Trời miền Bắc Louisiana trở lạnh. Tuyết rơi nhẹ khi tôi đang lái xe trên đường đến bệnh viện lúc 6 giờ sáng. Tôi bắt đầu ngày làm việc ở khu Săn Sóc Đặc Biệt (SSĐB) của Trẻ Sơ Sinh lúc 6 giờ 30. Tôi phải đi qua khu SSĐB này 4 tháng trong năm đầu của chương trình huấn luyện sau đại học Nhi Khoa.
Một buổi sáng, khi tôi đang đứng rửa tay trước khi vào phòng SSĐB thì cô y tá người Mỹ lai Nhật đến gần tôi nói nhỏ:
– Dr.Nguyen, the boy’s gone!
Tôi giật mình lo âu. Hai bàn tay tôi tự động ngưng cọ xát vào nhau. Tôi quay lại hỏi cô y tá:
– Khi nào vậy Kim?
Cô y tá đáp nhỏ như không muốn người chung quanh nghe:
– Khi hôm.
Tôi chưa kịp hỏi thêm điều gì, cô đã lặng lẽ quay trở về phòng làm việc của cô. Trước đó vài tuần, tôi có nhận một trẻ sơ sinh thiếu tháng được chuyển từ bệnh viện khác đến. Tôi không nhớ tên thật của em bé là gì. Em gầy như một bộ xương. Đầu em dài, trán cao, mắt lớn, tay chân lòng khòng như những que củi. Y tá gọi đùa em là ET*. ET bị bệnh phổi do sanh thiếu tháng. Lượng thán khí (CO2) trong máu em thường tăng rất cao. Cả hai y sĩ giảng huấn của khu SSĐB đều để ý nhiều đến trường hợp của ET nhưng khổ thay họ lại không đồng ý với nhau trong phương cách trị liệu. Một sáng, viên y sĩ người Mỹ trắng ra lệnh trị liệu một cách. Sáng hôm sau, viên y sĩ người Ấn Độ vào sừng sộ tôi và ra lệnh điều trị cách khác. Tôi rất khổ tâm về sự bất đồng ý kiến của hai y sĩ giảng huấn nhưng không làm gì hơn được. Bệnh tình của bé ET càng ngày càng nặng. Một hôm cô y tá trưởng phòng đứng quan sát ET rồi lắc đầu chán nản:
– Có lẽ ET sẽ không qua khỏi đâu bác sĩ, mà nếu ET không qua khỏi thì họ sẽ không ngại đổ lên đầu bác sĩ một trăm thứ tội đó. Bác sĩ nên cẩn thận. Đã có những trường hợp tương tự như trường hợp của ET xảy ra trước đây và tại đây. Hai y sĩ giảng huấn không chịu ngồi lại thảo luận với nhau và đưa ra cách trị liệu chung có lợi cho bệnh nhân, kết cuộc bệnh nhân mất.
Sáng hôm ấy, khi tôi vừa nghe cô y tá Kim nói “The boy’s gone” tôi lại nghĩ ngay đến ET. Tôi vội vã đi thẳng về phía chiếc nôi của ET ở cuối phòng. Ngạc nhiên thay, ET vẫn còn nằm đó thoi thóp, đầu mình tay chân còn nối với nhiều dây nhợ của máy giúp thở, máy theo dõi tim và mấy túi dung dịch. Tôi cảm thấy như vừa trút được một tảng đá nặng đè trên lồng ngực. Tôi đếm đi đếm lại hai lần các bệnh nhân tí hon của tôi. Còn đủ cả tám. Mấy em bé sinh thiếu tháng, có em chỉ lớn bằng cườm tay, vẫn nằm yên trong những chiếc lồng ấp hay trong những chiếc nôi nhỏ. Tôi hỏi cô y tá Kim:
– Kim ơi, Kim nói “The boy’s gone” là em nào vậy?
Kim hạ giọng giải thích:
– Xin lỗi bác sĩ. Ý tôi nói em bé Benson ở phòng bên kia.
– Chuyện gì đã xảy ra cho Benson, em ấy mất rồi à?
