Chương 7 – Di Lặc Phật giáo

Đời Đường, Phật giáo Tịnh Thổ tông tuyên xưng, mỗi người ai ai cũng có thể thành Phật, nói rằng chỉ cần niệm một tiếng A Di Đà Phật là có thể diệt đi hết tội nghiệt tám mươi ức kiếp sinh tử, được công đức vi diệu tám mươi ức. Bởi giáo nghĩa đơn giản, phương pháp dễ dãi, thỏa mãn nguyện vọng của vô số người chết muốn đến tây phương cực lạc thế giới, do đó mà lưu truyền trong dân gian, Nam Vô A Di Đà Phật thành ra câu nói thông thường của giáo đồ Di Lặc. Di Lặc giáo truyền tới Trung thổ, người ta kết hợp Phật Di Lặc với con người thành ra ông Phật mặc áo cà sa hở một bên ngực, cười tít mắt, đến thời Đường Vũ Tông, ông ta ra lệnh hủy diệt giáo phái, Di Lặc giáo mới từ từ suy nhược đi.

Do đó, lúc Bành Doanh Ngọc bắt đầu truyền giáo lại, rất nhiều người đua nhau gia nhập, chu vi chỗ ông ta đặt đuốc, bách tính ở Viên Châu bắt đầu tổ chức hàng ngũ, bọn họ tôn Bành Doanh Ngọc làm Tổ sư gia, rồi thôi cử đệ tư” đắc ý của Bành Doanh Ngọc là Chu Tử Vượng làm đầu mục. Đến năm thứ tư nhà Nguyên (1338), Bạch Liên giáo ở Viên Châu liên lạc với Chu Tử Vượng khởi binh phản nhà Nguyên, lúc đó Di Lặc giáo đồ ở Viên Châu đã hơn năm ngàn người, dưới sự thống lãnh của Chu Tử Vượng cử hành khởi nghĩa, trước đó, sau lưng mỗi người đều có thêu một chữ Phật, do Bành Doanh Ngọc dùng nước thánh, vẽ một vòng tròn, biểu hiện Phật quang, để cầu Phật tổ bảo hộ, trước ngực thì vẽ một vầng thái dương, biểu hiện khát vọng quang minh. Có điều, bởi vì quân khởi nghĩa chưa từng qua một huấn luyện nghiêm túc nào, đội ngũ tán loạn, lập tức sau đó bị quân Nguyên trấn áp, Chu Tử Vượng bị giết, Bành Doanh Ngọc bị bức phải trốn về Hoài Tây, ở đó lại bí mật gầy dựng lại giáo đồ.

Đến năm mưỜi một nhà Nguyên (1351), Bạch Liên giáo chủ Hàn Sơn Đồng ở bắc phương là Đồi Châu khởi nghĩa thành công, lập ra nhà Tống, sai người đến Hoài Tây liên lạc với Bành Doanh Ngọc cùng nhau cử sự, lật đổ chế độ thống trị tàn bạo của nhà Nguyên, Bành Doanh Ngọc bấy giờ mới quyết định khởi nghĩa. Lúc đó, ông ta truyền giáo ở Hoài Tây đã đưỢc hơn mười bốn năm, gầy dựng được mấy vạn giáo đồ, ông ta hấp thu được kinh nghiệm khởi nghĩa thất bại lần trước, bồi dưỡng hai tên đệ tử đắc ý, một người là Nghê Văn Tuấn, một người là Đặng Tấn Thắng, để bọn họ âm thầm dạy giáo đồ thao luyện binh mã, làm thành tổ chức có quy tắc chặt chẻ, quản lý đâu vào đó. Đặng Tấn Thắng không những công phu cao cường, tính tình cũng rất thâm trầm cơ trí, có đảm lược mưu mô, dưới sự lãnh đạo của ông ta, Di Lặc giáo thành ra một tôn giáo bí mật có tổ chức lớn lao, vì chuyện cử hành khởi nghĩa, Bành Doanh Ngọc cứ mãi đi tìm trong dân gian một vị hoạt Phật truyền thế. Lúc đó, ở La Điền có một người bán vải tên là Từ Thọ Huy, người này trời sinh dị tướng, hai dái tai rủ xuống tới vai, hai tay quá đầu gối, thân hình khôi ngô tướng mạo đường đường, không những vậy còn có đồng tử đôi, có nghĩa là con mắt có hai đồng tử, rất là hiếm có, truyền thuyết con người trời sinh có hai đồng tử là có tướng của đế vương, Nghiêu Vũ thời cổ đại cùng Hạng Vũ đều là trời sinh có hai đồng tử. Hành Doanh Ngọc gặp Từ Thọ Huy rồi, bèn lập tức nhận định y là người truyền thế của Phật Di Lặc, tuyên bố với giáo đồ Từ Thọ Huy là hoạt Phật truyền thế do trời phái xuống, là Phật cứu khổ cứu nạn của bách tính lê dân.

