Chúng tôi thường tụ tập 155 Trần Quốc Toản để học hành, tán dóc và đờn la. Phòng của chúng tôi như một lớp học không bàn ghế, có bảng đen thật lớn, bột phấn trắng bay dính khắp mọi nơi. Một-năm-năm (155) Trần Quốc Toản là một nhà lầu ba tầng, rộng lớn như một chung cư nhỏ mà người thuê thuộc đủ thành phần, từ vũ nữ “ca-ve” đến nhân viên bộ Ngoại Giao, từ dân đen (cô Sáu nấu cơm tháng) đến chúng tôi, một nhóm đông cựu học sinh Cường Đễ, một lũ sinh viên ồn ào, thường thức thật khuya nhưng hiếm khi dậy sớm. Ẩn phá sóng radio khi tự nghiên cứu lắp ráp một máy phát thanh, mạnh vừa đủ cho những người trong “chung cư” chỉ nghe được tiếng rè rè kèm theo giọng Bình Định của Ẩn mỗi khi muốn nghe tin tức, tân cổ giao duyên, hay nhạc kịch do cô hàng xóm Kiều Phượng Loan diễn. Dù bị than phiền, nhưng ít thấy tội lỗi, vì chúng tôi đã lỡ mang danh “hạng nhất” trong tòa nhà không ma, không quỉ này. Nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò.
Chúng tôi đã sống cuộc sống không căn bản của những thằng sinh viên xa nhà. Lúc có tiền nhiều: cơm tiệm, thuốc lá con mèo, café nhiều cữ, ciné nhiều xuất và văn nghệ nhiều lần. Lúc có ít tiền: hút thuốc Basto, tự pha café, tự túc nấu cơm (mỗi chúng tôi có một bổn phận riêng: thằng biết nấu ăn, đi chợ chọn lựa thức ăn; đứa không biết nấu ăn, đi theo xách giỏ và rửa chén. Tôi không nấu ăn được, đúng hơn là nấu được nhưng không ai ăn được, nên bổn phận của tôi là thường ra sức xách giỏ theo sau Long và Ẩn mỗi lần đi chợ Bàn Cờ. Long mua rau, tôi xách rau; Ẩn mua cỏ, tôi xách cỏ. Có được nghệ tinh nấu ăn nên được thân vinh, tôi bất tài nên phải gánh thêm việc tôi ghét nhất: rửa chén. Bạn bè luôn than phiền tôi vì ít khi có sẵn chén đĩa sạch cho bữa cơm kế tiếp). Lúc cháy túi: ăn cơm tháng “ký sổ”, café “ký sổ”, …
Ký sổ, nợ nần. Nhất là vợ dại trong nhà. Thứ hai nhà dột, thứ ba nợ đòi. Tôi chưa có vợ, nên khỏi phải nếm mùi vợ dại, đang ở nhà thuê nên mặc kệ nhà dột, nhưng tôi đang thấm cái khổ: nợ đòi. Đã nhiều lần tôi xin gia đình “tăng viện” bằng cách viện cớ: cần quần áo mới, giày mới, sách mới, “course” mới… Nhưng cũng đã nhiều lần, Ba tôi thấy tôi vẫn những bộ đồ cũ và vẫn đôi dép nhựa cũ, tuy có sáng chói hơn trước vì những sợi giây kẽm chằn chịt bao quanh những chỗ bị đứt. Tôi đang tìm cách tự thanh toán “sổ đời” vài tháng trước khi từ giã Sài Gòn về Qui Nhơn ăn Tết.
Đối diện với cữa hông của một-năm-năm, bên kia con hẻm, là tư dinh của một Đại Tá Chánh Văn Phòng Phủ Thủ Tướng, cũng là mái ấm gia đình của Tiên, một nữ sinh Gia Long, thơ ngây ắp mộng. Tiên được nhiều anh sinh viên để ý vì mái tóc dài mượt, mũi cao thon, má hồng, môi mộng và đôi mắt to đen lóng lánh. Vũ, anh của Tiên, thường qua chơi với chúng tôi, nhờ tôi giải hộ một bài toán. Vũ đã hỏi trúng bài “tủ” nên tôi giúp em một cách nhẹ nhàng không một giọt mồ hôi đổ, thêm nữa, Vũ đã nhờ nhiều người kể cả những người học Khoa Học, nhưng không ai tìm được giải đáp. Dưới mắt mẹ Vũ, tôi là một sinh viên xuất sắc và là thầy dạy kèm lý tưởng cho con bà. Không phải đi tìm, tôi có được việc làm và lãnh được đồng lương đầu đời.
