cho đến cái búi tóc trên đầu của nam giới cũng cần phải được đổi mới, phải được cắt bỏ nó đi. Cùng với việc kêu gọi mọi người, ,năm 1906 trở đi cuộc vận động yêu nước được thực hiện với những hình thức thành lập hội buôn, hội học, hội công, hội cày… Tất cả phong trào là ngon gió mới bắt đầu được khởi lên từ đó. Va một trong những người khởi xướng tích cực là cụ Trần Qúi Cáp đã luôn luôn diễn thuyết, vận động, hô hào bằng nhiều cách để đưa phong trào Duy Tân tiến sâu vào quần chúng. Do đó, cụ đã không khỏi là mục tiêu cho bọn hủ nho của phái cựu nhắm vào đã phá. Cùng với lúc bấy giờ, phong trào Đông Du của Phan Bội Châu đang làm rúng động cả nước. Cùng lúc ấy, để tránh những quan niệm vọng ngoài cuồng nhiệt của một số sĩ phu, Trần Qúi Cáp cho ra đời bàn “Sĩ phu tự trị luận” từ đó lại nổ ra sự công kích giua đám nhà nho thủ cựu và những người Duy Tân ngày một gay gắt. Bất chấp cả những công kích, tiên sinh Trần Qúi Cáp vẫn kiên trì một mực vận động cho tân học, do đó nên ông bị thuyên chuyển vào Khánh Hòa. Lối “ thi văn tám vế say câu mơ màng” của cái học cũ đã lỗi thời, và mở đầu cho nền văn chương yêu nước có tư tưởng tích cực hơn, do1a áng văn xuôi trường thiên “ Lưu cầu huyết lệ tân thư” của Phan Bội Châu viết bằng chữ Hán ra đời vào năm 1903. Tập tân thư này đã nói lên nỗi tui nhục của con người mất nước, mất quyền tự do và thảm họa diệt chủng đang đe dọa cả một dân tộc đi vào cảnh nô lệ. Từ đó Phan bội châu đã đề ra phương châm cứu nước : mở trí khôn, bồi dưỡng chí khí nhân dân và đào tạo nhân tài. Trong đoạn kết, tác giả có lời kêu gọi lớp quan lại cùng mọi người hãy cố gắng hy sinh, một lòng vì nước vì dân để xây dựng “một sự nghiệp bất hũ”. Nhưng đám quan lại chưa có sự hưởng ứng rõ rệt, thì những nhà nho đỗ đạt không ra làm quan, hoặc mới đặt chân vào con đường làm quan, cũng như những thanh niên trí thức đang băn khoăn tìm một lý tưởng mới, một con đường hoạt động mới nên bắt đầu có sự hưởng ứng. Cùng với lúc này ảnh hưởng của các nhà tư tưởng như : Lương Khải Siêu, Lư Thoa (Rousseau”, Mạnh Đức Tư Cưu (Montes quieu), Khang Hữu Vy … đã được phổ biến trên sách báo Trung Hoa đang xâm nhập vào Việt Nam, thắm nhập vào tâm hồn của nho sĩ, lớp trí thức yêu nước. Họ cùng nhau bàn bạc, suy nghĩ về thời cuộc trước tình thế Á Châu đang bước dập dồn vào thế kỷ mới. Tình thế của Trung Hoa đang sôi sục trong phong trào đấu tranh cho dân quyền, cho độc lập dân tộc. Luồng song lan rộng sau các phong trào chống Mãn Thanh, chống đế quốc, làm lay động cả tâm thức người trí thức Việt Nam. Rồi chiến tranh Nga – Nhật một 1905 càng tạo thêm một luồng sóng lớn dội vào tâm hồn kẻ sĩ VN. Bài ca Á tế á càng làm bừng thức tinh thần yêu nước của người Việt trước chính sách diệt chủng của thực dân Pháp mà mọi người Việt phải đoàn kết lại để tranh đấu cho quyền sớng, cho tự do độc lập của nước nhà. Thế hệ thanh niên VN lúc này như đang náo nức được nghe những tiếng kèn hiệu lệnh, kêu gọi đấu tranh cho tự do độc lập. Trước yêu cầu của nhiệm vụ chính trị, những phần tử trung kiên của phong trào duy tân càng thấy rằng, cần phải tiền hành một cuộc cách mạng tư tưởng. Do đó, việc truyền bá học thuật mới chính là điều