Hoàng Hôn

Tôi như dân “du mục trong thành phố”, hết nhà này đến nhà khác, vỉa hè nọ sang vỉa hè kia, từ gác trọ của Tiếng qua gác trọ của Bình. Tôi thường ghé Tiếng để giặc bộ đồ duy nhất, mà mỗi lần giặc xong, tôi phải dùng quạt để được chóng khô.  Gác trọ Tiếng như một chiếc hộp chứa đầy khói của củi lửa vào mỗi bữa nấu ăn của người thuê nhà bên dưới. Khói lên cao, làm cho đàn gián mất ngủ ngày, bò bay tứ phía, và làm tôi đã đói bụng lại càng thấy đói bụng hơn. Đàn gián bự con có cánh dài che thân nên “ung dung” rời chỗ núp và biểu tình chằn chịt bên dưới mái ngói. Tôi chỉ có một bộ đồ còn đang chờ khô, không dám ngang nhiên ra đường nên phải nằm im chịu trận trong đám khói mịt mùng như “cảnh tiên”, nhưng khó thở. Nấu ăn, khói xông, gián bay. Mỗi khi gián bay là mỗi lần bụng tôi như cào xé. Tôi buồn và đói thật sự. Tôi không tin là tôi sinh bất phùng thời, vì năm tôi ra đời, lúc vừa dứt một cuộc chiến chinh, đình chiến, nước nhà đang yên vui phục sức. Có lẽ vì tôi đã một lần ăn thịt mèo tại căn gác này. Một lần “chơi” thịt mèo, chín đời khổ. Con mèo có chín kiếp đã đi kiếm ăn lầm chỗ, nhảy vào căn gác, bị Tiếng nhanh tay vặn cổ, ngay cả một tiếng “meo” cũng không kịp thốt trước khi từ giã cuộc đời, không biết là cuộc đời thứ mấy? Tiếng gói “thịt tươi” vào bao, mang đến nhà Thanh, người bạn gái, nhờ “rô-ti”. Thanh rất dễ thương và duyên dáng, sau lưng, tôi thường gọi là Thanh đen vì làn da bánh ít. Thanh được diễm phúc sống trong gia đình đầm ấm, đầy thương yêu nuông chìu, ngay cả việc phụ mẹ nấu bếp cũng khỏi phải nhúng tay, nay lại phải lén lút xào chiên thịt mèo cho Tiếng. Lần đầu tiên ăn thịt mèo được nấu bỡi bàn tay tập tĩnh, tôi vẫn thấy ngon vô tả. Ngon vì nghĩ đến món thịt đã cho tôi chất dinh dưỡng, mà chúng tôi đã không thể tìm được trong mấy tuần qua.

Hai ngày trước, đoàn Thông Tin Phường thình lình khám xét các sạp sách Công Lý. Dịp may không đến nhiều lần, tôi và Tâm không kịp che dấu như những lần trước, tất cả sách “đồi trụy”, loại sách có thể giúp Tâm và tôi sống qua ngày, đã bị tịch thu. Mất sách, mất đi nguồn sống tạm. Sách còn lại, chỉ toàn là thơ Tố Hữu. Tâm trao hết cho cô Hảo và anh Hoàng trước khi chúng tôi từ giã lề đường Công Lý để xếp lại thêm một chương đời, vui ít buồn nhiều.

Đời vui không mấy, niềm đau đã chín kiếp người. Chất ngất nỗi buồn cứ đến và đến, như cố làm tôi rơi và rơi, xuống một vực sâu không đáy. Nhìn sạp sách lần cuối, chỉ thấy tấm ván ép trống không, tôi và Tâm lê chân đến quán cơm lề đường Huỳnh Thúc Kháng mà lòng buồn vô hạn. Chúng tôi ngồi vào một bàn ăn thấp, có ống đũa, muổng và nước mắm pha sẵn. Tâm gọi một dĩa cơm rau xào. Cô hàng cơm chưa chịu đi, nhìn tôi như chờ đợi, tôi vội nói: “chỉ một dĩa thôi”. Cô hàng vừa bước ra sau để làm cơm vừa như suy nghĩ: “một anh đói, một anh no”. Nhưng cô hàng cơm nhanh chóng biết được rằng cô đã lầm khi thấy chúng tôi, cả hai thằng đói, với hai đôi đũa muổng đang cùng nhau chia xẻ một dĩa cơm rau. Có lẽ cô hàng nhìn thấu được bao tử và túi tiền chúng tôi, cô bước lại bàn hỏi: “hai anh có ngại ăn cơm cháy không?” Tôi và Tâm từ chối vì ngại, ngại không đủ tiền trả. Cô hàng hiểu ý, liền giải thích: “Cơm cháy, em không tính tiền”.

Chia nhau với Tâm thêm dĩa cơm cháy chang nước mắm ớt, làm tôi nhớ những tô “phở bò”, “hủ tiếu Nam Vang”, “bún bò Huế”, “mì Quảng”và “mì vịt tiềm” mà Tôi và Tam đã từng chia nhau trong những quán Quốc Doanh Qui Nhơn. Quán Quốc Doanh cũng có sẵn đủa muổng trên bàn, Tam thường mua một tô nước lèo, toàn là nước, và vài cái bánh tráng nướng, thổ sản Bình Định. Sau khi bẻ nhỏ bánh tráng bỏ vào đầy tô nước lèo, chúng tôi cũng đã từng chia nhau một tô phở, bún hoặc mì, tùy theo tưởng tượng. Cũng nhờ óc tưởng tượng này mà tôi mà Tam có được những món “cao lương mỹ vị” khác nhau mỗi ngày. Tôi và Tâm vừa ăn vừa thầm cảm ơn cô hàng cơm, trong lúc một buổi chiều nữa đang nhanh chóng tiễn đưa chân ngày. Chúng tôi lại sắp phải bước vào chu kỳ của “tìm chỗ ngủ”.

