Gia đình tôi lìa xa đồng quê yêu dấu. Tôi cũng phải từ giã ngôi trường làng mến yêu và đàn bò quen thuộc để đổi lấy những giấc ngủ bình an hơn trong căn nhà tạm, dù bị bao quanh bỡi nhiều xa lạ và rộn rịp. Tôi không còn được nhìn đàn chim bay về tổ mỗi hoàng hôn. Tôi không còn được nghe tiếng ễnh ương ồn ào sau những cơn mưa lớn. Đầu óc ngây thơ chúng tôi chưa một lần lóe lên ý niệm “yêu chế độ” và rất lờ mờ đến tình “yêu đất nước”, nhưng “yêu làng quê tôi” thì tôi chắc chắn đã thật đậm lòng. Tôi nhớ làng tôi lắm! Đêm đêm nằm ngủ dưới căn nhà tạm, tôi thường mơ: Ước gì không có người đặt mìn để tôi không phải thấy cảnh tang thương, để chúng tôi còn được hồn nhiên như những ngày tháng cũ, được ngắm trăng thanh tỏa ánh dịu dàng trong những đêm rằm và được đếm vạn sao lấp lánh dưới vòm trời cuối tháng. Tôi thật nhớ nhà xưa! Một mái tranh ấm áp khi Đông về và mát mẻ khi Hè đến. Bây giờ đã trở thành ngôi nhà hoang, vắng lặng. Hoa lựu đỏ trước sân chắc vẫn vô tri mở cánh dưới khung trời Hạ phủ nhiều mây trắng mang đầy màu tang tóc và những vô tâm có lẽ đang như cỏ dại, tự do mọc đầy làm chướng ngại lối hạnh phúc an vui.
Khu tản cư nằm ven Quốc Lộ 1, nơi có nhiều xe cộ kể cả những xe nhà binh có ngôi sao trắng của quân đội Mỹ, Đại Hàn. Tôi chưa hề học được một ngoại ngữ nào, nhưng theo chơi cùng trẻ đồng lứa nơi xóm mới, tôi đã thông thạo được một vài chữ tiếng Anh: “Hế-lô”, “Guốt-bai”, “Ô-kê” và “Ô-kê Xa-lem”. Trẻ con như tôi, mỗi lần vừa vẫy tay vừa nói “Hế-lô, Ô-Kê Xa-lem” là mỗi lần được lính Mỹ cho kẹo cao su và đồ hộp B1, B2,… Cũng vì lý do này, tôi cứ luôn thầm hiểu “Ô-kê Xa-lem” tiếng Việt Nam mình có nghĩa là “cho em kẹo hay bánh gì cũng được”, và từ đó tôi cứ luôn nói “Ô-kê Xa-lem” để được kẹo bánh, cho dù “Salem” là tên của một loại thuốc lá Mỹ.
Lửa đạn bắt đầu rực trời vùng Cao Nguyên và Bắc Bình Định thuộc An Lão, Tam Quan, Bồng Sơn, … Cùng cảnh ngộ với gia đình tôi, thật không ít. Làn sóng tản cư đến thành phố thật ào ạt. Dân làng đã phải gạt nước mắt lìa bỏ những gì gắn bó nhất để bảo tồn những gì quí giá hơn, đó là chút bình an, tự do và sự sống. Chiến tranh đã đẩy tôi xa đàn bò đến một nơi không ruộng đồng. Hè 1965, mùa Hè đầu tiên tôi không còn là mục tử, mùa phượng đỏ đầu tiên tôi xa đồng nội, xa gió mát nơi đồi non. Tôi không còn được tắm suối, lùi khoai hoặc bắt cá, bắt cua mà phải rong chơi theo kiểu mới, kiểu “OK Salem”. Tiếng Mỹ của tôi bắt đầu trôi chảy thêm vài từ mới, gồ ghề hơn, như “Gạt-tem” và “Bố-xiệt”. Ba tôi buồn biết rõ ràng rằng: “English OK Salem” của tôi càng sáng lạng bao nhiêu, tương lai tôi sẽ càng mịt mờ bấy nhiêu. Kết quả: tôi bị đưa đi xa quê thêm ba mươi hai cây số nữa, vào Qui Nhơn để tiếp tục cắp sách đến trường.
Tôi đến Qui Nhơn, thành phố nhiều đèn xe, khi tất cả các trường Trung Học đã khai giảng được ba tuần. Tôi bắt đầu chương trình trung học trễ tại trường La-San Bình Lợi nơi anh tôi đang theo học lớp Đệ Tam. Trường La-san có nhiều thông cao bốn phía. Một màu xanh bao phủ khắp ngôi trường, ấp ủ bên dưới những lớp học yên lặng và những hành lang dài, đôi khi hơi lành lạnh vì có Frère Phillip cầm chiếc roi dài có bao da như thanh kiếm, rảo bước tới lui. Mỗi sáng, tôi ngồi trên yên sau của chiếc xe đạp để anh tôi gù lưng đạp lên giốc Phan Đình Phùng từ đường Bạch Đằng, ngược chiều với giòng xe cộ của bùng binh công viên, ngang qua rạp hát Trưng Vương, theo Võ Tánh, rồi hì hục ngược gió biển trên đường Nguyễn Huệ, vòng qua “eo Nín Thở” để đến trường. Mỗi chiều, anh tôi đưa tôi ngược theo lối cũ, xuôi giòng xe cộ bùng binh công viên, đổ giốc Phan Đình Phùng để về nhà.
Số lần đọc: 13310

Tìm bạn cũ Đệ Thất 1 (1966)
Xin thành thật cảm ơn anh chị em nào biết được tin tức của bạn Huỳnh Văn Khánh và Ngô Anh Hoàng!
Bạn nên cho biết tên và số điện thoại hay email để tiện bề liên lạc.
Tụi tôi sẽ post dùm lên Diễn Đàn mục Tìm Bạn
Admin
Neu biet duoc tin tuc ve ban HVK va NAH, xin nho ban quan tri thu ve [email protected]
Xin thanh that cam on!