quan trọng bật nhất trong kế hoạch hoạt động. Say mê với tư tưởng mới, lớp nhà nho thanh niên kiên quyết đoạn tuyệt với các học cũ, với hủ tục. Cử chỉ tượng trưng là cắt búi tóc, cắt tóc là nói lên một ý nghĩa cải cách. Cải cách để đất nước được độc lập, dân tộc được phú cường, cắt tóc không chỉ là vấn đề hình thức mà là một phong trào cách mạng đang vươn khởi. Như trên đã nói, cuộc vận động cắt tóc gắn liền với các cuộc vận động yêu nước khác như chống sưu cao thuế nặng, chống áp bức đè nén quyền dân, chống cường hào và quan tham lại nhũng, vận động toàn dân lập các hội để đoàn kết làm ăn phát triển kinh tế, nêu cao ý chí tự lực tự cường, tiến lên xây dựng đất nước tự do đọc lập.
Thật vậy, phong trào kháng thuế nổ ra tại Miền Trung 1908 chính là kết quả tất nhiên của cuộc vận động Duy Tân từ những năm 1906 – 1907. Các lãnh tụ Duy Tân cho rằng sự tuyên truyền vận động của họ đã ăn sâu vào quần chúng, đến lúc chín mùi, đồng thời trước sự bất mãn trong dư luận bởi việc truất phế vua Thành Thái đã kích khích tâm lý quần chúng, tạo một cơ hội cho phong trào phát triển rộng khắp. Chính phong trào Duy Tân trong thời điểm ấy đã tập hợp được nhiều nho sĩ trí thức tiến bộ và yêu nước, nhiều thành phần dân chúng ủng hộ và tham gia tạo nên một cao trào tranh đấu, một làn sóng phản kháng mạnh mẽ đã hun đúc những tình bạn, tình đồng chí sâu sắc và tích cực trong chí hướng đấu tranh, cụ thể là những chiến sĩ như Trần Qúi Cáp và Hồ Sĩ Tạo. Trần Qúi Cáp và Hồ Sĩ Tạo là hai vị tiến sĩ đồng khoa dưới triều Nguyễn, cả hai đều là cùng quê quán miền Trung, Trần Qúi Cáp ra đời năm 1870 tại thôn Thai La, làng Bát Nhị, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Hồ Sĩ Tạo ra đời vào năm 1869 quê làng Hòa Cư, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Một người sinh trưởng từ quê hương của Phạm Phú Thứ và Hoàng Diệu, một người sinh trưởng từ quê hương của Nguyễn Huệ Quang Trung và Mai Xuân Thưởng. Quê hương Quảng Nam, Bình Định cũng chính là một trong những quê hương địa linh nhân kiệt đã hung đúc biết bao nhiêu anh hùng dân tộc, bao nhiêu tiền nhân yêu nước thương nòi. Thuở thiếu thời của Trần Qúi Cáp và Hồ Sĩ Tạo đã từng chứng kiến một giai đoạn lịch sử bi hùng của đất nước, những nhân vật lịch sử và cũng là những hình ảnh uy dũng của các vị anh hùng chống Pháp như : Hoàng Diệu, Mai Xuân Thưởng, Nguyễn Duy Hiệu … đã là những hình ảnh kiêu hùng, những ý chí bất khuất không thể không vang vọng trong tâm thức của hai vị niên thiếu này. Năm 1898 Trần Qúi Cáp thi Hương đậu tú tài, năm 1891 Hồ Sĩ Tạo thi Hương đậu cử nhân. Năm sau Trần Qúi Cáp lấy tư cách là tú tài, học sinh đi thi Hội nhưng không đủ điểm phải về học lại trường Đốc ở tỉnh nhà. Trong thời gian này Trần Qúi Cáp làm bài phú “Hoàn bích quy Triệu” bộc lộ tâm chí hào hùng nên các bạn đồng song lúc ấy như Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh, Nguyễn Đình Hiến đều phục là một áng văn hùng kiệt. Năm 1903 Trần Qúi Cáp cùng với học trò của mình là Phan Bá Cảnh ra Huế dự kỳ thi Hương nhưng Trần công vẫn không đậu cư nhân, còn học trò ông lại đỗ đạt. Dù hỏng thi, nhưng Trần vẫn bình tĩnh, vui vẽ, không một chút buồn bực oán hờn.