Tôi hỏi nhanh. Kim đáp:
– Không mất bác sĩ. Khi hôm họ chuyển Benson về lại bệnh viện Monroe nơi mà trước đây em ấy được sinh ra và được giải phẩu ruột.
Tôi bước qua phòng bên cạnh nơi Benson nằm. Phòng nầy dành riêng cho trẻ sơ sinh lớn hơn không cần đến máy giúp thở. Chiếc nôi của Benson còn đó nhưng trống rổng. Cả những đồ chơi đủ màu, đủ loại của Benson thường được treo lủng lẳng bên nôi của em cũng đã biến mất. Vừa bớt lo tôi lại thấy buồn. Rõ ràng có một thứ gì trống vắng trong căn phòng nầy. Tôi đang đứng thờ thẫn nhìn chiếc nôi trống của Benson thì một bàn tay đặt nhẹ lên vai tôi. Bàn tay của người nữ y tá trung niên tên M. làm việc trong phòng nầy. Giọng bà M. run run:
– He’s gone. He’s gone last night, Doc. My baby’s gone.
Nước mắt bà lăn dài trên hai gò má. Tôi dìu bà ngồi xuống trên một chiếc ghế. Bà kể lể:
– Tội thằng bé quá. Rồi đây ai sẽ săn sóc nó? Rồi nó sẽ ra sao? Tôi thương nó như con ruột tôi bác sĩ ơi. Tôi sẽ xin phép nghỉ một tuần đi Monroe thăm con trai tôi.
Nói xong bà lại tiếp tục khóc. Tôi thấy nặng lòng thêm. Tôi an ủi bà mấy câu. Bà lau nước mắt nhưng vẫn còn thút thít. ôi trở lại với công việc của tôi trong khu SSĐB.
Khi vừa đến khu SSĐB nầy, tôi được một bác sĩ thường trú khác bàn giao lại cho tôi mươi bệnh nhân trong đó có Benson. Hồ sơ bệnh lý của Benson dày hơn nửa tấc. Tôi phải mất hơn nửa giờ để đọc qua và tìm hiểu về những diễn tiến bệnh tình của Benson. Benson ra đời tại một bệnh viện nhỏ ở miền Đông Bắc tiểu bang Louisiana. Mẹ của Benson là một cô bé da đen 15 tuổi. Ra đời vừa được vài hôm thì Benson bị chứng nghẽn ruột và được giải phẩu. Y sĩ giải phẩu đã cắt bỏ đi một đọan ruột thật dài hoại tử của Benson. Khi Benson còn đang nằm trong phòng hồi sức thì mẹ Benson bỏ trốn khỏi bệnh viện. Nhân viên bệnh viện không tìm ra được thân nhân nào của Benson nên đành nuôi em. Benson thường bị tiêu chảy do rối loạn tiêu hóa. Bệnh viện nhỏ không đủ phương tiện nuôi trị em nên chuyển em đến khu SSĐB của bệnh viện lớn nầy của chúng tôi. Benson không ăn uống được như một em bé bình thường vì ruột của em bị cắt ngắn không đủ khả năng tiêu hóa và hấp thụ thực phẩm. Em được nuôi bằng những dung dịch đặc biệt truyền qua tĩnh mạch. Tay chân em lúc nào cũng được nối với những dây truyền thực phẩm hay thuốc men. Khi tôi nhận Benson, em gầy như một con mèo con nhưng em tự thở được. Các y tá biết Benson bị bệnh nặng mà lại không có cha mẹ nên họ săn sóc em rất chu đáo. Thấy em lớn chúng tôi ai cũng mừng, tuy nhiên bệnh tiêu hóa thường trở đi trở lại, có lúc làm em tiêu chảy liên tục và mất nước. Nhiều lần khác Benson bị viêm gan hay sưng phổi. Mỗi lần nhận thấy Benson không vui, không cười và da em tái đi là chúng tôi lo âu vì biết em sắp trở bệnh.
