LTS : Kỷ niệm ngày mất của Hòa Thường Thích Thiện Nhơn (20/04/2013 ) -Trưởng lão Hòa Thượng Thích Thiện Nhơn, thế danh Hồ Thanh Tùng, sinh năm Tân Mùi 1931, tại thôn Tân Hòa, xã Cát Trinh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Tổ đình Thiên Đức, dưới sự lãnh đạo và dìu dắt của Ngài, đệ tử xuất gia trước sau cả 100 vị, làm chỗ quy ngưỡng tâm linh cho thập phương, phát huy tầm ảnh hưởng của Phật giáo lên mọi tầng lớp xã hội, góp phần duy trì nền văn hóa và đời sống tâm linh truyền thống của dân tộc mà ngàn năm tiền nhân đã vun đắp nuôi dưỡng . Trưởng lão Hoà thượng Thích Thiện Nhơn là một tấm gương sáng ngời về đạo hạnh tu tập, giới đức trang nghiêm mà hàng hậu học mai sau nương theo. Xin giới thiệu bài viết ” Bên ngôi cổ tự” của Thầy Hồ Sĩ Duy
+++
BÊN NGÔI CỔ TỰ
(Hoài niệm về cố hòa thượng Thích Thiện Nhơn)
G.S Hồ Sĩ Duy
Tôi còn nhớ mãi buổi chiều năm ấy, một buổi chiều của cuối thế kỷ 20…Một buổi chiều vào cuối xuân, đầu hạ, khi ánh nắng tháng tư của miền quê Bình Định như dồn cả những gay gắt chói chan phủ lên mái tổ đình của ngôi chùa Thập Tháp. Từ nơi phương trượng của ngôi tổ đình này, tôi đang hầu chuyện với hòa thượng trụ trì Thích Kế Châu. Câu chuyện của chúng tôi đang nói về các bậc danh sư của Phật giáo Bình Định, từ thiền sư Nguyên Thiều, bậc danh sư khai sáng ngôi chùa mà chúng tôi đang có mặt ở đây, cho đến các vị danh sư Phước Huệ, Bích Liên, Huệ Chiếu, Minh Tịnh, Bạch Sa, Giác Tánh, Tâm Hoàn, Huyền Quang, Huyền Ấn vv…. Đó là, những đóa sen vàng thơm ngát hương thiền, những đấng tu hành đã từng tìm về cái đại hồn của vũ trụ, cái bản thể siêu nhiên, và cái tâm từ bi chân như của Đức Phật. Đó là những bậc cao tăng đã từng phổ vào hồn sống của Phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo Bình Định nói riêng cái hơi thở ấm áp từ bản thể siêu nhiên của vũ trụ vừa sáng tỏa vừa u huyền, vừa tĩnh, vừa động, vừa siêu việt, vừa tiềm tàng, vừa tự do, vừa bao quát …Câu chuyện của chúng tôi vừa là một hoài niệm, vừa là một tâm thức về tâm thức của cái tâm nhà Phật. Cái tâm ấy, là nguồn gốc của cái biết, là ý thức bàn thể của ý thức sự vật, là cái biết toàn diện của tâm, bao hàm cả tình, trí, ý, lực … Đó là cái tâm của bát nhã, là cái thể đồng nhất của vũ trụ, và cũng là cái “Tâm tịnh nhi tri”(tâm ở thể trạng yên lặng, trong sáng mà biết).
Dòng đời như một thác lũ cuốn cuồng, nó trôi chảy mãi và tạo ra bao nhiêu cuộc bể dâu, một thế giới của hiện tượng, thế giới của hữu thể (L’être) vô thường. Tuy nhiên, theo quan niệm của nhà Phật thì không đặt ý niệm hữu thể là cứu cánh cùng đích của con người. Thiền sư Vạn Hạnh đã nêu rõ quan điểm phủ nhận cái hữu (être) ngay từ bản thân con người : “thân như điện ảnh, hữu hoàn vô”. Cái hữu vẫn chỉ là tạm thời của một giai đoạn chuyển hóa đến cái vô, trong quan điểm hiện tượng luận”hữu hoàn vô”. Như cây cỏ, vẫn đổi thay theo bốn mùa mà chuyển hóa. Vì thế, người Phật tử không nên lo sợ trước lẽ biến chuyển của cuộc sống vô thường: “Gẫm vận thịnh suy vô bố úy” và tác giả của bài kệ đã đi đến một xác quyết là hiện tượng thịnh suy của cuộc đời nó thật mong manh và tạm bợ một cách chóng vánh như giọt sương treo đầu ngọn cỏ “Thịnh suy như lộ thảo đầu phô”.