Tôi đến gác trọ Bình lúc mặt trời đã lặn khá lâu. Nhà đông người, cả người thuê lẫn chủ nhà, nhưng yên lặng như tờ và gần như tối om, chỉ có vài phòng của các sinh viên có ánh đèn bàn mờ mờ để học bài. Mọi người như đang cố tìm giấc ngủ để khỏi phải ưu tư cuộc sống và như đang theo lời căn dặn của chủ nhà: tiết kiệm điện trong giai đoạn đắc đỏ khó khăn. Tôi bước lên gác, sợ chủ nhà hay biết, tôi rón rén nhưng không được chiếc cầu thang gỗ cũ kỹ ọp ẹp đồng tình, nó đổ những giọt tiếng động nặng nề lên mặt hồ đêm đen đang phẳng lặng, làm tôi lo lắng. Bình mặt gặp tôi liền hỏi: “mày ăn gì chưa, Đình?” Không đợi tôi trả lời, Bình lôi lò điện để chuẩn bị nấu cơm. Tôi gián tiếp trả lời Bình bằng cách giúp Bình lấy gạo đổ vào xoong. Những hạt gạo “long lanh”, như kim cương đối với tôi, chạm đáy xoong nhôm gây nên tiếng động khác biệt, không giống một tiếng động nào, mà bất cứ ai nghe cũng nhận biết được. Bình nhanh chóng cản tôi và chia xẻ kinh nghiệm: “mày cho nước vào xoong trước, rồi đổ gạo vào sau”. Sợ chủ nhà biết chúng tôi đang phung phí điện, Bình và tôi âm thầm nấu nướng và ăn uống gần như trong bóng tối.

Không còn được bán sách. Hôm qua chúng tôi bắt đầu sinh sống bằng nghề mới, bán cà-rem, ít vốn nhiều lời. Vốn liếng chúng tôi là thẻ sinh viên. Thẻ sinh viên của tôi, chẳng có giá trị gì cả. Tôi biết nó cũng chẳng giá trị gì đối với ông chủ hảng cà-rem, nhưng vì thương tình nên đã cho chúng tôi dùng nó để thế chân cho một thùng ca-rem đầy, kiếm sống. Tôi không phải ngồi để mong chờ như khi bán sách, mong khách đến rồi chờ khách mua. Bán cà rem ngày đầu, chúng tôi chỉ cần làm việc liên tục thời gian ngắn là được một ngày dài sống đủ. Một phần ba khách hàng của chúng tôi là anh chị em bán sách còn được may mắn, có nhiều sách và được dấu nhiều nơi nên vẫn còn tiếp tục “hành nghề”. Khách hàng còn lại là những người mua bán quần áo cũ chợ trời đường Huỳnh Thúc Kháng.

   Số lần đọc: 16907

4 BÌNH LUẬN

  1. Đã hơn 30 năm rồi mà đọc ” Hoàng hôn ” sao vẫn quặn lòng ? gợi nhớ lại một giai đoạn tăm tối cho tôi : lang thang ngoài chợ trời kiếm sống , 2 đứa em trai ngồi sửa xe đạp ở góc Lê Văn Duyệt và Ngô Thời Nhiệm , thỉnh thoảng trong chuyến xe bus dừng lại nơi trạm đỗ cho khách lên xuống , con bạn của cả 2 chị em chỉ kịp trao đổi vài câu ngắn ngủi hay ánh mắt ngậm ngùi . May mắn hơn sau mỗi hoàng hôn tôi vẫn còn 1 chỗ đi về ,

  2. Đình

    Nhớ hồi đó cái quán cafe gần góc Công Lý & Lê Lợi chơi đi chơi lại cái symphony số 40 của Mozart
    tằng tằng tằng, tằng tằng tằng, tằng tằng tằng, tắng …

    Đọc bài này lần đầu trong Đặc San CĐ-NTH. Thấy nhớ vô cùng những tháng năm sau 75 ở Sài Gòn. Có Nguyễn Trí Mẫn làm lái củi ở Nguyễn Thương Hiền, chợ Vườn Chuối. Có Diệp Thái Thôn làm lái thuốc tây ở Lê Thánh Tôn. Có Mai Đức Thanh làm lái đồ xe đạp. Và còn nhiều bạn bè bà con thân thuộc nữa… làm đủ mọi thứ trò để rán sống sót qua ngày, ráng [i]được như bụi cỏ dại bên đường[/i], nhờ vào [i]vài giọt sương đêm[/i] để [i]xanh tươi bên lề đường khô cằn sỏi đá,[/i]

    Eric Maria Remarque có lần than thở \”thế hệ chúng ta là một thế hệ mất mát\”…

    H.

  3. E.M.R có “một thời để yêu, một thời để nhớ”còn chúng ta, nhớ về cái giai đoạn đó phải gọi là gì nhỉ!? “Một thời để mất, một thời khó quên ” chăng?
    Tôi o nhớ R nói như thé nhưng có nhớ mang máng Hemingway có nói về ‘The lost generation”

BÌNH LUẬN

Vui lòng viết bình luận của bạn
Vui lòng điền tên của bạn ở đây

Bài Cùng Tác Giả