Trong khu SSĐB, sinh viên y khoa, y tá, bác sĩ ai cũng biết Benson không có mẹ nên thường ghé thăm em và tặng em đủ thứ đồ chơi đủ màu, đủ loại. Benson rất thích những đồ chơi phát ra tiếng nhạc và những chú gấu con. Lúc mạnh Benson đùa giỡn với mọi người và cười sằng sặc. Lúc bệnh cũng cố nhoẻn miệng cười với những ai quen mặt. Tuy còn bé nhưng Benson khá thông minh và giỏi chịu đựng. Tôi không thấy Benson khóc nhè như nhiều em bé khác. Điều nầy làm tôi ngày càng thương em vô hạn. Có ngày em phải chịu kim đâm vào mạch máu bốn năm lần mà vẫn cố gắng nhắm nghiền mắt, nhăn mặt chịu đau. Đôi khi tôi thấy nước mắt Benson tràn ra trên hai má em nhưng Benson không la hét hay vùng vẫy. Em chỉ thút thít đôi chút rồi nín. Tôi thường rất khổ tâm khi hai y sĩ giảng huấn thay phiên nhau ra lệnh cho tôi lấy máu Benson làm đủ thứ thử nghiệm. Thương em quá, có lần tôi phải nhờ y tá từ phòng khác làm việc nầy thay tôi. Nhiều lần tôi thấy tim tôi đau nhói khi tôi đâm kim vào mạch Benson, nghe em rên và gồng người chịu đựng. Cũng có lúc tôi nhận thấy một chút oán trách hiện lên trong mắt em khi tôi phải truyền dung dịch nuôi em. Những lúc đó tôi thường bồng Benson vào lòng, vỗ về em ít lâu để em quên đi đau đớn. Các y tá trong khu SSĐB thương Benson như con ruột của họ. Y tá và những bà mẹ tình nguyện thường để dành thì giờ thay nhau bồng bế, nâng niu, vỗ về em. Có lần tôi nghe y tá nói với nhau, “Đừng nói lớn quá. Để cho Benson của tôi ngủ” hay “Đã đến giờ tôi đi lo tắm rửa cho con trai tôi rồi” hay “Benson lên được mấy pound đó mấy bạn ơi”.
Bác sĩ thường trú chúng tôi phải thay phiên trực gác mỗi 2-3 ngày. Ngày trực gác chúng tôi phải làm việc liên tục và phải thức suốt 36 tiếng đồng hồ. Ngày hôm sau phiên trực vẫn phải tiếp tục làm việc. Ngày không trực gác bắt đầu từ 6 giờ 30 đến 9 hay 10 giờ đêm mới bước ra khỏi bệnh viện. Làm việc quá sức và thiếu ngủ triền miên làm chúng tôi, ngay cả những người còn trẻ, trở nên uể oải, mệt mỏi thường xuyên. Nhiều đêm tôi phải uống nhiều ly cà phê đen lớn để chống chọi với những cơn buồn ngủ. Một đêm, vào khoảng 4 gìờ sáng, tôi ngồi viết hồ sơ xuất viện cho bệnh nhân mà thình lình ngủ gục. Tôi vội đứng lên đi lại trong phòng. Khi đi ngang qua nôi Benson tôi ngạc nhiên thấy em đang yên lặng ngồi chơi với hai chú gấu nhỏ. Benson thức giấc ngồi chơi một mình mà không gây một tiếng động hay đòi ai bồng ẵm. Tôi lại gần nôi Benson. Benson nhìn tôi nhỏen miệng cười. Nụ cười trẻ thơ thật đẹp. Tôi cười đáp lại và hỏi nhỏ:
– Benson, em không ngủ à? Giờ nầy còn sớm quá mà sao em đã thức dậy rồi?