Với Phật giáo, chữ Vô, lại càng đặc biệt chú ý hơn. Ý niệm vô ngã trong đạo Phật càng được chú trọng, nghĩa là đi đến chỗ phủ nhận cái tự ngã. Gần như hầu hết các kinh điển minh triết của Phật giáo đều xây trên chữ vô. Sống theo quan niệm chữ vô là lấy tâm đạo làm chủ, lấy tinh thần làm trọng, lấy nhân ái để xử thế, và căn nguyên của chữ Vô chính là một đường lối tối ư quan trọng, chứ không phải như lối sống của chữ “hữu” theo quan niệm của “hữu thể” chỉ lấy bạo lực để uy hiếp con người, lấy miếng ăn làm trọng, lấy đấu tranh, chém giết làm vinh quang …Tâm đạo là triết lý xây trên chữ Vô, mà là chìa khóa mở kho tàng truyền thống của nhân loại.
Các vị thiền sư Việt Nam từ đời Lý, Trần đã đi theo con đường tâm đạo, lấy cái tâm bát nhã làm cứu cánh cùng đích để sáng soi con đường từ bi mà vượt qua bao thăng trầm của bể dâu thế cuộc. Sau này, và cách đây không xa, các nhà sư Phật giáo Bình Định nói trên, cũng đã dấn thân vào con đường của cái tâm bát nhã từ bi ấy, mà tạo lấy một nét an nhiên tự tại của tâm hồn để dấn bước trên con đường tu trì trải bao phong ba bão táp của lịch sử dân tộc Việt.
Câu chuyện đàm đạo của chúng tôi bị dở dang, vì có sự xuất hiện của một nhà sư vừa xuống xe đạp trước sân chùa. Đó là một nhà sư có tầm vóc cao, da sậm, với bộ nâu sồng đã bạc màu, chiếc nón lá đang đội trên đầu cũng đã cũ kỹ, ngã màu hoen ố….Nhà sư vừa xuống xe, chiếc xe đạp cũ kỹ một chiếc xe có thể nói là “cà tàng”, vì đã dùng lâu năm mà như chưa bao giờ được tu bổ, nên yên xe như bị vẹo cóp, lớp xe trông mòn nhẵn, thắng xe trông thật cọc cạch bên chiếc “guidon” đã rỉ sét sần sùi….Nhà sư dựng xe tựa vào gốc vú sữa bên hiên chùa, rồi lặng lẽ bước vào nhà chùa với những bước đi thật nhẹ vì đôi chân không giày dép gì cả. Khi nhà sư lặng lẽ tiến vào phương trượng, hòa thượng Kế Châu và tôi cùng đứng lên chào đón nhà sư và mời nhà sư cùng ngồi chung chiếc tràng kỷ với chúng để cùng dùng trà giải khát. Tuy nhiên nhà sư vẫn khiêm tôn đứng thủ lễ bên hòa thượng Kế Châu và sau đó ông chọn một chiếc ghế rồi ngồi bên cạnh hòa thượng. Hòa thượng Kế Châu với những lời giới thiệu ngắn gọn:
– Đây là thầy Thiện Nhơn, người vừa mãn hạn học tập cải tạo từ K18 (Kim Sơn) vừa về độ một tháng và hiện nay đang tạm trú tại Chùa Thiên Đức.
