Hôm nay tôi đang chuẩn bị cho ngày bán cà rem thứ nhì. Anh xích lô đạp đã đi kiếm ăn tự lúc nào, được thế vào bằng những khách đến rồi đi. Tia nắng mặt trời vùng nhiệt đới đã nhanh chóng làm nhiệt độ Sài Gòn lên cao. Vết tích của một đêm sương đã biến mất, nhường lại cho oi bức của một ngày nắng. Tôi uể oải bước lại gần chiếc xe đạp cũ mượn từ anh Phiên, sau khi nói với Dì Tư: “Café thuốc lá sáng nay, nhờ Dì Tư cho vào đồng hồ của Bình”. Dưới mắt Dì Tư: Hùng, Tiếng, Bình và tôi như là anh em một nhà, nên đã không ngần ngại ghi thêm món nợ mới, mà Bình sẽ là người trách nhiệm. Nước nhà tôi giờ đây chỉ còn những èo uột của nông thổ sản và sự hiếm hoi của dụng phẩm hàng ngày. Các ngành sản xuất gần như tê liệt vì máy móc thiếu phụ tùng, động cơ thiếu nhiên liệu. Xuất nhập cảng hầu như cũng bị bế tắc. Ngược lại, chức tước quyền uy lại sinh ra đầy dẫy. Mức tiêu thụ của vô số “vua chúa” lạm dụng quyền thế, lên đến cao độ. Cung ít, cầu nhiều. Cung: chỉ miền Nam; cầu: từ Nam ra Bắc. Vì lý do này mà radio, đồng hồ đeo tay có giá trị thị trường rất cao. Đồng hồ của Bình đã nằm trong túi Dì Tư, tôi không biết nó bình thản vô tư quay vòng đã mấy trăm lần, nhưng tôi biết chắc nó đã cho tôi nhiều ly café để tỉnh ngủ, những tô mì để lót dạ và biết bao xị rượu để giải sầu.
Tôi đến hảng cà-rem bên kia đường Phan Thanh Giản, đèo bình đầy cà-rem đến Công Lý. Trong khoảnh khắc tôi bán được 1/3 cho anh chị em bán sách. Còn lại 2/3, tôi đi qua đi lại đường Huỳnh Thúc Kháng nhiều lần nhưng không được người mua, lại chỉ bị nghe những lời phê bình: “cà-rem ăn hôm qua rồi, dở quá!”. Mặt trời bắt đầu xuống thấp. Xế lại đến, chiều sẽ tới. Nhìn vào thùng, tôi thấy những cây cà-rem nhiều màu tươi thắm nằm riêng rẽ trước đây, như đang che chở bảo bọc nhau để chống chọi với nhiệt độ bên ngoài, bắt đầu hòa nhập lại nhau thành một màu tê tái. Tôi và Tâm vội vã, không kịp mút, nhai hết thùng cà-rem để thay thế cho bữa ăn trưa và tối, trước khi biến thành một thùng nước đá đường. Cả tiền lời lẫn vốn của thùng cà-rem đã nằm trong bụng chúng tôi, tôi không còn khả năng trở lại hảng cà-rem để “đầu tư” cho ngày kế tiếp.
Ngoài quán Dì Tư, tôi chưa biết về đâu chiều nay. Thế gian này trở thành quá chật hẹp, lang bang mãi tôi cũng không tìm được một chỗ đứng. Nỗi chán chường lên đến cùng cực. Tôi rã rời mệt mỏi. Tôi như chim xanh đã rục cánh, như hươu non bị run chân, kiệt lực, chỉ còn chút hơi sức để lờ mờ nhìn thấy bầy hổ báo vây quanh mà không còn cảm thấy đau đớn khi thân xác tan tành.
Giờ này quán Dì Tư nhộn nhịp hơn, ồn ào hơn. Tôi úp mặt vào hai lòng hai bàn tay, như để khỏi bị chi phối bỡi sinh hoạt chung quanh, và như để được yên lặng một mình. Tôi xúc động nhiều khi nghĩ đến tình cảm vô bờ và sự thông cảm vô biên mà bạn bè đã cho tôi, nhất là Bình. Bạn bè tôi đã mở cữa nhà, cữa gác trọ và nhất là mở rộng cánh cửa lòng thân để đón tiếp tôi, một ăn mày lây lấc luôn chìa tay xin chốn ngủ sau mỗi chiều tà, có người gọi là hoàng hôn. Tôi có cảm tưởng như bạn bè âm thầm chia phiên nhau, để cho tôi được một chỗ ngủ ấm, có mái bên trên, không như những đêm kê xách tay làm gối, lấy lề đất làm giường, tháp tùng với anh em bến xe đường Petrus Ký chờ sáng. Tôi ghét chiều tà, vì nó sẽ đem đến bóng đêm và trút lên tôi những lo lắng ngổn ngang: lo chốn ngủ, lo sợ xét nhà… Hàn Mặc Tử đau đớn nhiều khi đêm xuống, nhưng chỉ những đêm có trăng. Tôi luôn buồn khổ khi đêm đến, cho dù là đêm có trăng sáng vườn chè hoặc tối đen như đêm ba mươi anh đến thăm em. Hàn Mặc Tử rao bán trăng. Tôi cầu mong đêm đen đừng bao giờ đến.
Số lần đọc: 16907

Đã hơn 30 năm rồi mà đọc ” Hoàng hôn ” sao vẫn quặn lòng ? gợi nhớ lại một giai đoạn tăm tối cho tôi : lang thang ngoài chợ trời kiếm sống , 2 đứa em trai ngồi sửa xe đạp ở góc Lê Văn Duyệt và Ngô Thời Nhiệm , thỉnh thoảng trong chuyến xe bus dừng lại nơi trạm đỗ cho khách lên xuống , con bạn của cả 2 chị em chỉ kịp trao đổi vài câu ngắn ngủi hay ánh mắt ngậm ngùi . May mắn hơn sau mỗi hoàng hôn tôi vẫn còn 1 chỗ đi về ,
Đình
Nhớ hồi đó cái quán cafe gần góc Công Lý & Lê Lợi chơi đi chơi lại cái symphony số 40 của Mozart
tằng tằng tằng, tằng tằng tằng, tằng tằng tằng, tắng …
Đọc bài này lần đầu trong Đặc San CĐ-NTH. Thấy nhớ vô cùng những tháng năm sau 75 ở Sài Gòn. Có Nguyễn Trí Mẫn làm lái củi ở Nguyễn Thương Hiền, chợ Vườn Chuối. Có Diệp Thái Thôn làm lái thuốc tây ở Lê Thánh Tôn. Có Mai Đức Thanh làm lái đồ xe đạp. Và còn nhiều bạn bè bà con thân thuộc nữa… làm đủ mọi thứ trò để rán sống sót qua ngày, ráng [i]được như bụi cỏ dại bên đường[/i], nhờ vào [i]vài giọt sương đêm[/i] để [i]xanh tươi bên lề đường khô cằn sỏi đá,[/i]
Eric Maria Remarque có lần than thở \”thế hệ chúng ta là một thế hệ mất mát\”…
H.
Chị Khang
xin hỏi nhỏ hồi đó chị làm [i]lái[/i] gì vậy
Chị Diễm,
thanks, lần sau nhớ để email lại
H.
E.M.R có “một thời để yêu, một thời để nhớ”còn chúng ta, nhớ về cái giai đoạn đó phải gọi là gì nhỉ!? “Một thời để mất, một thời khó quên ” chăng?
Tôi o nhớ R nói như thé nhưng có nhớ mang máng Hemingway có nói về ‘The lost generation”