Benson ngẩng lên nhoẻn miệng cười lần nữa, rồi cúi xuống tiếp tục chơi với hai chú gấu. Tôi cúi xuống đưa một ngón tay đụng vào bụng một chú gấu. Thình lình bàn tay nhỏ xíu của Benson chụp lấy ngón tay tôi và giữ thật chặt. Benson vừa lắc ngón tay tôi vừa cười. Tôi có cảm tưởng Benson muốn tỏ cho tôi biết là em vui mừng thấy tôi có mặt bên em trong khoảng thời gian khuya khoắt đó. Trong phòng của Benson ngày cũng như đêm đèn luôn luôn sáng. Có lúc tôi tự hỏi, không biết Benson có phân biệt được ngày với đêm không. Lại gần chơi với Benson làm tôi tỉnh ngủ. Tôi cúi xuống hôn lên trán em. Mùi da thịt trẻ thơ thơm dịu. Benson cười trả như cảm ơn. Tôi nghĩ đến đứa con trai bé bỏng của tôi lúc ấy đang ngủ say trong giường ấm bên mẹ ở nhà. Mỗi ngày qua, tôi càng thấy thương Benson hơn. Tôi dỗ Benson ngủ lại. Em ngoan ngoãn nằm xuống giữa hai chú gấu và nhắm mắt ngủ. Tôi liếc thấy trên nôi của Benson có ai treo một tấm thiệp trong đó in một bài thơ:
A Baby’s Prayer
Dear Lord, I am so newly come
I do not know my name
I do not even know yet, Lord,
If I am glad I came
Grant me the time to grow in love,
Rejoice that I am here,
Bless those who make me warm and dry.
Lord, keep my mother near.
Tôi trở lại với chồng hồ sơ nhưng không tiếp tục viết được. Bài thơ làm tôi suy nghĩ mông lung. Bài thơ làm tôi nhớ về những em bé tìm vú bên xác mẹ nơi những con đường di tản ở quê nhà năm xưa, hay trên những chiếc ghe vượt biển tìm tự do bị hải tặc Thái Lan tàn sát trên biển Đông.
Đêm dài lặng lẽ trôi. Tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ treo tường nghe rõ mồn một. Tôi nhìn qua khung của sổ rộng. Chỉ có những bức tường xám đen, vô tri, lạnh lẽo của những toà nhà cao ngất đứng sừng sững bên cạnh bệnh viện. Không có lấy một khung trời nhỏ. Không một bóng mây. Không một ánh trăng. Không một vì sao. Tôi lại chợt nhớ về những vì sao đêm trên vùng trời lao lý Hóc Môn, Tây Ninh, Cà Tum, Đồng Ban, Suối Máu. Nhớ những đêm nhìn sao rơi mà mơ uớc được sống cuộc đời tự do.
Trong phòng vài y tá trực đi lại như những chiếc bóng. Họ không nói cười vui vẻ như lúc đầu đêm vì họ cững đã thấm mệt vào những giờ cuối của một phiên trực.
Họ cũng đang cần giấc ngủ như tôi.
Benson thường trở bệnh, nhưng dần dần cũng lớn lên thành một chú bé 6 tháng dễ thương. Khuôn mặt em bầu bĩnh, hai mắt tròn và đen láy, nụ cười tuyệt đẹp. Có một ngày tôi nghe hai y tá nói với nhau:
– Chừng nào họ chụp hình ruột cho Benson vậy Jennifer?
– Sáng mai.
Cô y tá tên Jennifer đáp. Người kia lại hỏi:
– Chụp làm gì? Benson bị gì mà phải chụp hình?
– Tôi không rõ, Melissa.
Cô Jennifer lại đáp.
Hai y sĩ giảng huấn cho lệnh chụp hình ruột Benson mà không giải thích gì cho chúng tôi biết. Ngày hôm sau, Benson trở lại từ phòng quang tuyến, mệt lã, xanh mét và nằm thiêm thiếp. Benson đã phải uống chất cản tuyến (cản quang) để chụp hình ruột. Đợi 2-3 ngày không thấy kết quả hình ruột của Benson về, tôi đến phòng quang tuyến hỏi thì được cho biết kết quả đã được gởi riêng cho hai y sĩ giảng huấn rồi. Tôi nói chuyện với cô y tá trưởng. Cô ta buồn bực phát biểu:
– Chúng tôi cũng có thắc mắc như bác sĩ vậy và đã tìm ra lý do rồi. Họ giữ nuôi Benson 6 tháng nay là có chủ ý.
Tôi hỏi:
– Chủ ý gì vậy cô?
– Họ thí nghiệm. Họ nuôi Benson để xem khúc ruột bị cắt của em có dài ra sau 6 tháng hay không.
