Trang NhàĐoản VănVõ Như VũMực Tím, Trường Mơ

Mực Tím, Trường Mơ

Tôi đeo lưng anh tôi đến trường La-San xa lắc được vài tháng. Học phí cao, đường xa, … tôi không rõ vì yếu tố nào, tôi lại thôi La-San, xa bạn mới quen Lê Văn Cảnh, để nhập học Bồ Đề vừa đúng lúc chuẩn bị cho kỳ thi Đệ Nhất Lục Cá Nguyệt. Đối với tôi, các trường trung học La-San, Bồ Đề, Cường Đễ và Nhân Thảo đều giống nhau. Tuy nhiên hai trường Trinh Vương và Nữ Trung Học lại có khác, vì lẽ những thằng nhóc như tôi, dù tài giỏi cỡ nào cũng không thể xin vào học được. Tôi vui vẻ dưới mái trường Bồ Đề trong một lớp học có nửa trai nửa gái, sát cổng chùa Long Khánh. Tôi có được những bạn thân như Trần Đình Khuê, Nguyễn Đại Tâm, Tô Bá Tùng, Võ Hòa, Thái Sinh Hòa, Nguyễn Hữu Đệ, Lê Thanh Tuyến … toàn là những bạn học chăm, giỏi. Gần nhiều đèn chắc chắn phải được sáng, đáp lại thịnh tình của bạn bè đã “chịu chơi chung với một thằng dốt” và vì không còn bò để chăn, tôi bất đắc dĩ trở nên lo lắng học hành dưới sự dìu dắt của cô An, cô Tuấn (dạy Pháp văn), thầy Á, thầy Minh, thầy Mi và thầy Dần (dạy toán).

Sau khi vui Tết Bính Ngọ 1966, lúc những cánh mai vàng còn đang rơi rụng và nhạc bản “Ly Rượu Mừng” còn đang vang khắp phố phường, anh tôi lôi tất cả bài vở của lớp Nhất giao tôi và còn ghi danh cho tôi theo học lớp Luyện Thi Đệ Thất. Ba và anh tôi đã ầm thầm đào sẵn một khúc sông nhỏ và quanh co, để giòng nước đời tôi theo đó mà xuôi chảy. Tôi ghét năm Ngọ, có lẽ tại vì là năm ngựa kéo xe nên tôi phải cùng lúc kéo hai xe bài vở của năm lớp Nhất và Đệ Thất. Tôi phải cắp sách đến trường vào ban ngày lẫn ban đêm; về nhà còn phải ngồi cùng bàn học, dưới ánh mắt nghiêm khắc của anh tôi để tụng những kinh “ré, tui á, in la, … rờ xui, tui é, in le (j’ai, tu as, il a, ….Je suis, tu es, il est)”, vẽ rồng rắn những hình học, đại số và nhai lại những bài toán đố, toán động tử của một năm qua. Lớp Luyện Thi Đệ Thất do thầy Dần giảng dạy, nằm trong dãy học mới của trường Bồ Đề, sát bên đường Tăng Bạt Hổ. Tâm trạng “bị đày” của tôi giảm đi nhiều khi thấy bạn Tô Bá Tùng ngay trong đêm đầu “khai lớp” luyện thi. Tôi không còn thấy lẻ loi vì đã có bạn cùng thuyền, cùng hội. Lúc Tùng chăm học, tôi cũng phải siêng năng theo. Khi “cúp cua”, cả hai cùng một ý. Một đêm, chúng tôi không vào lớp thầy Dần để ôn về “vận tốc tương đối của hai chiếc xe vận tải cùng chiều” mà lại vào rạp chiếu phim thường trực Trưng Vương để học về “truyện cổ tích hoạt họa Bạch Tuyết, bảy Chú Lùn”. Xong phim, hai đứa chúng tôi ngồi bệt xuống sàn gạch bông dưới hiên rạp hát, chép bài cũ vào trang giấy mới để nói dối với anh tôi và chị Mai của Tùng rằng: đây là bài học của đêm nay. Tuy nhiên, rìu tôi không thể múa qua mắt thợ. Tôi bị sưng cả hai lòng bàn tay. Bị trừng phạt nhưng tôi không hối hận vì nghĩ rằng: lỡ mai sau, khi tuổi thơ chúng tôi đã cất cánh xa bay, vị Hoàng Tử đẹp trai có trăm hôn ngàn hít cũng vẫn không làm sống lại được nàng Bạch Tuyết tuyệt trần.

Niên học Đệ Thất cũng đến lúc để chúng tôi chuyền tay nhau những cuốn lưu bút và ăn kẹo bánh liên hoan. Tôi man mác buồn khi nghe cô bạn cùng lớp tên Hương (tiệm Mỹ Lệ, đường Gia Long, gần ngả tư Phan Đình Phùng), thẹn thùng không dám lên bục gỗ gần bảng đen, hát thật hay cho chúng tôi nghe khúc: “rồi chiều nay Hè trở về đây. Phượng thắm ơi! Phượng thắm rơi đầy. Lại cách xa nhau chín mươi ngày, hay là một thế kỷ dài,….”. Thế kỷ dài! Tôi không dám nghĩ đến, vì rất có thể tôi sẽ không còn dịp gặp lại Nguyễn Đại Tâm có Ba là một quân nhân, thường xuyên thay đổi đơn vị và nhiều bạn bè khác vì hoàn cảnh không thể tiếp tục học hành. Tôi não nề thêm khi nghe tiếng ve Hè rên rỉ từ trên vài cây keo lớn bên lề đường Tăng Bạt Hổ. Từ đấy, tôi thôi gọi “ve vui” và đã bắt đầu cảm thấm được ý nghĩa của “ve sầu”.

   Số lần đọc: 13308

3 BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN

Vui lòng viết bình luận của bạn
Vui lòng điền tên của bạn ở đây

Bài Cùng Tác Giả