Riêng về cụ Hồ Sĩ Tạo sau khi đỗ cử nhân, vì nhà nghèo cha mất sớm, nên cụ phải ở nhà dạy học, phải nuôi mẹ già, không ra làm quan. Mãi đến 13 năm sau được sự khuyến khích của những người thân cùng bè bạn và tạo diều kiện cho cụ đến Huế dự khoa thi Hội, thi Đình năm 1904 và đậu tiến sĩ. Năm cụ tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo vinh quy cũng là năm cụ Đào Tấn một vị quan thanh liêm và tài đức trở về hưu. Cụ Đào Tấn đã tặng câu đối mừng ông tiến sĩ tân khoa như sau :
‘’ Lục tuần ngã dĩ hưu quan khứ
Tam giáp quân sơ đắc đệ hồi’’
Nghĩa là :
Sáu mươi tuổi ta là quan hưu ra đi
Lần đầu ông đỗ tiến sĩ trở về.
Câu đối như hàm ẩn một ý nghĩa, nếu căn cứ vào chữ cuối của vế đầu là “ khứ” và chữ cuối của vế sau là “hồi” thì như Đào Tấn muốn nhắn nhũ vị tiến sĩ tân khoa nên trở về trí sĩ hơn là đi vào hoạn lộ của thời đại đất nước suy vong ấy. Đào Tấn hơn Hồ Sĩ Tạo 24 tuổi, câu đố mừng của cụ Đào đối với tiến sĩ tân khoa biết đâu chẳng là lời dạy bảo hay có thể cũng là lời tiên tri về cuộc đời của vị tân tiến sĩ sau này.
Năm 1904 cụ Trần Qúi Cáp đi thi hội và lần này đậu đệ nhất giáp tiến sĩ. Cụ Đào Nguyên Phổ đã mừng tiên sinh một câu đố diễn tả được tất cả cái lắc léo, uẩn khúc của con đường cử nghiệp cụ Trần như sau :
‘’ Tố tiến sĩ khước dị, tố cử nhân khước nan, ức ức, dương dương, vô phi tạo ý!
Áp hội nguyên ư đình, áp đình nguyên ư hội, vinh vinh, quí quí hà tất khôi khoa’’.
Tạm dịch : Đỗ tiến sĩ dể, đỗ cử nhân khó, nén nén, nâng nâng, muôn việc do quyền tạo hóa
Đè hội nguyên ở đình, đè đình nguyên ở hội, vinh vinh, quí quí cần gì phải chiếm khôi khoa.