Năm đó, Bành Doanh Ngọc cử hành khởi nghĩa ở ? Hoàng, trên cờ của nghĩa quân thêu một cái mặt trời đỏ chói, mọi người mặt áo quần trắng đục, trưỚc ngực thêu vầng thái dương màu đỏ, sau lưng thêu một chữ Phật và một vòng khuyên phía ngoài, biểu hiện có thần linh bảo vệ. Từ Thọ Huy trên danh nghĩa là lãnh tụ của nghĩa quân, thực tế, quyết định nhất thiết đều do Bành Doanh Ngọc phát ra, quân khởi nghĩa bởi đã có huận luyện nghiêm túc trước khi khởi sự, nguyên một đường đi đến đâu cũng thế như chẻ tre, trong một thời gian ngắn đã công phá Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, An Vi mấy tỉnh.

Tháng mười năm đó, Bành Doanh Ngọc kiến lập chính quyền ở Vũ Xương, lập quốc hiệu là Thiên Tông, ý nói là áp đảo triều đình nhà Nguyên, Từ Thọ Huy được tôn lên làm hoàng đế, trên thực tế, đại quyền nhất thiết đều nằm trong tay Bành Doanh Ngọc. Bành Doanh Ngọc là một hoà thượng, không đảm nhiệm chức vụ gì cả, chỉ dùng thân phận tổ sư để phát hiệu thi lệnh, cơ cấu của chính phủ trung ương của nước Thiên Tông gọi là Liên Hoa Đài, chính là Liên Hoa bảo đài trong Tịnh Thổ Phật giáo. Bành Doanh Ngọc quy định Thiên Tông quân không được quấy nhiễu giết hại bách tính, không cho gian dâm cướp bóc, tài vật phải đem sung vào công quỹ, đồng thời mệnh lệnh quân đội mặc áo giáp vào, thủ tiêu hết áo quần đã mặc lúc đầu khởi nghĩa, có điều, thường thường gặp nhau phải cúi đầu chào, miệng thốt Di Lặc phật hiệu, tức là A Di Đà Phật.

Chính lúc Thiên Tông quyền lực càng ngày càng lớn mạnh, Bành Doanh Ngọc bất hạnh, chiến tranh năm thứ hai bị phản đồ bán đứng, trúng mai phục của quân Nguyên bị giết chết, đệ tử của Bành Doanh Ngọc là Nghê Văn Tuấn không có mưu lược, thực quyền trong quân đội dần dần lọt vào tay đệ tử của Nghê Văn Tuấn là Trần Hữu Lượng, tên Trần Hữu Lượng này vốn là kẻ có dã tâm lớn lao, hắn giết Nghê Văn Tuấn và Từ Thọ đi, rồi tự mình lên làm hoàng đế, đổi quốc hiệu là Hán quốc, Trần Hữu Lượng hạ lệnh cấm chỉ quân đội không được tin theo Di Lặc Phật giáo nữa, Hán quân từ từ thoát ly ra khỏi khống chế của tông giáo, một số tín đồ cũng thoát ra khỏi đội ngũ của quân Hán. Nhưng người đệ tử kia của Bành Doanh Ngọc là Đặng Tấn Thắng cũng có mưu lược, ông ta đã âm thầm chọn được một ngưỜi, đề phòng chuyện bất trắc, người này tên là Minh Ngọc Trân, trời sinh cũng có đồng tử đôi, thân hình cao lớn, tướng mạo tuấn mỹ. Đặng Tấn Thắng vẫn tôn sùng Di Lặc Phật, suy tôn Bành Doanh Ngọc làm tổ sư gia, rất nhiều người theo vào dưới trướng của ông ta, Đặng Tấn Thắng chết rồi, quân đội bèn do Minh Ngọc Trân thống lãnh, ông ta thấy Trần Hữu Lượng là kẻ phản đồ giết chúa, còn đem mủi giáo đẩy về hưỚng mình, lúc đó thực lực của ông ta thua Trần Hữu Lượng xa lắc, do đó ông ta bèn học Gia Cát Lượng năm xưa, đem quân tấng công vào Tứ Xuyên, ở đó phát triển và chờ thời cơ. Đến năm 23 nhà Nguyên (1362), Minh Ngọc Trân xưng đế ở Trùng Khánh, lấy quốc hiệu là Đại Hạ, ông ta tôn Bành Doanh Ngọc làm tổ sư, lấy Di Lặc giáo làm quốc giáo, đồng thời lập miếu từ thờ Từ Thọ Huy xuân thu bốn mùa. Trần Hữu Lượng vì phản lại giáo phái, mọi người từ từ phân tán, năm 1364 bị Chu Nguyên Chương đem quân đánh vào Vũ Xương, Trần Hữu Lượng bị giết, Hán quốc thế là bị diệt vong.

