Hoàng Hôn

Tôi tung cánh chim tìm về tổ “phá” của Long và Ẩn sau khi rời cư xá Dòng Cứu Thế Kỳ Đồng đường Yên Đỗ, do Linh Mục Khuất Duy Linh (cùng họ với Khuất Duy Trác Áo Lụa Hà Đông) làm viện trưởng, nơi mà tôi đã qua bao giai đoạn mới xin vào được. Tôi phải qua một kỳ thi viết, một kỳ phỏng vấn bằng tiếng Pháp với một cô Đầm đen, một kỳ trắc nghiệm về tâm lý và hai thư giới thiệu từ Linh Mục, Frère của trường Thánh Giuse Bình Định (tôi được nhận, chắc chắn là nhờ hai bức thư giới thiệu này). Về hướng Tây của một-năm-năm, bên kia đường Trần Quốc Toản là trường Quốc Gia Hành Chánh, có tượng của Giáo Sư Nguyễn Văn Bông trong sân trường rộng lớn, nơi đã từng là bãi đáp trực thăng của các anh phi công, rước gia đình bay ra hạm đội trong những ngày cuối tháng Tư. Sau Quốc Gia Hành Chánh là những trại gia binh thấp lè tè. Xa hơn nữa là phi trường Tân Sơn Nhất, nơi mà tôi đã chứng kiến các máy bay trực thăng lên xuống không ngừng, cố gắng rước những người Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam, mà mỗi chiếc trực thăng nặng nề chậm chạm bay lên đều bị những làn đạn bắn theo từ dưới đất. Tôi não nề nhìn những con chim khổng lồ mệt mỏi, đang cố vượt thoát tường tên đạn của đám thợ săn hiếu chiến để được bay về tổ ấm an toàn. Không lầu cao che kín bầu trời, từ sân thượng của một-năm-năm, tôi có thể nhìn xa, thật xa, đến tận cuối chân trời Tây. Đây là nơi duy nhất, giữa phố Sài gòn, tôi có thể thả hồn theo hoàng hôn, nhìn vầng thái dương dần xuống thấp, rồi mất hút, sau khi để lại cho thế gian những tia nắng hồng vàng cuối cùng của những ngày bình an mơ mộng, mà miếng ăn chốn ở không bao giờ là vấn đề để suy nghĩ.

“Tiệm sách” tôi, lưa thưa vài cuốn tự điễn cũ, sách chính trị, thơ Tố Hữu được chưng bày bên trên để che dấu những cuốn sách “đồi trụy”, như sẽ không bao giờ được tái bản của Hoàng Hải Thủy, Nhất Linh, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Leo Tolstoy, Hermann Hesse, Aleksandr Solzhenitsyn,… Nhìn sạp sách, lòng tôi chua xót cho tác giả. Vài câu, tôi viết đọc không xuôi, vậy mà bao nhiêu chữ nghĩa ý tưởng của giáo sư Nguyễn Mộng Giác bị trao đổi với giá rẻ như bèo. Chỉ vài âm thôi, tôi ghép đọc vô nghĩa, vậy mà bao nhiêu ý thơ âm hưởng của thi sĩ Bùi Giáng lại bị bán đi với giá thật thấp, như cho không. Tôi xót xa nhưng Bùi Giáng thì ngược lại.

Có một lần, Bùi Giáng với áo quần luộm thuộm, đầu tóc bòm xòm, râu ria tứ phía, trông rất “bụi”, bụi bặm hơn cả Sài gòn giữa trưa hè oi ả. Ông đến lục lội sạp sách tôi, lôi lên những cuốn sách của chính ông viết và nói “đem đốt hết đi, sách của thằng ni viết dở lắm, chẳng ai thèm mua đâu”. Bùi Giáng bấy giờ như đang ngược thời gian để trở về một “cuộc đời hài nhi”. Đi cùng với ông, một giỏ gà lóc nhóc và một giai nhân mỹ miều. Cô gái tuổi đôi mươi, dẫn Bùi Giáng ra sau “tiệm sách” tôi, bước vào quán café mua cho ông một chai bia. Tay chân luộm thuộm, Bùi Giáng rót bia, tràn ly, bia chảy xuống mặt bàn, ông nhanh chóng le lưỡi liếm sạch như lo sợ những giọt bia sẽ làm loang lổ sàn nhà. Cô gái có chuyện phải đi, để lại ông một đồng cho chai bia thứ hai trong khi chờ đợi. Một đồng tiền mới có giá trị bằng mấy trăm đồng tiền cũ. Thời bấy giờ, đổi tiền là cách duy nhất để làm cho đồng tiền Việt Nam tăng thêm giá trị, nhưng chỉ là hình thức. Với võn vẹn tờ giấy một đồng trên tay, Bùi Giáng có vẻ thất vọng đã than thở: “một đồng của mi để lại, chỉ mua đủ một con chồn chứ không mua nổi được … của ai cả”. Bấy giờ tôi mới chứng kiến người yêu thương Kim Cương, ông già gàn Bàn Dúi, Bùi Bê Bối nói bậy như nhiều người đã đồn đãi, khác hẳn với vài câu thơ tôi đã tình cờ đọc được từ ông, trong bài thơ tặng quán phở Huyền Trân:

“Hai cô bán phở dịu dàng.
Đừng nên nói bậy hai nàng buồn ta…”.

Phải chăng đây không phải là quán phở với “hai nàng”, mà chỉ là một quán café với mỗi mình Hiền, một cô hàng café bé bé xinh xinh? Hiền luôn có nụ cười trên đôi môi như thắm đóa hoa đào, Hiền như hồn xuân phơi phới. Nên dù chỉ có mình Hiền, quán café vẫn thường đông khách do những anh nho nhỏ thường hay đến ngồi cười với cô. Đối với tôi, Hiền dễ thương vì đã dễ chịu cho tôi “ký sổ” café, thuốc lá. Có thể tôi đang phủ nhận lòng tốt của Hiền khi nghĩ rằng: Hiền cho tôi thiếu nợ vì chồng sách, vốn liếng, tài sản của chúng tôi nằm trong quán của cô ta sau mỗi chiều tà “tan sở”.

   Số lần đọc: 16872

4 BÌNH LUẬN

  1. Đã hơn 30 năm rồi mà đọc ” Hoàng hôn ” sao vẫn quặn lòng ? gợi nhớ lại một giai đoạn tăm tối cho tôi : lang thang ngoài chợ trời kiếm sống , 2 đứa em trai ngồi sửa xe đạp ở góc Lê Văn Duyệt và Ngô Thời Nhiệm , thỉnh thoảng trong chuyến xe bus dừng lại nơi trạm đỗ cho khách lên xuống , con bạn của cả 2 chị em chỉ kịp trao đổi vài câu ngắn ngủi hay ánh mắt ngậm ngùi . May mắn hơn sau mỗi hoàng hôn tôi vẫn còn 1 chỗ đi về ,

  2. Đình

    Nhớ hồi đó cái quán cafe gần góc Công Lý & Lê Lợi chơi đi chơi lại cái symphony số 40 của Mozart
    tằng tằng tằng, tằng tằng tằng, tằng tằng tằng, tắng …

    Đọc bài này lần đầu trong Đặc San CĐ-NTH. Thấy nhớ vô cùng những tháng năm sau 75 ở Sài Gòn. Có Nguyễn Trí Mẫn làm lái củi ở Nguyễn Thương Hiền, chợ Vườn Chuối. Có Diệp Thái Thôn làm lái thuốc tây ở Lê Thánh Tôn. Có Mai Đức Thanh làm lái đồ xe đạp. Và còn nhiều bạn bè bà con thân thuộc nữa… làm đủ mọi thứ trò để rán sống sót qua ngày, ráng [i]được như bụi cỏ dại bên đường[/i], nhờ vào [i]vài giọt sương đêm[/i] để [i]xanh tươi bên lề đường khô cằn sỏi đá,[/i]

    Eric Maria Remarque có lần than thở \”thế hệ chúng ta là một thế hệ mất mát\”…

    H.

  3. E.M.R có “một thời để yêu, một thời để nhớ”còn chúng ta, nhớ về cái giai đoạn đó phải gọi là gì nhỉ!? “Một thời để mất, một thời khó quên ” chăng?
    Tôi o nhớ R nói như thé nhưng có nhớ mang máng Hemingway có nói về ‘The lost generation”

BÌNH LUẬN

Vui lòng viết bình luận của bạn
Vui lòng điền tên của bạn ở đây

Bài Cùng Tác Giả