Người thi đỗ tiến sĩ đệ nhất mà không đậu nỗi cử nhân đó không phải là ý sắp đặt của tạo hóa hay sao ? Diều đáng nói ở đây là lúc vinh quy bái tổ, ông tiền sĩ tân khoa họ Trần này đã phá lệ vinh quy bằng cách đến bái yết tạ ơn Thầy học của mình trước rồi mới đến chào quan công sứ thực dân sau. Việc làm ấy, đã làm xôn xao dư luận đương thời. Năm 1904, năm của Trần Qúi Cáp và Hồ Sĩ Tạo đỗ tiến sĩ cũng là năm Duy Tân hội ra đời. Nợ sách đèn đã trả xong, người nho sĩ yêu nước được thảnh thơi tâm trí và đem cả tấm thân phụng sự tổ quốc. Việc đi vào chốn quan trường đối với Tràn Qúi Cáp và Hồ Sĩ Tạo chỉ là việc bất đắc dĩ. Cụ Hồ Sĩ Tạo từ khi đỗ cử nhân suốt 13 năm không ra làm quan, chỉ ở nhà dạy học và nuôi mẹ già trong cảnh nghèo khó. Mãi đến khi thi hội vì những lời khích lệ của bà con, thân hữu như : cụ phó bảng Đào Phan Duân, cụ cử nhân Hồ Sĩ Đạo, cu cử nhân Nguyễn Trọng Trì … nên ông mới đi dự thi. Những cũng từ đó duyên sách đèn khoa cử đã kết nối tình bạn, tình đồng chí, của ba vị tiến sĩ đồng khoa : Trần Qúi Cáp, Hồ Sĩ Tạo, Huỳnh Thúc Kháng trở nên thắm thiết. Trong khi những nhà nho chính thống coi việc trị loạn trong thiên hạ, sự hưng vong của tổ quốc là trách nhiệm của mình, thì bọn ngụy nho chỉ biết có bản thân, có gia đình mà thôi. Vì vậy, ta không nên đem những phường khoa bảng vì lợi danh để so sánh với những bậc đại khoa và là những chí sĩ cách mạng yêu nước đã dám quên mình vì quyền lợi dân tộc, vì tổ quốc VN. Của quý trong một nước không phải là rừng vàng biển bạc, là châu ngọc cao sang, mà chính là quốc sĩ. Nước thiếu quốc sĩ thì dẫu có châu ngọc bạc vàng cũng không tài nào giữ được. Nước thiếu quốc sĩ thì nhân dân và tổ quốc cũng đều bị người ngoài chà đạp. Nước thiếu quốc sĩ, thì dẫu có thái bình cũng không phát triển được như cụ Lê Qúi Đôn đã từng nói “Phi trí bất hưng”. Trần Qúi Cáp và Hồ Sĩ Tạo là hai vị tiến sĩ đồng khoa mà tình bạn của hai ông cũng thật là tri âm, tri kỷ, mỗi lần nhắc đến Trần Qúi Cáp, tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo đều ca tụng tấm lòng yêu nước nhiệt tình cũng như trình độ học thức uyên thâm của bạn mình. Có lần ông tiến sĩ Hòa cư Hồ Sĩ Tạo kể rằng :
“Bình sinh Trần Qúi Cáp rất ghét những lời nghị luận phù phiếm. Nhưng mỗi khi bàn đến việc đất nước và vận mệnh dân tộc, thì ông trưng dẫn rất nhiều thơ văn, điển hay, tích lạ không ai biết là ông đã đọc từ đâu. Có lần tôi nghe ông ngâm hai câu :
“ Khô hòe tụ nghị vô đa địa
Thu thủy minh oa tự nhất thiên”
Tôi tưởng là do ông mới sáng tác, và khuyên ông đường ngâm vì e rằng “ động thời văn thái quá” sẽ có ảnh hưởng đến việc mưu đồ đại cuộc. Ông cười bảo rằng :
– Đó là thơ của Nguyễn Hảo Vấn chí sĩ nước Kim. Thời ấy cách đây độ bảy trăm năm, quân Mông Cổ tiến đánh nước Kim, thế mà bọn thế gia cự tộc không ai buồn lo gì cả, chỉ nhao nhao tranh quan chức, lộc vị với nhau. Bầy kiến làm tổ trong bọng cây hòe khô, loài ếch nhái vẫy vùng trong ao thu, cách cuộc nhỏ hẹp nhưng còn có nơi tạm dung thân, đến như sĩ phu của một nước bị mất, thì còn biết chui vào đâu mà nương thân, trừ việc khuất phục dưới cường quyền, đem thân làm trâu ngựa cho người ngoại bang sai khiến. “Thiên lý tại nhân tâm” cảnh đau lòng của chúng ta ngày nay, người xưa đã từng trải qua rồi, cần gì phải làm bài mới cho phiền, nhiều khi mượn lời người xưa cũng đủ… Ý tưởng quốc gia, chính nghĩa dân tộc là động cơ hành động của các bậc chí sĩ chân nhân, xưa đã thế mà nay cũng thế. Nếu chúng ta làm sao cho sĩ tử bớt mê muội về khoa cử, dân chúng hiểu cái nghĩa tôn Chu thì lo gì không có cơ hội hành động”.
