Hoàng Hôn

Con đường Phan Thanh Giản, đã nhiều lần tôi cùng bạn ngồi trên xe đò trên đường về Qui Nhơn trong những cuối mùa mưa rơi, Xuân đến và những đầu mùa phượng nở, Hạ sang. Nhìn những rộn rịp đầy sức sống hai bên đường, từ Ngả Bảy rạp cải lương Thanh Vân dập dìu, qua trường Gia Long nhiều cây dài bóng mát, đến Hàng Xanh với những sân trượt “ba-te”, mà lòng tôi vui như Tết đến, thảnh thơi như Hè về. Bây giờ đìu hiu, trơ trọi. Đã đổi khác thật nhiều. Phan Thanh Giản không còn là Phan Thanh Giản nữa, mang tên mới như để phù hợp với bộ mặt mới. Tôi như thấy khói bay mịt mùng, máu rơi tơi tả khi nghe đến tên Điện Biên Phủ. Nếu không có chiến tranh, có lẽ thung lũng Điện Biên Phủ này chỉ có những người địa phương mới biết đến.

Một hôm như mọi hôm, tôi bị đời đuổi. Tôi lang thang từ đầu đường đến cuối đường Phan Thanh Giản để tìm nơi qua đêm. Bạn bè trên “tuyến đường quen thuộc” của tôi, hoặc đã đi “công tác thủy lợi” hoặc đã về quê đoàn tụ cùng gia đình. Tôi cũng có gia đình nhưng đã ly tán. Tôi cũng có quê, nơi chôn nhau cắt rún của tôi và Ngọc, nơi có tiếng hát ca dao ru tôi vào đời và ấp ủ biết bao nguồn yêu thương nhưng tôi không về được. Bóng tre rung bên mấy hàng cau, đã lâu tôi chưa được nhìn lại. Từng chiều, từng chiều cứ qua đi, qua đi qua đi, tôi đã vĩnh viễn bỏ lại sau lưng những luyến ái của cuộc đời, kể cả những lúc vào lớp học còn ngẩn ngơ.

Có dịp về lại quê xưa phố cũ, tôi không tình cờ mà sẽ cố ý đi lại đường xưa, để được thấy cây xưacòn gầy, phơi nghiêng ráng đỏ? Tôi sẽ qua bến nước xưa để được nhìn lá hoa về chiều có còn mềm đưa trong nắng lưa thưa? Tôi nhất định sẽ rảo bước trên con đường mộng hoa xưa, con đường của thời măng tre muôn thuở đầy mơ, luôn luôn đẹp đẽ dịu êm, lúc nắng thì có nắng vàng tươi đẹp đẽ, và khi mưa cũng chỉ có mưa êm, lại còn được tô điểm bỡi những chiếc dù che màu tím. Con đường nào của thành phố Qui nhơn, thành phố tôi yêu dấu và đã xa, cũng đỏ màu phượng nở mỗi Hè về và in đầy dấu kỷ niệm. Nguyễn Huệ ven theo biển về hướng Nam giơ tay chào Nữ Trung Học, băng qua Lê Lợi (nơi có nhà Hiếu, Tùng, Thành và cuối đường là nhà của Chiến), ngoảnh mặt nhìn dọc lên Võ Tánh có Tăng Bạt Hổ chạy song song để nối liền Bồ Đề và Cường Đễ, liếc trái nhà Ngọc nhìn phải Bệnh Viện Qui Nhơn, rồi sau đó lại quẹo quọ quanh co như đang chùng chân vì mùi nồng xông lên từ eo “Nín Thở”. Nguyễn Huệ gặp gỡ Nguyễn Thái Học nhờ Ngô Mây, ngay trước La San Bình Lợi, để có lần đưa tôi lên “dốc mơ” qua mộ Hàn Mặc Tử, hướng về Quy Hòa trên con đường đất có nhiều hoa cỏ dại đong đưa theo gió, có núi cao hùng vĩ nhìn ra biển rộng bao la.