Qua lời giới thiệu ấy, tôi thấy lòng mình như lâng lâng vì được gặp một nhà sư mà trước năm 1975, tôi chỉ nghe danh mà không được thấy mặt, thật đúng với câu của người xưa : “văn kỳ thinh, bất kiến kỳ hình”– Bây giờ thì tôi đã “Kiến kỳ hình”…. Tôi đã “Kiến kỳ hình” một nhà sư vóc dáng cao cao, nước da sạm nắng với khuôn mặt đượm nét phong sương, nhưng đôi mắt thật hiền từ cùng với giọng nói nhẹ, trầm, ấm áp, một thứ âm thanh trầm ấm thoát ra những lời từ tốn như hòa nhịp với nét khiêm cung chứa chan từ bản chất. Câu chuyện của chúng tôi trong chiều hôm ấy, không là câu chuyện của : “ Nhật mộ hương quan hà xứ thị”(1) như có lần tôi được nghe thầy Giác Tánh thuật lại ngày trở về của thầy Thiện Nhơn khi rời Kim Sơn, nhưng không được về ở bất cứ một ngôi chùa nào tại Thành phố Quy Nhơn, vì thuở ấy, thầy không có hộ khẩu ở Thành phố đó. Lúc ấy, ngày về của thầy Thiện Nhơn để tiếp tục con đường tu trì xuất gia hành đạo, tưởng chừng như rơi vào tâm trạng : “Cái kiếp không nhà trong bốn biển”(2). Tuy nhiên, duyên thiền của Thiên Đức vẫn còn, vì ngày xưa, thầy Thiện Nhơn đã có thời tu trì ở đó. Do vậy, thầy Giác Tánh, lúc bấy giờ là phó chủ tịch MTTQVN tỉnh Nghĩa Bình, vừa là trụ trì chùa Thiên Đức, nên đã đứng ra bảo lảnh cho thầy Thiên Nhơn được về tu ở Thiên Đức, và làm kẻ thừa kế cho thầy Giác Tánh về sau …
Câu chuyện của chúng tôi trong chiều hôm ấy cũng không là câu chuyện “Thời xa vắng” của nhà văn Đại tá Lê Lựu và cũng không là câu chuyện ca tụng chàng Paven trong “Thép đã tôi thế đấy”, một tác phẩm đắc thời của nhà văn Liên Xô cũ Nicalaiasteropski. Trong gặp gỡ thân tình, chúng tôi chỉ trao đổi nhau về quan niệm Phật giáo của cụ Nguyễn Gia Thiều qua chuyện:
“Cái quay búng sẵn lên trời
Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm”
Với thân phận con người như “cái quay búng sẵn lên trời” ấy, và trong cõi “minh minh chi trung”, nhà nho Nguyễn Gia Thiều đã chọn một cách thế nhìn đời thật minh triết. Đó là cái nhìn cuộc đời là một vô thường như nhà Phật đã dạy. Thân phận con người trong cõi vô thường ấy cũng chỉ là “Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê” mà thôi. Thế giới quan của Phật giáo đã choàn phủ cả vạn vật trong lẽ vô thường, là hư huyễn trong chu kỳ “sinh trụ di diệt”. Từ “mộc thạch” cho đến “cầm ngư” cho đến “nhân sự” cũng như “cỏ cây”, tất cả đều đi đến hủy diệt trong ý niệm của vô thường, của hư huyễn:
“Hình mộc thạch vàng kim ố cổ
Sắc cầm ngư ủ vũ ê phong
Tiêu điều nhân sự đã xong
Cỏ cây cũng huyễn, côn trùng cũng hư”
(CONK)
Đó là cái nhìn, mới thoáng qua như có vẻ bi quan, nhưng thực chất, đó là một cái nhìn xuyên suốt từ bản chất của cuộc sống. Trong cái lẽ vô thường, cuộc sống của con người chỉ là cõi tạm, mà trong cõi tạm này, nhà nho Nguyễn Công Trứ cũng đã từng quan niệm:
“Ôi nhân sinh là thế ấy
Như bóng đèn, như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao”
Cuộc đời là hư huyễn và cảnh đời cũng chỉ là “cảnh mộng” lắm “tang thương”:
“Lởm chởm gừng vài khóm
Lơ thơ, tỏi mấy hàng
Vẻ chi là cảnh mộng
Mà cũng lắm tang thương”
(Ôn như hầu Nguyễn Gia Thiều)
Tang thương là vì vật chất không phải là vật thường trụ, nó có thể biến đổi trong nháy mắt, nhưng sự hủy diệt ấy cũng chỉ là một huyễn diệt mà thôi. Vì vật chất tuy bị tiêu diệt, mà thực sự là diệt đi để sinh ra năng lực, mà năng lực diệt đi là để vật chất sinh ra. Hai hình thái ấy có thể biến đổi lẫn nhau…Cho nên sinh và diệt cũng chỉ là giả tướng của nó biến hóa, chứ bản thể thì chưa từng sinh diệt, cũng chưa từng chuyển biến, nói như thiền sư Đào Thuận Châu :
“Chân tính thường vô tính
Hà tằng hữu sinh diệt”
Từ quan điểm ấy nên kẻ hành giả Thiện Nhơn vẫn thản nhiên trước những thịnh suy của cuộc thế, vì ông luôn giữ cho cái tâm được tự tại, an nhiên và vẫn “vô bố úy” trước những thịnh suy của thế cuộc.