Qua mẫu chuyện trên, ta thấy tình bạn và tình đồng chí, của hai chí sĩ yêu nước càng được thể hiện nỗi ưu tư vì một Việt Nam bị giặt Pháp ngoại xăm và một dân tộc bị đẩy vào vòng nô lệ. Từ đó, việc đi vào đường quan chức của hai cụ Trần và Hồ quả nhiện là một việc rất miễn cưỡng. Làm quan là “ vì mẹ há vì tiền” vì để vừa lòng mẹ già nhà khó, một phần báo đáp chữ hiếu, nhưng làm quan của hai cụ vào lúc này còn có một ý nghĩa khác : Làm quan để đánh đổ bọn quan lại thối nát là việc cần thiết, bởi vì hạng người này là trở lực lớn cho việc phổ biến tư tưởng dân quyền, tư tưởng cách mạng dân tộc bảo vệ đất nước. Trần Qúi Cáp đã cực lực tuyên cáo với bọn quan lại tham nhũng :
“ Dân ta nay cực đà như chó
Sao quan còn võng đỏ ngáng ngà?
Thời thế này này tài trí bỏ riêng ra
Quyền thế thậm kim ngân đa mới khá
Dám hỏi mấy người công khanh hầu bá
Ăn cơm vua, cầm quyền nước, ngồi mà lo những chuyện chi chi
Dân đồ thán, quốc khuynh nguy
Độc lạc mỗi ngày ca vũ mãi
Sách có chữ xuân lai xuân bất tái
Nước mất rồi, mua lại được không ?”
Cụ Trần Qúi Cáp làm giáo thọ Thăng Bình năm 1906, mới đầu tiên sinh không chịu đi, nhưng bạn bè thấy cảnh mẹ già, nhà nghèo, thúc giục tiên sinh mới đi. Khi tới trường, tiên sinh mời thầy Tây học về dạy chữ quốc ngữ và chữ Tây, làm cho không khí tỉnh nhà được đỗi mới như Diêu Phong, Phú Lâm, Phước Bình. Mỗi lần khảo hạch học trò đi thi tới các phủ huyện làm cho lối học bát cổ vá áo túi cơm mấy trăm năm từ đây phải xếp lại (theo Huỳnh Thúc Kháng). Chính vì vậy mà Trần Qúi Cáp đã bị bọn quan lại đương thời và đám hũ nho cựu học chống đối nên triều đình đã thuyên chuyển tiên sinh vào làm giáo thọ huyện Tân Định, tỉnh Khánh Hòa. Bị đổi vào Khánh Hòa, tuy xa quê quán, nhưng tinh thần yêu nước của Trần Qúi Cáp vẫn không hề nao núng, tiên sinh vẫn nhứt mực kiên trì và khẳn khái lên tiếng vận động cho phong trào Duy Tân, hô hào cho tân học, đã phá cựu học, cổ võ cho dân quyền. Giữa hai phong trào Duy Tân và Đông Du về hai quan điểm bạo động và bất bạo động, thì Trần Qúi Cáp là hiện thân của chủ trương “tiền chính hậu quân” nghĩa là đấu tranh chính trị trước , đấu tranh vũ trang sau. Trong phong trào đấu tranh chính trị, những bài diễn thuyết và những văn thơ của Trần Công đã gây một ảnh hưởng khá mạnh trong tâm hồn sĩ phu và đồng bào yêu nước, từ đó cũng làm nhức nhối cho bọn quan lại tay sai và giới hủ nho đương thời. Có lần qua đèo Hải Vân tiên sinh đã không nén được nỗi phẩn uất khi nghĩ đến giang sơn đất nước đang chìm đắm trong bóng đêm như những lớp mây từ biển đùn lên phủ núi đèo : “ Nộ quyền huy phá bạch vân đoan”
Nhìn cửa biển Đà Nẵng đã trở thành nhượng địa cho Pháp, Trần Quý Cáp hồi tưởng đến chiến thắng Bạch Đằng Giang và ước mơ Hưng Đạo Đại Vương được sống lại để đuổi sạch quân thù ra khỏi bờ cỏi :
“ An năng tái khởi Trần Hưng Đạo
Cộng vãng Đằng Giang vĩ đại công ”