Chu Nguyên Chương xuất thân từ Minh giáo, ông ta vốn là nột tiểu hoà thưỢng, quê quán ở Phố Huyện, cha mẹ bị ôn dịch chết, đại ca gởi ông ta đến chùa Hoàng Giác làm tiểu hoà thượng, bởi vì Hoài Tây quanh năm bị hạn hán không đủ cơm gạo cho các chùa chiền, các hoà thượng phải bỏ chùa đi vân du, Chu Nguyên Chương đi vân du đến chỗ Bành Doanh Ngọc đang truyền bá Di Lặc giáo, lúc đó Minh Giáo, Di Lặc giáo và Bạch Liên giáo ba tông giáo hỗ tương thành một phe, giáo đồ đối với bách tính tuyên xưng là có minh vương xuất thế, Di Lặc phật hàng xuống thế gian, thiên hạ hết đại loạn rồi sẽ có thái bình cực lạc thế giới. Châu Nguyên Chương do đó tham gia vào Hồng Bố quân của Quách Tử Hưng, Quách Tử Hưng là tướng dưới quyền của Hàn Sơn Đồng của Bạch Liên giáo, bọn nghĩa quân do phải cộng đồng đối phó với quân Nguyên, cho nên thôi cử Hàn Sơn Đồng làm minh vưƠng, thống nhất quân đội. Chu Nguyên Chương tham gia vào Hồng Bố quân của Quách Tử Hưng rồi, rất được Quách Tử Hưng quý trọng, xem ông ta là tâm phúc, đem con gái nuôi của mình gã cho ông ta.

Quách Tử Hưng chết rồi, Chu Nguyên Chương dần dần nắm hết đại quyền, quân đội ngày càng lớn mạnh lên, do đó lúc Minh Ngọc Trân xưng đế năm đó, ông ta cũng xưng vương ở Thiên Phủ, hiệu là Ngô vương. Mười mấy năm sau đó, ông ta từ từ tiêu diệt Hán Quốc của Trần Hữu Lượng, rồi giết con của Hàn Sơn Đồng là tiểu minh vương Hàn Lâm Nhi, dẹp tan các thế lực khác, rồi năm 1368, đem quân tấn công vào Đại Đô, đuổi quân Mông Cổ ra ngoài sa mạc, nền thống trị của triều Nguyên thế là bị sụp đổ. Do đó Chu Nguyên Chương bèn lên làm hoàng đế, đổi quốc hiệu là Đại Minh, ông ta làm hoàng đế rồi, sợ mọi người lợi dụng Di Lặc giáo phản lại mình, bèn hạ lệnh cấm chỉ nhất thiết mọi hoạt động của tôn giáo, ghép Di Lặc giáo, Minh giáo, Bạch Liên giáo thành ra tà giáo, đồng thời tấn hành một phen trấn áp tàn bạo. Đặc biệt là nước Đại Hạ nơi lấy Di Lặc giáo làm quốc giáo, ông ta lại càng thù hận thấu xương, do đó tập trung toàn quốc binh lực, phái đại tướng Bác Hữu Đức, Liêu Vĩnh Trung đem đại quân vào Tứ Xuyên, trải qua ba năm dài, rốt cuộc diệt nước Đại Hạ, giải trừ mối đại hoạn tâm phúc.

   Số lần đọc: 10044

BÌNH LUẬN

Vui lòng viết bình luận của bạn
Vui lòng điền tên của bạn ở đây

Bài Cùng Tác Giả