Sau kết quả kỳ thi Tú Tài 1, Gia Long Rực Rỡ cùng Võ Tánh Luyến Lưu hợp nhau nơi bến xe cũ, dẫn một đoàn xe gắn máy chúng tôi đến Ngả Ba Phú Tài, theo Quốc Lộ 1, vượt đèo Cù Mông chót vót, qua làng Xuân Cảnh với rừng dừa cao luôn lung lay theo gió biển, để đến Sông Cầu, nhà Mai, bà con Dự. Sông Cầu, thành phố đi dăm phút trở về chốn cũ, thật êm đềm và thơ mộng, có mây trắng tỏa lưng trời khi hoàng hôn đến, có gió biển dịu mát khi đêm về. Đêm hôm ấy chúng tôi được người anh họ Dự đưa ra chợ Sông Cầu để ăn sò, ốc biển. Chợ Sông Cầu ban đêm, không ánh đèn điện ô nhiễm thiên nhiên. Chỉ có ánh sáng của trăng vàng, của những ngọn đèn dầu và của những lò than lửa hồng đỏ, nhưng đủ rọi sáng rõ được cái thanh đạm, ềm đềm và trong sáng của một chợ đêm giản dị. Đêm đến, tôi và Tam ngủ chung giường, Tam than lạnh vì gần cữa sổ, nhưng tôi thấy ấm lòng vì lãng mạn tưởng tượng rằng: chính giường này đã ru Mai vào mộng đẹp đêm qua. Khúc Quốc Lộ 1 xuyên qua Sông Cầu là đường phố chính, có nhiều cây cao xanh ngát. Những cành cây rậm lá hai bên đường vươn dài nhập lại nhau trên cao, làm thành một mái che thiên tạo. Ánh trăng thanh lòn qua kẽ lá, hiện lên mặt lề đường những đóm sáng đủ hình dáng, tung tăng di động mỗi lần có gió thổi qua. Chúng tôi đi dạo trên con đường của phố nhỏ nên thơ, dẫm lên những đóm sáng lung linh của trăng vàng mà lòng lâng lâng vui vẻ như đang nhẹ bước trên sàn nhảy của một vũ trường.

Thật là khác hẳn với con đường tôi đang trải bóng mờ dài, dưới ánh đèn đường leo lét và đám mây đen xám trên cao đang làm hoen ố bầu trời. Tôi như đang lãng du đêm dài cùng khói mây. Tôi lủi thủi, cúi đầu lê bước từ Ngả Bảy đến nhà Khánh, tận Ngả Tư Hàng Xanh. Cúi đầu bước đi, thường để diễn tả phong cách của người thiếu tự tin, mất ý chí và dáng dấp của kẻ khốn cùng, đi tìm tiền lẻ rơi rớt bên đường. Cả phong cách và dáng dấp này đều có đủ trong tôi. Tự tin và ý chí tôi, được nung nấu trong những năm thơ ấu, đã bị gió thời làm tan biến, như đám mây đen kia suốt ngày cố tụ tập, bị gió đẩy đưa, bị nhiệt độ làm tan biến để phải trở thành những giọt nước hỗn loạn rớt rơi. Tôi khốn cùng, đã thực sự vừa đi vừa nhìn kỹ mặt đường, mong nhặt được món tiền nhỏ của một ai đánh rớt, như một lần trước đây, đã tình cờ lượm được một số tiền vừa đủ cho một bữa ăn tối. Tuy đường Phan Thanh Giản như được thâu ngắn lại vì tôi mãi mê “tìm tiền lẻ”, nhưng cũng không đủ ngắn để làm tôi thoát khỏi cơn mưa lớn.