Tâm sự yêu nước của TQC nói riêng và các chiến sĩ cách mạng đương thời nói chung là cả một tâm sự canh cánh bên lòng những nỗi ưu tư về hoàn cảnh quốc phá gia vong , dân quyền chà đạp, dân tộc nô lệ. Đó cũng là tâm sự bi thống của tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo, bạn đồng khoa, là đồng chí với trần Quý Cáp, một thủ lĩnh tân học và cách mạng dân quyền Tỉnh Bình Định. Trong phong trào Kháng thuế miền trung 1908, ông bị bọn cầm quyền đương thời kết án tử hình, nhưng sau đó chúng xét lại và đổi ra án lưu đày Côn Lôn. Trong ngục thất, gặp ngày xuân về , Hồ Tiên Sinh có bài :
Ngục trung xuân cảm
“ Năm mới ngày xuân cha chả vui
Vui rồi nghĩ lại vẫn bùi ngùi
Một thân võng lọng gông xiềng đủ
Bốn kỷ xuân thu khổ sướng rồi
Chương chướng ngoài tai trâu ngựa gọi
Khăng khăng trong dạ đá vàng trui
Từ đây cho đến về sau nữa
Sau nữa ra răng để thử coi “
Khi Trần Quý Cáp bị đổi vào làm giáo thọ ở huyện Tân Định, Phủ Ninh Hòa, Tỉnh Khánh Hòa cũng là lúc tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo đang giữ chức Tri huyện Tân Định. Đây là một cơ hội tốt để hai chiến sĩ cách mạng thể hiện tình bạn, tình đồng chí một cách thuận lợi. Mặc dù bị đổi vào Khánh Hòa, nhưng Trần Quý Cáp vẫn giữ mối liên lạc với các đồng chí cùng anh em xứ Quãng, tri huyện Tân Định lại là bạn đồng khoa, nên để tránh sự theo dõi và dòm ngó khác của Thực Dân Pháp và bọn quan lại tay sai, lúc bấy giờ hầu hết các giấy tờ của những đồng chí trong phong trào Duy Tân từ Quảng Nam, Quảng Ngãi gởi về cho Trần Quý Cáp họ đều đề bì bên ngoài là gởi Tri huyện Tân Định, nhưng bì bên trong thì đề tên cụ Trần Quý Cáp. Họ muốn mượn chức danh tri huyện của cụ Hồ Sĩ Tạo để phòng gian bảo mật và cũng chính là lúc tri huyện Hồ Tiên Sinh thực hiện trọn vẹn tình đồng chí của mình với bạn, với phong trào. Việc làm ấy đã giúp cho việc bảo mật tin tức, liên lạc giữa các đồng chí và sự hướng dẫn chỉ đạo của Cụ Trần Quý Cáp dù ở xa nhưng vẫn kịp thời. Trong lúc ấy, trước sự đàn áp của Bọn thực dân và quan lại địa phương của hai tỉnh Nam Ngãi có nhiều người trong phong trào bị bắt nên có nhiều thư từ gỡi vào để thỉnh ý cụ Trần Quý Cáp trong việc chỉ đạo cụ thể và cần thiết để đối phó với tình hình. Nhưng bất ngờ, sau đó tri huyện Hồ Sĩ Tạo phải về quê đưa tang thân mẫu nên quyền tri huyện là Phan bá Hoành ra thay. Phan Bá Hoành nhận được những thư từ của phong trào gởi vào, biết là chuyện quan trọng, nên chẳng dám yểm đi, và đem báo lên tri phủ Lê Bá Cẩn. Sau khi hai tri phủ và tri huyện hội ý nhau thì kẻ đi báo tỉnh, người đi báo tòa sứ đồng thời cho người bắn tin cho Trần Quý Cáp biết rõ cớ sự và cụ Trần đã có đủ thời giờ để thủ tiêu các giấy tờ phiền lụy rắc rối. Tảng sáng hôm sau, tỉnh cho trát bắt Trần Công , đồng thời có lính đồn Pháp đến xét nơi ở của ông. Sau khi đã xét xử, bọn lính không tìm thấy được gì ngoài việc vớ được quyển “ Hải ngoại huyết thư “ của Phan Bội Châu và trên tường có treo 01bản đồ thế giới. Thế là Trần Quý Cáp tiên sinh bị tống giam tại nhà giam Khánh Hòa. An sát Phạm Ngọc Quát đã kết án tiên sinh với những lời lẽ buộc tội sau đây :
“ Gia trung quải địa đồ nhất bức , ý dục hà vi ?