Tôi trở thành “thầy” của Vũ, học lớp 11, và em trai Vũ, lớp 8 nhưng không phải là của Tiên, lớp 10. Có thể vì tôi không là phái nữ, có lẽ vì Tiên thông minh, học giỏi nên đã không cần tôi “dạy dỗ”, và cũng có thể vì mẹ Tiên lo xa, không muốn tôi hoặc Tiên vương vào sầu thương mà phải chuốc lấy ưu phiền. Từ đó, cứ mỗi thứ ba và thứ năm hàng tuần, tôi bước sang bên kia con hẻm một-năm-năm để dạy kèm cho hai anh em trai của một gia đình gốc Huế, nghiêm nghị nhưng tình cảm, nề nếp nhưng vui tươi. Tôi “ngạo nghễ, ngang nhiên” ra vào “kín cổng cao tường” của một Chánh Văn Phòng Phủ Thủ Tướng dưới đôi mắt ước ao nhưng không ghen tức của một bạn thân, đã một lần đứng sân thượng này nhờ “nàng sỏi đá” đưa “nốt” tình qua sân thượng kia. “Nàng sỏi đá” suốt đời chỉ biết nằm phơi, đã không làm được sứ giả tình yêu, rơi trần truồng bên kia sân thượng một mình, bỏ lại chiếc áo “nốt tình” giữa đường, lảo đảo như lá vàng thu, rơi rụng ngay trước mặt mẹ Tiên đang đứng trước cổng nhà như đang vừa đợi chồng về, vừa đón gió hoàng hôn.
Số lần đọc: 16907

Đã hơn 30 năm rồi mà đọc ” Hoàng hôn ” sao vẫn quặn lòng ? gợi nhớ lại một giai đoạn tăm tối cho tôi : lang thang ngoài chợ trời kiếm sống , 2 đứa em trai ngồi sửa xe đạp ở góc Lê Văn Duyệt và Ngô Thời Nhiệm , thỉnh thoảng trong chuyến xe bus dừng lại nơi trạm đỗ cho khách lên xuống , con bạn của cả 2 chị em chỉ kịp trao đổi vài câu ngắn ngủi hay ánh mắt ngậm ngùi . May mắn hơn sau mỗi hoàng hôn tôi vẫn còn 1 chỗ đi về ,
Đình
Nhớ hồi đó cái quán cafe gần góc Công Lý & Lê Lợi chơi đi chơi lại cái symphony số 40 của Mozart
tằng tằng tằng, tằng tằng tằng, tằng tằng tằng, tắng …
Đọc bài này lần đầu trong Đặc San CĐ-NTH. Thấy nhớ vô cùng những tháng năm sau 75 ở Sài Gòn. Có Nguyễn Trí Mẫn làm lái củi ở Nguyễn Thương Hiền, chợ Vườn Chuối. Có Diệp Thái Thôn làm lái thuốc tây ở Lê Thánh Tôn. Có Mai Đức Thanh làm lái đồ xe đạp. Và còn nhiều bạn bè bà con thân thuộc nữa… làm đủ mọi thứ trò để rán sống sót qua ngày, ráng [i]được như bụi cỏ dại bên đường[/i], nhờ vào [i]vài giọt sương đêm[/i] để [i]xanh tươi bên lề đường khô cằn sỏi đá,[/i]
Eric Maria Remarque có lần than thở \”thế hệ chúng ta là một thế hệ mất mát\”…
H.
Chị Khang
xin hỏi nhỏ hồi đó chị làm [i]lái[/i] gì vậy
Chị Diễm,
thanks, lần sau nhớ để email lại
H.
E.M.R có “một thời để yêu, một thời để nhớ”còn chúng ta, nhớ về cái giai đoạn đó phải gọi là gì nhỉ!? “Một thời để mất, một thời khó quên ” chăng?
Tôi o nhớ R nói như thé nhưng có nhớ mang máng Hemingway có nói về ‘The lost generation”