Câu chuyện của chúng tôi lại dẫn đến cái tâm của nhà Phật. Đó là cái tâm thường trụ, bất biến và bao trùm cả vũ trụ. Cái tâm ấy đồng nhất với bản thể của vũ trụ, nến có tính “bất nhị”, không có sự chia phân giữa chủ thể và tha thể, giữa ta với người, giữa trong với ngoài, không có cái gì riêng là của ta hay của kẻ khác ta. Đó là cái tâm đại bình đẳng mà nhà Phật gọi là tâm bát nhã, tâm chân như. Đó là cái tâm của “Le moi, non le moi”, cái ta không là ta và không hận thù với bất cứ ai. Ngược lại, cái tâm của chúng sinh thì lại khác. Vì vô minh che lấp, nên cái tâm ấy đã lầm tưởng là khác biệt giữa tha nhân với tha nhân, giữa tha nhân với ngoại cảnh nên phân chia ra nội, ngoại, phân ra thắng, thua, ta, địch trong cuộc đấu tranh giành quyền thế trên đời. Đó là cái tâm chấp ngã, cái tâm mê loạn của chúng sinh mà con người trong cuộc thế mới bị khổ đau, luân hồi bất tận :
“ Mùi phú quý nhử làn xa mã
Bã vinh hoa lừa gã công khanh ”
Vì vô minh nên mới có quan niệm sai lầm là chấp có cái TA nên nhìn sự vật trên đời với “cái tâm sai biệt” vì vô minh nên mới có sự ham chuộng vật chất “phú quý, công danh”. Vì vô minh, nên mới thổi phồng cái TA và làm quan trọng hóa cái TA để làm mưa làm gió trong cuộc đời, hoặc đẩy lên một ý thức tôn sùng cá nhân một cách mù quáng mà quên rằng cái thực thể tôn sùng hỉ, nộ, ái, ố kia cũng chỉ là trò ảo hóa :
“Trò ảo hóa đã bày ra đấy
Kiếp phù sinh trông thấy mà đau
Trăm năm còn có gì đâu
Chẳng qua một nấm cổ khâu xanh rì … !” (CONK)
Từ tình trạng vô minh, nên cái tâm chúng sinh đã lấy cái ảo làm cái thật mà diễn trò trong “kiếp phù sinh” cứ mê lầm rằng đó là vĩnh hằng, là thiên thu bất tận, là vĩ đại, siêu nhân là anh hùng vạn thuở… Vì tình trạng vô minh ấy, nên có những vọng động của tâm, những tác động tinh thần của việc làm mà sinh ra cái gọi là trí biện biệt, hay là ý thức về nhị nguyên (conscience dualiste). Vì ý thức nhị nguyện, nên có sự phân chia danh sắc, có xúc tiếp với sự vật, nên sinh ra cảm giác sướng khổ mà ham mê khoái cảm với “mùi phú quý”. Vì ham sướng, sợ khổ, khiến lòng sinh ra khát khao cái “bã vinh hoa” và níu kéo sự vật về mình để cung phụng lòng khao khát “công hầu khanh tướng” ấy. Từ sự ham muốn danh lợi, chức quyền nên sản sinh ra óc tham quyền cố vị, ngạo mạn, tự đắc, tự tôn, tự đại…. Từ cái “tâm ngã kiến” sinh ra cái “tâm ngã mạn”, cho mình là trọng tâm của mọi sự vật trên đời. Đối với kẻ khác thì mình là trọng yếu hơn, đáng yêu hơn, mình là anh hùng cải thế, đem lại ánh quang minh cho mọi người và do đó tìm đủ mọi cách để chiếm đoạt tất cả mọi thứ tiện nghi vật chất có thể hưởng thụ được, để mà cung phụng cho cái TA. Phải chăng, đó là đầu mối tạo ra các nghiệp ác, do tham, sân, si,… tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoa ngôn, vọng ngữ, ác khẩu, ác tâm, tà kiến… đều ụp vào xã hội con người những đau thương bất tậm là thế.