Sương nội tàng Hải Ngoại nhất thư , kỳ tình khả kiến
Tuy bạn trạng vị hình nhi phản tâm dĩ sưc hỷ “
Nghĩa là : Trong nhà treo một bức địa đồ, ý muốn làm gì đây? trong rương cómột quyển sách Hải ngoại Huyết thư , tình có thể thấy rõ.
Tuy hiện trạng phản loạn chưa thành hình nhưng can phạm đã nuôi cái tâm phản nghịch !
An tử hình Trần Quý Cáp do tên án sát Phạm Ngọc Quát soạn. Nguyên vì việc đề xướng tân học ở Quảng Nam , các quan tỉnh không ưa, nên Trần Quý Cáp bỉ đổi vào làm giáo thọ Khánh Hòa Tân Định. Đến nhiệm sở mới, Trần công vẫn cứ hô hào tân học, án sát Phạm Ngọc Quát cho đòi đến dinh lên tiếng cảnh cáo và dọa nạt cắt chức, Trần công thản nhiên, cứng cỏi trả lời “ Quan lớn chỉ có cách cái giáo thọ của tôi chứ làm sao cách cái tiến sĩ của tôi được ? ”
Phạm Ngọc Quát xuất thân chỉ là một viên tú tài, nhưng Quát đã khéo xu nịnh nên mới làm được chức quan lớn. Nghe câu trả lời như thế, y lặng người đi, cho rằng Trần công chửi xỏ mình là người vô học, càng để tâm thù hận và chờ có dịp sẽ ra tay. Trần Quý Cáp đã lên đoạn đầu đài tại Nha Trang vào ngày 17.05 âm lịch Mậu Thân 1908, thế là :
“ Đàn anh phái Tân học bổng mất một tay, muôn dặm mịt mù, bạn trẻ trông sau rên rỉ khóc.