Khánh mở cữa đón tôi trong bộ áo quần đẩm nước. Tôi không được may mắn như đêm trước, nhà Long đang tổ chức đầy tháng cho cháu Dương. Khách không mời, tình cờ có tôi. Tôi dự đầy tháng con đầu lòng của bạn thân tôi, không quà không cáp, hình như cũng chẳng một lời chúc tụng, chỉ biết quây quần cùng gia đình dưới nền đất ăn cà-ri gà, nước nhiều hơn thịt, chang ướt những sợi “mì vàng nhà nước” đã được phơi khô trước hiên thềm ngày qua. Đang là sinh viên Hàng Hải Phú Thọ, ban Thuyền Trưởng, chỉ cần hai mùa phượng đỏ nữa là Long ra khơi để biết mặt trùng dương. Long cũng bị gió thời thổi ngược, làm vụt bay đi mộng ngày mainiềm tin mới nên chẳng bao giờ thấy được lòng phơi phới giữa đại dương mênh mông. Long buộc phải bỏ ngành Hàng Hải, dừng bước viễn du, lập gia đình ở tuổi đúng đôi mươi. Ngủ nhà Long, tôi không sợ bị xét hộ khẩu vì bố vợ làm Tổ Trưởng. Nhà Long nhỏ, có hai quả tim vàng, phòng ngủ rộng bằng chiếc giường đôi, có màn vải không ngăn chận được tiếng động che quanh làm tường. Tôi nằm trên ghế dựa, cách “phòng” không xa. Long chưa muốn ngủ, nhưng phải nằm yên để rồi ngủ say. Tôi muốn ngủ, nhưng ngại ngùng nên thao thức.

   Số lần đọc: 16872

4 BÌNH LUẬN

  1. Đã hơn 30 năm rồi mà đọc ” Hoàng hôn ” sao vẫn quặn lòng ? gợi nhớ lại một giai đoạn tăm tối cho tôi : lang thang ngoài chợ trời kiếm sống , 2 đứa em trai ngồi sửa xe đạp ở góc Lê Văn Duyệt và Ngô Thời Nhiệm , thỉnh thoảng trong chuyến xe bus dừng lại nơi trạm đỗ cho khách lên xuống , con bạn của cả 2 chị em chỉ kịp trao đổi vài câu ngắn ngủi hay ánh mắt ngậm ngùi . May mắn hơn sau mỗi hoàng hôn tôi vẫn còn 1 chỗ đi về ,

  2. Đình

    Nhớ hồi đó cái quán cafe gần góc Công Lý & Lê Lợi chơi đi chơi lại cái symphony số 40 của Mozart
    tằng tằng tằng, tằng tằng tằng, tằng tằng tằng, tắng …

    Đọc bài này lần đầu trong Đặc San CĐ-NTH. Thấy nhớ vô cùng những tháng năm sau 75 ở Sài Gòn. Có Nguyễn Trí Mẫn làm lái củi ở Nguyễn Thương Hiền, chợ Vườn Chuối. Có Diệp Thái Thôn làm lái thuốc tây ở Lê Thánh Tôn. Có Mai Đức Thanh làm lái đồ xe đạp. Và còn nhiều bạn bè bà con thân thuộc nữa… làm đủ mọi thứ trò để rán sống sót qua ngày, ráng [i]được như bụi cỏ dại bên đường[/i], nhờ vào [i]vài giọt sương đêm[/i] để [i]xanh tươi bên lề đường khô cằn sỏi đá,[/i]

    Eric Maria Remarque có lần than thở \”thế hệ chúng ta là một thế hệ mất mát\”…

    H.

  3. E.M.R có “một thời để yêu, một thời để nhớ”còn chúng ta, nhớ về cái giai đoạn đó phải gọi là gì nhỉ!? “Một thời để mất, một thời khó quên ” chăng?
    Tôi o nhớ R nói như thé nhưng có nhớ mang máng Hemingway có nói về ‘The lost generation”

BÌNH LUẬN

Vui lòng viết bình luận của bạn
Vui lòng điền tên của bạn ở đây

Bài Cùng Tác Giả