Với cái tâm bát nhã của một Phật tử thiện thành, thì dù có ở nơi nào, dù ngoài nhà tù hay trong nhà tù, dù ở thiền viện hay ở giữa chợ đời, dù ở nơi thanh tịnh hay nơi huyên náo ô trọc… thì con người ấy vẫn thản nhiên nhi nhiên, sống như đóa sen vàng dưới ánh mặt trời, tỏa hương thơm lành, dẫu gần bùn nhơ nhưng không vướng mùi tục lụy. Thầy Thiện Nhơn đã đem cái tâm bát nhã ấy mà ứng với thực tại cuộc đời. Dù là ở nơi chùa chiền hay nơi chiến tuyến, dù là ở địa vị tuyên úy của một nhà sư, hay là con người ở nơi cải tạo Phú Nhiêu, Kim Sơn ….thì người vẫn thản nhiên với cái tâm từ bi mà sống. Ở đây, có thể mượn câu phương ngôn của nho gia : “Quân tử, thượng bất oán thiên, hạ bất vưu nhân” để nói lên thực trạng tâm lý ấy. Người đã chân thành thổ lộ với chúng tôi rằng : “Tuy có bị hạn chế trong khuôn khổ nhà tù, nhưng khung cửa hẹp và bầu trời hạn hữu của trại tập trung dẫu có hạn chế đi chăng, cũng chỉ là vấn đề ngoại tại”.
Nhớ thuở nào, còn là một tuyên úy Phật giáo, thầy vẫn sống một nếp sống đạm bạc với lòng chăm lo phục vụ Phật sự, thầy còn có dịp cưu mang hoặc che chở cho những con người bị lao đao trước thời cuộc, những bạn trẻ trong tuổi học sinh đã tranh đấu chống chế độ cũ Sài Gòn, bị đẩy vào bước đường cùng, nhưng cũng được thầy Thiện Nhơn ra tay tế độ. Cũng có khi trên đường Phật sự, đột xuất có người đón xe xin quá giang, khi chính họ đang bị sự hiểm nguy đe dọa đến tính mệnh, dù kẻ ấy là ai…. Nhưng thầy Thiện Nhơn vẫn vui vẻ đón nhận họ vượt qua khỏi đoạn đường hiểm nguy, một việc làm không khác với bà “Phiếu mẫu” thuở xưa đã nhường bát cơm cho Hàn Tín lúc còn thư sinh bạch diện. Những việc làm ấy đều xuất phát từ cái tâm từ bi của một tu sĩ Phật giáo, cái tâm bao dung và vô vị lợi, cái tâm chân như của con ngưới Thiện Nhơn.