Đời thọ với danh thơm khó toàn hai ngã, mộ quan nho nhỏ, mẹ già tựa cửa xót xa đau.” ( Huỳnh Thúc Kháng )
Nhà chí sĩ yêu nước Trần Quý Cáp đã vinh dự lên đoạn đầu đài, chấp nhận một cái chết thật oanh liệt và thât hào hùng, một cái chết thật vẽ vang nhưng cũng để lại trong lòng của các nhà chi sĩ ye6eu nước đồng thời ,cùng toàn dân niềm tiếc thương đau xót! Năm mà cụ Trần Quý Cáp bị lên đoạn đầu đài, cũng là năm cụ Hồ Sĩ Tạo bị bọn Công sứ Pháp và tay sai kết án tử hình, nhưng sau đó có cuộc vận động của cụ Phó bảng Đào Phan Duan khởi xướng tại kinh đô Huế, vụ việc đến tai vua Duy Tân, kết quả là từ án tử hình đổi ra án khổ sai chung thân và bị tù đày suốt 12 năm, mãi đến 1920 triều Khải Định mới được ân xá về quê. Trong những ngày cuối đời, cụ Hồ Sĩ Tạo có để lại một câu đối mang tính tự vịnh, tự trào như sau :
“ Ngã độc hà vi đa sự tai, thiếu phu hư danh sĩ, kế tác quan trường nô, gian hựu thất túc , ư quốc trung tù, hồng trang , phấn diện, trất thân, bán tế dĩ thành tam kiếp. Kim ưng khải cáo vô tội hỷ, trêu xuất canh điền ông, mộ nhập quan viên tổ, dạ tất tịnh ngọa, thính gia nhi đọc, cầm lữ, thi bằng, tửu hữu, dư sinh hoàn vấn kỷ tri âm “
Có người tạm dịch là : “ Riêng ta vì sao mà lắm chuyện đến thế nhỉ ? lúc trẻ mang danh hảo là kẻ sĩ, tiếp đó làm tên đầy tớ trong chốn quan trường, giữa chừng sảy chân sa vào nhà tù chỉ vì trãi lòng trung với nước, áo đỏ, mặt trắng thân sơn đen, mới nữa đời người mà đã đổi thay 03 kiếp sống.
Hẳn bây giờ xin thưa là không có tội, buổi sáng là ông lão càyruộng, buổi chiều là ông lão tưới vườn ,buổi tối thì nằm nghe lũ con nhà đọc sách, bạn đàn, bạn thơ, bạn rượu ! vội hỏi các tri âm về cuộc đời còn lại của tôi.
Riêng về thi văn của cụ, hầu hết đều bị tiêu hủy, con cháu bị liệt vào hoàn cảnh “cừu gia tử đệ”nên không có điều kiện sưu tập. Ngày nay chỉ còn một số ít do các người lớp trước truyền lại trong tình trạng trí nhớ phôi phai.
Cuộc đời của hai nhà chí sĩ yêu nước Trần Quý Cáp và Hồ Sĩ Tạo tuy đã trải qua bao nhiêu thăng trầm theo vận nước, nhưng hai vị tiến sĩ đồng khoa và là hai nhà nho tiến bộ của đầu thế kỷ 20 đã nêu cao được tấm gương yêu nước và lòng kiên trung, ý chí bất khuất trước kẻ thù xâm lược và bọn quan lại tay sai. Hai cụ Trần và Hồ cũng chính là những con người vững tiến theo bước chân những anh hùng dân tộc, thà đem tấm thân bảo vệ giang sơn Tổ quốc hơn là làm kẻ nô lệ. Hai cụ cũng đã sống rất chân tình về tình bạn, tình đồng chí được lồng trong khung cảnh hào hùng của lịch sử đấu tranh , trong cuộc cách mạng nhân quyền,hô hào toàn dân đứng lên đánh đuổi thực dân pháp và bọn tay sai phong kiến phản dân bán nước mà cuộc kháng thuế của đồng bào Miền Trung là cao trào đấu tranh quyết liệt. Dưới sự lãnh đạo của các nhà cách mạng Duy Tân mà trong đó Trần Qúy Cáp và Hồ Sĩ Tạo là những linh hồn, những thủ lĩnh trực tiếp hoặc gián tiếp. Hai nhà chí sĩ yêu nước ấy cũng còn góp một công trạng lớn trong phong trào vận động tân học, vận động văn hóa mới, bài trừ hủ tục và tổ chức các hội đoàn làm kinh tế, nêu cao tinh thần tự lực tự cường, làm cho dân giàu nước mạnh, đánh đuổi bọn xâm lăng. Tuy sự nghiệp cách mạng của hai cụ chưa hoàn thành, nhưng vẫn ghi được những trang sử hào hùng trong lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt Nam.
Hồ Sĩ Duy
Địa chỉ liên lạc :
Hồ Sĩ Duy
Hôp thư số 18, Bưu điện Linh Trung
Quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại nhà : 08.3 897 4377
Số lần đọc: 47