Thấy cô y tá không vui, tôi nhỏ nhẹ:
– Mà sao cô biết được chuyện nầy?
– Chính bác sĩ B. trưởng nhóm bác sĩ thường trú tiết lộ. Họ muốn giữ kín chuyện nầy.
– Cô có biết kết quả của hình ruột Benson ra sao không?
– Họ nói khúc ruột còn lại của em không dài ra chút nào sau 6 tháng và họ quyết định ngưng cuộc thí nghiệm để tránh tốn kém.
Hai hôm sau khi Benson được chuyển trả lại bệnh viện Monroe nơi em ra đời thì chứng tiêu chảy trở nặng. Bệnh viện nhỏ Monroe bó tay. Benson mất liền sau đó. Tin buồn bay mau về lại bệnh viện chúng tôi. Nhiều y tá khóc rưng rức. Bà y tá M. gặp tôi, mếu máo:
– Họ giết con trai tôi rồi bác sĩ ơi. Tôi chưa kịp đi thăm con tôi thì con tôi đã không còn nữa. Sao họ có thể tàn nhẫn đến như vậy bác sĩ ? Họ chỉ cho con tôi sống có 6 tháng ngắn ngủi thôi. Chúa ơi, nó có tội tình gì đâu mà phải bị trừng phạt?
Tôi an ủi bà M. mà lòng tôi cũng mềm nhũn thương xót Benson. Cô y tá T. lại gần chúng tôi thì thầm:
– Xin chị M. bớt buồn. Tôi có cái nầy cho tặng chị.
Hai chúng tôi ngước nhìn cô y tá T. dò hỏi. Cô hạ giọng:
– Khi vừa nghe phong phanh họ sắp chuyển Benson của chúng mình về lại Monroe, tôi lén đem máy ảnh vào chụp hình em vì tôi nghĩ chúng mình sẽ không bao giờ được dịp gặp lại để nuôi nấng, săn sóc em nữa. Tôi nghiệp thằng bé quá.
Cô y tá T. tặng bà M. và tôi mỗi người một tấm ảnh của Benson đang ngồi cười thật tươi trong nôi và dặn:
– Chị và bác sĩ biết rõ luật ở đây rồi. Họ cấm chụp hình như vậy. Nhớ kín miêng hộ tôi.
Mấy hôm sau, tôi cố gắng thu xếp thì giờ duyệt lại hồ sơ bệnh lý của Benson. Tôi khám phá ra rằng đã có hơn 40 bác sĩ tham dự khám nghiệm và điều trị cho Benson, trong 6 tháng em được nuôi dưỡng ở bệnh viện nầy. Phòng tài chánh của bệnh viện cũng kín đáo cho tôi biết họ đã chi gần nửa triệu đô la cho Benson. Riêng tôi, tôi không nghĩ là họ đã chi cho Benson mà chi cho cuộc thí nghiệm trên một em bé bất hạnh của hai y sĩ giảng huấn của bệnh viện họ.
Mười sáu năm đã trôi qua, nhưng tôi vẫn còn ray rứt về sự tàn nhẫn của hai y sĩ giảng huấn thuộc khu SSĐB của trẻ sơ sinh. Tôi tự hỏi họ có nhìn ra được Benson là đứa trẻ bất hạnh, đáng thương hay không? Họ có thiếu gì cách để nuôi em lớn lên thêm, để em có đủ thì giờ vượt qua được bệnh tật như lời cầu nguyện trong bài thơ A Baby’s Prayer mà ai đó đã gắn trên nôi của em:
Grant me the time to grow in love
Rejoice that I am here…
Benson chỉ được sống vỏn vẹn có 6 tháng nhưng đã để lại bao nhiêu thương cảm trong lòng những người đã gần gũi, săn sóc em. Tôi biết suốt đời tôi, tôi sẽ không bao giờ quên em, Benson, một trẻ thơ bất hạnh.
Nguyễn Trác Hiếu
Orlando, đêm 14 tháng 11 năm 2000
*ET: từ phim The Extra-Terrestrial-1982 (Cậu bé Ngoài Hành Tinh), đạo diễn Spielberg – Chú thích BBT.
Số lần đọc: 3184