Là một trung tá tuyên úy Phật giáo quân đoàn II thuở ấy, nhiệm vụ của một tuyên úy vẫn là nhiệm vụ thuần túy của một nhà sư Phật giáo, chuyên lo việc cầu siêu cho các linh hồn binh sĩ bỏ mình nơi chiến địa, đồng thời ủy lạo tinh thần cho các thân nhân và gia đình binh sĩ gặp cảnh khó khăn, đau khổ …. Nói chung, đó là việc làm của một tuyên túy trong quân đội thời ấy. Việc làm ấy chỉ nhằm mục đích phục vụ cho con người, cho tôn giáo theo hướng giải thoát con người khỏi những khổ đau của trần thế. Cái quân hàm trung tá của một nhà sư tuyên úy, chỉ là quân hàm có tính cách giả định chứ không phải thực thụ. Giả định, vì nó có tính chất tạm thời, vì ngày nào còn làm cái việc tuyên úy thì nhà sư ấy được đồng hóa với cấp bậc quân sự theo hệ thống quân giai như thế để phục vụ công việc tuyên úy như đã nói trên mà thôi. Khi nào hết hạn phục vụ tuyên úy trong quân đội thì cấp bậc theo quân hàm ấy cũng bị xóa nốt. Lối tổ chức tuyên úy trong quân đội của chế độ Sài Gòn cũ gồm : tuyên úy Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin lành… Hệ thống tuyên úy từ cấp trung đoàn đến sư đoàn và đến quân đoàn. Đó là thể cách quân sự hóa những chức sắc tôn giáo đi vào phục vụ các lễ lạc tôn giáo tổ chức trong quân đội của chế độ cũ, từ việc cầu siêu, cầu kinh, ma chay cho đến việc ủy lạo gia đình binh sĩ vv… Thầy Thiện Nhơn cũng đã có lần đi vào công việc ấy, trong những năm của thập niên 70 thuộc thế kỷ trước. Vào sau năm 1975, việc làm ấy đã chấm dứt, và mọi việc có thể nói là sau khi thầy được học tập cải tạo ở Kim Sơn (K18) về, thì xem như : “Túc khiên đã rửa lân lân sạch rồi”(Nguyễn Du – ĐTTT).
Những tháng ngày sau khi ở Kim Sơn (K18) về, có lẽ là những tháng ngày thanh thản nhất của nhà sư Thiện Nhơn. Với ngôi ngôi Chùa Thiện Đức, một ngôi chùa mà nhà sư đã có một thời gian tu trì ở đó vào những năm khói lửa của cuộc kháng chiến chống Pháp. Và cũng từ ngôi Chùa này, nhà sư Huệ Chiếu đã dày công kế tục xây đắp và giữ gìn, dù cho trải qua chín năm kháng chiến chống Pháp đầy gian khổ và lắm thăng trầm về cuộc sống. Từ ngôi chùa này, nhớ lại những sự đổi thay của thời thế, nhớ lại những cao trào cách mạng trong các giai đoạn kháng chiến chống Pháp từ giai đoạn phòng ngự, đến giai đoạn cầm cự rồi chuyển mạnh đến giai đoạn tổng phản công. Trong khi tiền tuyến đang tổng phản công bằng các chiến dịch lớn như chiến dịch Điện Biên để tiêu diệt quân thù, thì hậu phương nông dân nô nức phóng tay phát động quần chúng đấu tố địa chủ, cải cách ruộng đất để đem lại quyền lợi trực tiếp cho người nông dân, đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Pháp mau đến thắng lợi.

Trong khi là chứng nhân của cuộc cải cách từ bổn sư của mình là nhà sư Huệ Chiếu, tiếng nói lương tâm của đệ tử Thiện Nhơn đã trở thành một tất yếu của nhận thức trước điều đúng và sai, vì thế, trong thời ấy thầy Thiện Nhơn đã có dịp sống dưới bầu trời Phú Nhiêu của Bình Định. Với những tháng ngày trôi qua dưới bầu trời Phú Nhiêu, thiền sư Thiện Nhơn cũng đã có những cảm nhận thật hồn nhiên của những năm tháng sống dưới bầu trời của quê hương ấy. Cái cảm giác mà thầy nhắc đến chính là cảm giác tuy có bị đóng khung trong bầu trời hạn hữu, tuy có bị hạn chế về tự do đi lại, trong sinh hoạt thường ngày, nhưng cái tâm chân như của kẻ tu hành vẫn là tự tại như đang nhập thế vào một đại hồn của vũ trụ. Nói như Mãn Giác thiền sư : Dẫu rằng mùa xuân đã tàn, muôn hoa đã rụng, nhưng đêm qua, trước sân vẫn có một cành mai đang nở :
“Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”
Đó là cành mai của vĩnh hằng, một cành mai biểu trưng cho bản thể của vũ trụ, bất sinh bất diệt, cành mai của tâm tưởng an nhiên mà vị thiền sư đang hòa nhập cùng đại hồn của vạn vật.
Những ngày về lại với hồi chuông, tiếng mõ, câu kinh ở ngôi chùa cũ Thiên Đức, cũng là chuỗi ngày mà thầy Thiên Nhơn có dịp nhớ lại những gì là phong trần từ sơn khê đến miền thảo dã, nhớ lại vầng trăng thẫn thờ trên đồi núi Kim Sơn mà liên tưởng đến vầng trăng dưới nước trong một bài kệ :
“Tác hữu trần sa hữu
Vi không nhất thiết không
Hữu không như thủy nguyệt
Vật trước hữu không không”
Có người đã dịch rằng :
“Bảo có, bụi cát đều có
Bảo không, hết thảy đều không”
Có, không, ví như nước phản chiếu vầng trăng, chớ chấp có, phủ nhận không, cả hai đều không phải là thực tại tuyệt đối thường tồn.
Dó là một bài kệ nói về Phật tâm của thiền sư Từ đạo Hạnh mà thầy Thiện Nhơn rất tâm đắc.
“Chớ nói có, phủ nhận không, cả hai đều không phải là thực tại tuyệt đối thường tồn”. Đó là một ý niệm về thiền của Phật giáo và cũng là một ý niệm phủ nhận quan điểm “nhị nguyên”“có” và “không” trong một thế giới bất thường tồn. Kẻ hành giả Thiện Nhơn dù bất cứ ở trong thời điểm nào, hoàn cảnh nào, vẫn không xa rời con đường tu trì, dù gian khổ chẳng sờn lòng, dù hiểm nguy vẫn không lay chuyển được cái tâm tu trì của kẻ “ăn chay nằm đất” dù có lúc không có bàn Phật ở trong ngôi chùa để tụng kinh với hồi chuông, tiếng mõ, nhưng kẻ tu trì ấy vẫn luôn luôn niệm tâm kinh và chân kinh rạng rỡ trong tâm hồn. Là kẻ tu hành, thầy Thiện Nhơn luôn luôn chấp nhận một cuộc sống giản dị, chấp nhận sự sống khổ hạnh thì nệm ấm chăn êm và các tiện nghi về cuộc sống vật chất, đâu phải là điều mà kẻ tu hành hướng đến. Người tu về đạo Phật cũng luôn luôn biết rằng sự tri túc (biết đủ) sẽ đem tới sự an lạc. Biết sống đơn giản, là điều kiện tốt cho việc hành đạo, do đó, dù bất cứ ở ngoài đời hay trong nhà tù, kẻ hành giả luôn lấy sự đơn giản và thanh đạm để sống trong tu đạo và để giúp đời. Người hành đạo, tuy đi vào đời để hóa độ, nhưng không bao giờ bị chìm đắm trong cuộc đời. Người xuất gia, khi vào đời để cứu độ thì vật sở hữu duy nhất của mình chỉ có y bát mà thôi. Luôn chọn nếp sống thanh cao, đem lòng từ bi mà tiếp xử với tất cả mọi người mọi loài. Đó cũng chính là phương châm hành đạo của kẻ hành giả Thiện Nhơn. Những năm tháng về lại Thiên Đức, những năm tháng của cuối cuộc đời, nhưng với vị trụ trì Thiện Nhơn, ngôi chùa ấy hôm nay khang trang cao đẹp hơn xưa đó là do bao nhiêu công quả của Phật tử thập phương cũng như những hạnh duyên của cửa thiền Thiện Đức đã tạo nên vậy.
Cũng trong thời gian của những năm cuối cuộc đời, thời gian của thập niên đầu thế kỷ 21, tuy tuổi cao, sức yếu nhưng hòa thượng trưởng lão Thiện Nhơn đã cùng hòa thượng Nguyên Phước cùng các vị thượng tọa, đại đức, tăng ni của Bình Định tham gia trong công cuộc tiếp tục xây dựng và lãnh đạo giáo hội Phật giáo tỉnh Bình Định đi vào con đường hoằng dương đạo pháp và thực sự đưa Phật giáo cùng hòa nhập vào mạch sống dân tộc Việt Nam.
Hòa thượng Thiện Nhơn vẫn ung dung nở nụ cười và từ tốn nhắc lại câu nói xa xưa của một bậc hiền triết nào đó, gợi lên thái độ sống của người quân tử với cái tâm bao dung vô cố, vô chấp.
“Phong lai sơ trúc, phong khứ nhi trúc bất vị thanh
Nhạn quá hàn đàm, nhạn khứ nhi đàm bất lưu ảnh
Thị cố quân tử : sự lai tâm tức ứng, sự khứ tâm tùy không”
Tạm dịch : (Gió thổi vào khóm trúc, khi gió đi rồi, trúc không còn một âm hưởng gì của gió. Chim nhạn bay qua đầm lạnh, khi chim bay qua rồi, thì mặt nước đầm không còn lưu lại bóng chim nữa. Cho nên người quân tử khi gặp việc đến thì đem lòng ra giúp, khi việc đã xong rồi thì lòng trở về vô tư, không còn nghĩ gì đến công lao vương vấn nữa). Qua câu trưng dẫn ấy, có lẽ người ta cũng thấy được một cách thế sống với một cái tâm vô tư lợi, cái tâm cửa một hành giả đi vào đạo, khác hẳn với cái tâm của một chúng sinh đang bị ràng buộc trong thế giới vô thường với cái nhìn “nhị nguyên” của cuộc sống ….
Nhớ lại lần gặp gỡ đầu tiên, nhớ cái cung cách dung dị và khiêm tốn mà tôi đã nhận thấy từ con người của thầy Thiện Nhơn đã toát lên một dáng vẻ của một con người thuần hậu và trầm lắng tự tâm hồn. Tôi còn nhớ mãi buổi chiều hôm ấy, buổi chiều tôi được gặp thầy tại tổ đình thập tháp A Di Đà, cho đến khi thầy ra về, tôi và hòa thượng Kế Châu đã tiễn thầy ra đến tam quan, trong khung cảnh buổi chiều sắp tàn, với một không gian tĩnh lặng, nhưng nét mặt và dáng điệu của thầy Thiện Nhơn như càng tĩnh lặng hơn. Một sự tĩnh lặng của “Không gian như có dây tơ. Bước đi sẽ dứt, động hờ sẽ tiêu”, nói như nhà thơ Huy Cận đã nói : …Thầy đã đi, hòa thượng Kế Châu và tôi, trước khi trở gót vào chùa, lại thẫn thờ nhìn vào câu đối trước cổng tam quan :
“Nguyệt hạ bất xao kim tỏa đoạn
Sơn tiền chỉ nhậm bạch vân phong”
Trong không gian tĩnh lặng và thực thực, hư hư như thế này, ý tưởng của câu đối kia như đưa hồn người vào một phi tưởng, phi tưởng xứ nào đó. Ngoài kia, chiều xuống dần, trăng chiều cũng đã lên, và ngọn núi “mò o”xa xa ngự trước mặt chùa với những vầng mây trắng còn vấn vương trên đỉnh núi. Sen trong ao trước Chùa đang tỏa hương thanh diệu và nguyệt đã lồng dưới đáy ao, sóng gợn lăn tăn …. Đó là cuộc gặp gỡ thật khó quên, mà hôm nay tôi cầm bút ghi lại những dòng này, khi thầy Thiện Nhơn đã không còn tại thế mà lòng tôi thì vẫn cứ nao nao nhớ … một nỗi nhớ bất tận đang hiện hữu trong tâm hồn tôi.
Chú thích :
(1) Thơ “Hoàng hạc lâu ”của Thôi Hộ
(2 Thơ của cụ Phan Châu Trinh
Ảnh : Lễ truy niệm Cố Hòa Thượng Thích Thiện Nhơn tại Viện Vạn Hạnh (Australia)

Số lần đọc: 37
